Nghiên Cứu Đa Dạng Cây Thuốc Thuộc Ngành Mộc Lan (Magnoliophyta) Ở Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Xuân Liên, Tỉnh Thanh Hóa - Pdf 47

Số hóa bởi trung tâm học liệu

http://www.lrc.tnu.edu.vn/

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

PHAN CAO CƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC THUỘC
NGÀNH MỘC LAN (Magnoliophyta) Ở KHU
BẢO TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN
TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành : Thực vật học
Mã số : 62 42 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thế Bách

HÀ NỘI – 2012

[Type text]


VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

PHAN CAO CƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC THUỘC
NGÀNH MỘC LAN (Magnoliophyta) Ở KHU

thuốc qua thành phần hóa học, tác dụng kháng khuẩn… chúng ta càng thấy
rõ tác dụng của nó. Các cây thuốc phân bố rộng và đa dạng, số loài cây
thuốc đƣợc ghi nhận vào năm 2007 là 3948 loài trong hệ thực vật Việt
Nam[12]. Ngày nay, song song với quá trình phát triển kinh tế xã hội là
những tác động gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, ảnh hƣởng tới sức
khỏe con ngƣời, sự gia tăng bệnh tật ngày càng nhiều. Đã có nhiều bệnh mà
y học hiện đại không thể sử dụng thuốc tây điều trị, trong khi đó một số bài
thuốc y học cổ truyền lại có khả năng chữa khỏi mà không gây tác dụng
phụ, công thức pha chế và cách thức sử dụng cũng hết sức đơn giản,
nguyên liệu lại có sẵn trong tự nhiên. Chính vì vậy, nền y học hiện đại đã
quay lại tìm các hợp chất có trong tự nhiên từ các loài thực vật dùng làm
thuốc kết hợp kinh nghiệm dân tộc để chữa bệnh.
Cũng nhƣ nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên và Vƣờn quốc gia khác trong
nƣớc, Khu bảo tồn thiên thiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa có hệ thực vật nói
chung, tài nguyên cây thuốc nói riêng đang bị suy giảm cả về số lƣợng cũng
nhƣ chất lƣợng. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên cho đến đang tiến
hành thực hiện Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng theo Quyết
định 1895/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, các công trình
Số hóa bởi trung tâm học liệu

http://www.lrc.tnu.edu.vn/


nghiên cứu về cây thuốc vẫn chƣa đƣợc quan tâm và chú ý nhiều. Xuất phát
từ vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đa dạng cây
thuốc thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) ở khu bảo tồn thiên nhiên
Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” để hoàn thiện nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp
của mình.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là đánh giá sự đa dạng tài nguyên cây
thuốc, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc thái đen ở trong

dụng cây thuốc cũng bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn
Độ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc xuất hiện từ rất lâu đời. Rễ của cây Thục Quỳ (Althea officinalis),
cây Lan Dạ Hƣơng (Hyacinthus sp) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) đƣợc
cất giữ quanh bộ xƣơng ngƣời có niên đại vào thời kỳ đồ đá ở Irắc. Cho đến
nay giá trị làm thuốc của ba loài thực vật kể trên vẫn đƣợc thừa nhận. Điều
này cho thấy, trên thực tế, thực vật đƣợc dùng làm thuốc xuất hiện trƣớc khi
có sự ghi chép của sử sách.
Sử dụng cây thuốc đƣợc các quốc gia trên thế giới tiến hành ở các mức
độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của dân tộc đó. Nền y học Trung
Quốc đƣợc xem là cái nôi của y học cổ truyền, các bài thuốc đƣợc xem nhƣ
hình thành sớm nhất từ đây. Từ năm 3216 trƣớc công nguyên, Thần Nông –
một nhà dƣợc học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức
khỏe con ngƣời. Ông đã thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính
bản thân bằng uống, nếm rồi ghi chép tất cả những hiều biết vào cuốn sách
”Thần nông bản thảo” gồm 365 vị thuốc rất có giá trị. Trong đó, nhiều bài
thuốc vẫn đƣợc sử dụng cho tới ngày nay nhƣ cây Gai mèo (Cannabis sp) để
chống nôn, cây Đại Phong Tử (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh
phong. Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hƣơng, Tử đinh
hƣơng để chế hƣơng nang (túi thơm) để phòng chống và chữa trị bệnh lao


phổi và bệnh lỵ. Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc
gối (hƣơng chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp. Từ thời
nhà Hán (năm 168 trƣớc Công nguyên) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp
phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ. Giữa thế kỷ
XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng
mục”.
Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền đƣợc hình thành cách đây hơn 3000 năm,
khi đó nhân dân ấn độ đã biết dùng lá cây Ba Chẽn (Desmodium triangulare)

bộ dân số của các nƣớc châu Phi. Ƣớc tính số lƣợng thầy lang ở Tanzanmia
có khoảng 30.000 – 40.000 ngƣời, trong đó, bác sĩ làm nghề y chỉ có khoảng
600 ngƣời. Tƣơng tự ở Malawi có khoảng gần 20.000 ngƣời làm nghề thuốc
cổ truyền nhƣng số lƣợng bác sĩ rất ít [26]. Nền y học cổ truyền ở các quốc
gia Châu Phi có ảnh hƣởng lớn đến sức khỏe cộng đồng.
Cùng với phƣơng thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà
khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất
hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có
giá trị. Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng
sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật. Tác dụng kháng khuẩn
do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật nhƣ phenolic, antoxy,
các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp
chất tự nhiên đã đƣợc giải mã về cấu trúc, những hợp chất này đƣợc chiết
xuất từ cây cỏ để làm thuốc. Dựa vào cấu trúc đƣợc giải mã, ngƣời ta có thể
tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh. Gotthall (1950) đã phân lập
đƣợc chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng
với vi khuẩn lao ở ngƣời và vi khuẩn Baccilus subtilis. Lucas và Lewis
(1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh
tả, lị, mụn nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp). Từ cây Hoàng Liên (Coptis
teeta), ngƣời ta đã chiết xuất đƣợc berberin. Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium
odorum) có các hợp chất sulfua, sapoin và chất đắng. Năm 1948, ShenChi-Shen phân lập đƣợc một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc
cao nhƣng lại có tác dụng kháng khuẩn. Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất
Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+ và gram-, nấm. Reserpin và
Serpentin là chất hạ huyết áp đƣợc chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfia
spp.). Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có
tác dụng làm thuốc chống ung thƣ, đƣợc chiết xuất từ cây Dừa cạn. Digitalin
đƣợc chiết xuất từ cây Dƣơng địa hoàng (Digitalis spp.), strophatin đƣợc
chiết xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp) để làm thuốc trợ tim. Từ
những thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên,


ban đầu đƣợc điều trị tại chỗ bằng thảo dƣợc. Tỷ lệ dân số tin tƣởng vào hiệu
quả sử dụng thảo dƣợc và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng
đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển. Ở Châu Âu, Bắc Mỹ, và một số
nƣớc khác, ít nhất 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế
từ thảo mộc. Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phƣơng thuốc có nguồn gốc
thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe. Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại
thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla.
Theo số liệu của Trung tâm Thƣơng mại Quốc tế từ năm 1976, các nƣớc
công nghiệp phát triển đã nhập khẩu hơn 300 triệu USD và đến năm 1980 con


số này đã tăng lên 551 triệu USD. Chỉ tính riêng 12 loại dƣợc liệu có nhu cầu
sử dụng cao ở Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi, Valeriana officinalis, …
từ năm 1998 đã đạt doanh số bán lẻ là 552 triệu USD. Đến năm 2003, thị
trƣờng thảo dƣợc toàn cầu đã vƣợt mức 60 tỷ USD hàng năm và con số này
vẫn tiếp tục tăng.
Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con ngƣời trong việc chăm sóc sức
khỏe ngày một tăng, nhƣng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm.
Nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các
hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con ngƣời. Theo tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài
thực vật mà cơ quan này lƣu giữ thông tin có tới 30.000 loài đƣợc coi là đang
bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau. Trong đó có nhiều loài là cây
thuốc quý hiếm, có giá trị kinh tế cao. Chẳng hạn nhƣ ở Bangladesh, một số
cây thuốc quý nhƣ Tylophora indicia (để chữa hen), Zannia indicia (thuốc tẩy
xổ)…trƣớc đây mọc rất phổ biến, nay đã trở nên hiếm hoi. Loài Ba gạc
(Rauvolfila serpentina) vốn mọc rất tự nhiên ở Ấn Độ, Bangladesh, Thái
Lan…mỗi năm có thể khai thác hàng ngàn tấn nguyên liệu xuất khẩu sang thị
trƣờng Âu, Mỹ làm thuốc chữa cao huyết áp. Tuy nhiên, do bị khai thác liên
tục nhiều năm nên nguồn gốc cây thuốc này đã bị cạn kiệt. Vì vậy một số

Trong cuốn sách “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tƣ Y
Thƣ” của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại
bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn. Hai cuốn sách này đƣợc
xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam. Đến thế
kỷ 18, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông
Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết vệ thực vật, các đặc
tính chữa bệnh [40].
Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam
chịu nhiều ảnh hƣởng của dƣợc học phƣơng Tây. Các phƣơng thức chữa
bệnh mới đƣợc mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp
thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên
cứu cây thuốc nói riêng. Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cƣơng Đông
Dƣơng” của Lecomte xuất bản cuối thể kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX đã mô tả
và phân loại hơn 7.000 loài thực vật. Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn
sách, bổ sung và đặt tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và
Việt Nam” gồm 4 tập, 1.050 trang và thống kê khoảng 1.480 loài thực vật.
Tuy nhiên cuốn sách này chƣa hoàn thiện về mô tả, phân bố, thành phần
hóa học và dƣợc lý của các loại thảo mộc.


Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dƣơng đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ
Việt Nam” vào năm 1980 đã giới thiệu đƣợc công dụng làm thuốc của nhiều
loài thực vật [16]. Đỗ Tất Lợi (1995) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam” và tái bản vào năm 2000 [14]. Công trình này thống kê
gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó nhiều loài thực vật đã đƣợc mô tả
về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và chế biến, thành phần hóa học, công
dụng và liều dùng.
Cuốn sách từ điển cây thuốc Việt Nam, do Võ Văn Chi (1991) biên soạn
đã mô tả đƣợc 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa là 2.500 loài
thuộc 1.050 chi, đƣợc xếp và 230 họ thực vật theo hệ thống của Takhtajan [6].

dân. Các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều
tra cơ bản, đặc biệt là chƣơng trình điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện
Dƣợc liệu – Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm vi toàn quốc. Đến nay ở nƣớc
ta có khoảng 3.948 loài cây thuốc đƣợc ghi nhận, thuộc 307 họ của 9 ngành
thực vật bậc cao và bậc thấp, bao gồm cả nấm.
1.3. Tình hình nghiên cứu thực vật ở thanh hóa
Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích rừng lớn, phong phú và đa dạng. Các
khu rừng chạy dọc theo dãy Pù Luông và tiếp giáp với dãy trƣờng sơn, đƣợc
đánh giá là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học. Nhƣng việc
nghiên cứ hệ thực vật ở đây chủ yếu theo hƣớng điều tra ở thành phần loài
từng vùng nhƣ các công trình nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn
Anh Đức (năm 2002), đánh giá thành phần loài và sự phân bố của thực vật
Bến En [27], Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (năm 2007), đánh giá thành phần loài
của hệ thực vật trên núi đá vôi ở Bến En [28], Averyanov L. và cộng sự. đã
điều tra thành phần loài cũng nhƣ đánh giá đa dạng ở khu bảo tồn thiên thiên
Pù Luông [29].
1.4. Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
ở Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên – Thƣờng Xuân – Thanh Hóa.
Tại khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa đời sống của nhiều ngƣời
dân nơi đây còn gặp rất nhiều khó khăn. Cuộc sống nơi đây vẫn mang tính tự
cung tự cấp, trong những năm trở lại đây do chính sách của đảng và nhà nƣớc
có sự điều chỉnh và quan tâm nhiều đến bà con vùng cao nên đời sống của họ
đã phần nào bớt đi đƣợc những khó khăn. Cuộc sống nơi những vùng núi cao
cũng đã bắt buộc họ phải sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, trong cuộc sống
mỗi khi ốm đau ngƣời dân nơi đây vẫn vào rừng tìm kiếm những loài cây
trong rừng về làm thuốc. Trải qua bao thế hệ, những kinh nghiệm đó đã ngày
càng đƣợc ngƣời dân nơi đây tích lũy. Sự hiểu biết về các loài cây thuốc của


ngƣời dân nơi đây đƣợc thể hiện thông qua việc sử dụng chúng trong việc trị

danh lục, phân tích, đánh giá đa dạng các bậc taxon (lớp, họ, chi) của các loài
cây thuốc và các bài thuốc đƣợc đồng bào dân tộc Thái đen sử dụng ở khu
BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa .
Vấn đề sử dụng cây thuốc: Đa dạng về công dụng chữa trị của các loài
cây thuốc. Một số bài thuốc chữa bệnh của các ông lang, bà mế.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Điều tra thực địa theo tuyến:
Điều tra khảo sát sơ bộ sau đó ta tiến hành chọn tuyến điều tra. Tuyến
đƣợc chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trƣng cho
khu bảo tồn. Trên mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm
chốt đặc trƣng nhất để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (Theo
Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997).
Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân
tộc Thái Đen sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên. Mỗi loài lấy 5 - 6 tiêu
bản. Các tuyến điều tra thực địa:
+ Bản Vịn, xã Yên Nhân.
+ Bản Lửa, xã Yên Nhân.
+ Hón Mong, xã Yên Nhân.
+ Bản Khẹo, xã Bát Mọt.
+ Hang Cáu, xã Vạn Xuân, huyện Thƣờng Xuân


Ảnh 2.1. Điều tra thực địa và thu hái
mẫu tại Bản Moong

Ảnh 2.2. Điều tra thực địa và thu hái
mẫu cây quế thanh tại bản Khẹo

Ảnh 2.3. Điều tra thực địa và thu hái
mẫu tại Bản Lửa cùng ngƣời bản

khu bảo tồn và cộng đồng dân cƣ địa phƣơng thông qua bảng hỏi đã đƣợc
xây dựng sẵn. để sƣu tầm và phát hiện các bài thuốc, cây thuốc sử dụng theo
kinh nghiệm dân gian. Mỗi cây thuốc, bài thuốc nều có mẫu thu và ghi
chép các thông tin cần thiết nhất công dụng, bộ phận sử dụng, cách sử dụng
của cây.


2.3.4. Xử lý số liệu.
Phƣơng pháp chuyên gia: Dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia đặc
biệt là các vật đề nhƣ xác định tên khoa học các mẫu đã thu hái.
Phƣơng pháp xử lý mẫu vật, chỉnh lý tên khoa học (theo Nguyễn Nghĩa
thìn, 1997). Các tiêu bản tƣơi đƣợc thu thập ngoài thực địa tiếp tục xử lý
trong phòng thí nghiệm tại Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật. Các mẫu sau khi sấy khô đƣợc ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa
0,3-0,5% HgCl2 để diệt khuẩn và chống côn trùng phá hại. Các mẫu tiêu bản
đƣợc sây khô, ép khẳng, trình bày và khâu trên giấy bìa cứng kích thứoc 28
cm x 42 cm.
Xác định tên khoa học, kiểm tra, chỉnh lý tên theo các tài liệu chính là
các tập Thực vật chí Việt Nam, Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam.
Xây dựng danh lục: Điều chỉnh khối lƣợng họ, chi theo hệ thống của
bộ Sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam”. Danh lục đƣợc xây dựng
theo nguyên tắc sự phát triển của các ngành thực. Các chi loài đƣợc xếp
theo vần ABC. Ngành Mộc lan do khối lƣợng lớn nên chia thành 2 lớp Mộc
lan và lớp Hành. Sau đó cũng xếp tƣơng tự nhƣ trên. Trên cơ sở danh lục
thực vật, căn cứ vào Sách đỏ Việt Nam, 2007; Danh lục các loài thực vật
quý hiếm của IUCN, 2009; Nghị định số 32 của chính phủ về các loài
động thực vật quý hiếm để lập danh sách các loài quí hiếm ở khu BTTN
Xuân Liên. Danh lục ngoài tên khoa học, tên Việt Nam của các loài còn có
các thông tin khác nhƣ dạng sống, công dụng, môi trƣờng sống, bộ phận
sử dụng làm thuốc theo mẫu.

Huyếp áp thấp, Hạ đƣờng huyết, Mạch máu xơ cứng (tắc mạch, giãn mạch),
Đau tim).
- Nhóm 4: Bệnh về tâm thần (gồm Khó ngủ hồi hộp, Ngủ lờ mờ không sâu,
dễ tỉnh, Điên cuồng, Tinh thần phân liệt (sấu uất), Động kinh, Kinh giản).
- Nhóm 5: Bệnh về tiêu hoá (Nghẹn nuốt khó, Nấc cụt, Ợ, Nôn oẹ, Nôn mửa,
Đau bụng không tiêu, Đau bụng lạnh dạ, Nóng ruột chán cơn, Táo bón, Ỉa
chảy phân loãng, sống phân, Ỉa xối ra nƣớc không dứt, Lỵ mới phát, Lỵ ra
máu, có sốt, Lỵ mạn tính, Thổ tả, Đau bụng giun quấy, Trục giun, Ngộ độc,
Đau dạ dày, Viêm đại tràng mạn tính, Lòi dom và trĩ mới phát).


- Nhóm 6: Bệnh về tiết niệu và gan thận (gồm Tiểu tiện không thông, Đái
buốt, đái đục, Đái dƣỡng trấp, Đái ra cát sỏi, phủ thũng, viêm cầu thận cấp,
Thấp thũng, Viêm gán, truyền nhiễm, sƣng gan (Áp-xe), Viêm gan mạn tính,
Xơ gan mạn tính, Xơ gan cổ trƣớng, Viêm túi mật, sỏi mật, Đái tháo nhạt
không rõ nguyên nhân, Đái tháo đƣờng, Viêm tiền liệt tuyến, Vô niệu do
nhiễm độc hay uất hoả).
- Nhóm 7: Bệnh về sinh dục (gồm Thận hƣ, tinh yếu, Di mộng tiết hoạt tinh,
Liệt dƣơng).
- Nhóm 8: Bệnh suy nhƣợc không đau (gồm Cơ thể hƣ nhƣợc, Tinh thần
suy nhƣợc, Tự ra mồ hôi khi ra gió, Ra mồ hôi ở tay chân, Bốc nóng giữa
đỉnh đầu).
- Nhóm 9: Các bệnh đau nhức (Đau đầu chóng mặt, Đau đầu ê ẩm, nặng
đầu, Đau đầu nhƣ búa bổ, Đau nửa đầu liền với mắt, Mắt đau sƣng đỏ, Đau
mắt trắng, mặt mờ, Đau răng, viêm lợi, Đau ngang lƣng (thần kinh hông),
Phong thấp, Tê thấp, Thấp thở, Phong nhiệt nhức nhói, Đầu gối sƣng đau, Tê
phù, Đau lƣng trên, bà vai, cánh tay, Nổi hạch, viêm hạch, lao hạch, Viêm
tinh hoàn (sa đì), Bại liệt nửa ngƣời, Xuất huyết dạng thấp (Thấp cơ).
- Nhóm 10: Bệnh ngoài da (gồm Đơn độc sƣng tấy, Mụn nhọt, Lở ngứa các
loài, Thuốc dùng ngoài đối với từng loại lở ngứa, Lở nấm, Tổ đỉa, Chín mé,

tạo ra một hệ tam giác khu hệ động vật phong phú và đa dạng về hệ sinh thái.
Toạ độ địa lý: 19051’52’’-19059’00’’
105019’20’’ kinh độ Đông.

vĩ độ Bắc; 104057’00’’-

+ Phía Bắc giáp đƣợc giới hạn bởi sông Khao;
+ Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An giới hạn bởi ngọn Bù ta leo;
+ Phía Tây giáp tỉnh Nghệ An và Phần còn lại của xã Bát
Mọt;
+ Phía Đông đƣợc giới hạn bởi ngọn Bù Khang và đập Thuỷ điện
Cửa đặt.
3.1.2. Diện tích quy hoạch
Diện tích tự nhiên của khu bảo tồn là: 27.123,20 ha bao gồm: Diện tích
rừng đặc dụng là 26.303,6 ha (diện tích đã quy hoạch giao quản lý, sử dụng
ổn định: 23.475,0 ha; diện tích ngập nƣớc lòng hồ đang tạm giao: 2.828,6 ha)
và diện tích rừng sản xuất giao quản lý ổn định lâu dài: 819,6 ha.
- Phân chia theo phân khu chức năng:
+ Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 10.846,1 ha.
+ Phân khu phục hồi sinh thái: 12.362,9 ha.
+ Phân khu hành chính dịch vụ: 3.094,6 ha.
Vùng đệm đƣợc quy hoạch với diện tích: 36.420,59 ha, thuộc 4 xã có
diện tích rừng và đất rừng quy hoạch cho Khu bảo tồn: Bát Mọt, Yên Nhân,
Xuân Cẩm, Vạn Xuân và ba xã Lƣơng Sơn, Xuân Cao, Luận Khê có đƣờng


giáp ranh với ranh giới của vùng lõi khu bảo tồn. Trong đó có ba dân tộc sinh
sống: Dân tộc Thái chiếm 69,0%, dân tộc Kinh chiếm 18,5%, dân tộc Mƣờng
chiếm 12,5%.
3.1.3. Đặc điểm tự nhiên, địa hình, thủy văn


23 3

23 3

23 1

2

Nhiệt độ cực tiểu

26

0

31

0

06

3

Nhiệt độ cực đại

41 5

41 7

41 2


7

Số ngày có mƣa

149

124

150

8

Số ngày có sƣơng mù

16

22

68

9

Độ ẩm không khí bình quân

85

85

86

0

0

12 Tọa độ: Kinh độ Đông

105 23

105 34

105 07

13 Vĩ độ Bắc

19 54

0

19 38

0

19 38

21

10

87



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status