CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH CỦA SINH VIÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TẠI ĐÀ NẴNG - Pdf 47

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á
KHOA QUẢN TRỊ

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOAHỌC
ĐỀ TÀI: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý
ĐỊNH KHỞI SỰ KINH DOANH CỦA SINH VIÊN
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TẠI ĐÀ NẴNG
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung
Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thảo Nguyên
Lưu Thái An Hòa
Lớp:

SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

QK13A1.1

Page 1


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

LỜI CAM ĐOAN !
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng

2.3 Cơ sở lý luận.......................................................................................................................................32

2.3.1 Nghiên cứu có trước...............................................................................32
2.3.1.1 Tổng quan lý thuyết về ý định khởi nghiệp của sinh viên của Nguyễn Thị Thanh Tiên & Cao
Quốc Việt.................................................................................................................................................32
2.3.1.2 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên..................................................35
2.3.1.3 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú & Nguyễn Thanh Sơn....................................................36

2.3.2 Mô hình nghiên cứu...............................................................................38
2.4 Thực trạng về ý định KSKD của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại Đà Nẵng.........................45
2.4.1 Thực trạng KSKD của sinh viên Việt Nam.......................................................................................45
2.4.2 Thực trạng KSKD cuả SV Đà Nẵng..................................................................................................47
2.4.3 Khó khăn của việc KSKD của SV......................................................................................................48

CHƯƠNG III: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU..............................................................50
3.1 Thiết kế nghiên cứu...........................................................................................................................50

3.2.3 Thiết kế bản câu hỏi...............................................................................53
3.3 Nghiên cứu định lượng......................................................................................................................54
3.3.1 Xây dựng phiếu điều tra.................................................................................................................54

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................................................56
4.1 Kết quả nghiên cứu............................................................................................................................57

4.1.1 Thống kê mô tả.......................................................................................57
4.1.3 Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến......................................................65
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 3


2.2.2 Lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen, 1991 (TPB- theory of
planned behavior)............................................................................................30
Hình 2.3 Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB...................................................................................30

2.2.3 Mô hình dự định Shapero- Krueger (2000)............................................31
Hình 2.4 Lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Shapero và Kueger...............................................32
2.3 Cơ sở lý luận.......................................................................................................................................32

2.3.1 Nghiên cứu có trước...............................................................................32
2.3.1.1 Tổng quan lý thuyết về ý định khởi nghiệp của sinh viên của Nguyễn Thị Thanh Tiên & Cao
Quốc Việt.................................................................................................................................................32
Hình 2.5 Mô hình của Nguyễn Thị Thanh Tiên & Cao Quốc Việt...................................................34
2.3.1.2 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên..................................................35
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên........................................36
2.3.1.3 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú & Nguyễn Thanh Sơn....................................................36
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Phan Anh Tú & Nguyễn Thanh Sơn.........................................38

2.3.2 Mô hình nghiên cứu...............................................................................38
Hình 2.8 Mô hình đề xuất................................................................................................................42
2.4 Thực trạng về ý định KSKD của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại Đà Nẵng.........................45
2.4.1 Thực trạng KSKD của sinh viên Việt Nam.......................................................................................45
2.4.2 Thực trạng KSKD cuả SV Đà Nẵng..................................................................................................47
2.4.3 Khó khăn của việc KSKD của SV......................................................................................................48

CHƯƠNG III: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU..............................................................50
3.1 Thiết kế nghiên cứu...........................................................................................................................50
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu........................................................................................................50

SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa

4.2 Thảo luận...........................................................................................................................................69

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................70
5.1 Kết luận..............................................................................................................................................70

PHỤ LỤC....................................................................................................................77

SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 6


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
2.8
3.1
3.2
4.1

50
55
58
59
66

Page 7


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

DANH SÁCH BẢNG
Bảng
2.1
3.1
4.1
4.2
4.3
4.4

Tên bảng
Diễn giải biến trong mô hình
Các bước hoàn thiện bản câu hỏi
Phân loại khóa học của sinh viên
Giới tính
Kết quả trả lời các câu hỏi trả lời
Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo ý định



4.10

với YDKD
Kết quả hồi quy mô hình ảnh hưởng đến YDKSKD

76

SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 8


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.

Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Khởi sự kinh doanh qua việc tạo lập các doanh

nghiệp mới là động lực cho phát triển kinh tế. Một nền kinh tế phát triển được là nhờ sự
phát triển về cả số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp. Các nghiên cứu trên thế
giới của Malecki (1997), Reynolds (1994), Audretsch (2004)(trích dẫn trong Carree and
Thurik(2003)) chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa việc khởi sự kinh doanhvới tăng
trưởng kinh tế vùng và địa phương. Những nơi có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp cao
thường có tốc độ phát triển kinh tế cao. Các doanh nghiệp mới thành lập ngoài việc


90% lao động mới vào làm việc. Chính phủ Việt Nam cũng đã nhận thức được tầm quan
trọng của định hướng tinh thần doanh nhân cho sinh viên và giới trẻ Việt Nam - nhân tố
chính trong công cuộc xây dựng nền kinh tế Việt Nam năng động và bền vững. Hàng
loạt các chương trình hỗ trợ và khuyến khích người dân, thanh niên và sinh viên khởi
nghiệp đã được tổ chức như chương trình khởi nghiệp của VCCI (qua 8 năm huy động
được 15.000 thanh niên tham gia), Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam, cuộc thi “Thắp sáng
tài năng kinh doanh trẻ”, chương trình truyền hình làm giàu không khó, Câu lạc bộ
Khởi Nghiệp Trẻ hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh cùng với sự ra mắt của Chương
trình Đào tạo Khởi nghiệp VYE 2011 “Thắp Sáng”, “Khởi nghiệp cùng Kawai" của đại
học Ngoại thương Hà Nội Chính phủ cũng đã có chính sách khuyến khích và thúc đẩy
thành lập doanh nghiệp và trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như sự
tích cực triển khai các hoạt động trợ giúp doanh nghiệp như việc thành lập các quỹ hỗ
trợ phát triển, quỹ tín dụng nhân dân. Ngoài ra, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi
chính phủ, Hiệp hội cũng có các chương trình tư vấn hỗ trợ, đào tạo quản trị doanh
nghiệp, khởi sự kinh doanh nhằm thúc đẩy và khuyến khích thành lập doanh
nghiệp.Việt Nam sở hữu một môi trường kinh doanh thuận lợi cho khởi sự kinh doanh
như nền kinh tế tăng trưởng nhanh, dân số đông.Tuy nhiên khởi sự kinh doanh ở sinh
viên Việt Nam còn thấp, phần lớn sinh viên ra trường đều có xu hướng đi đăng ký tuyển
dụng ở các doanh nghiệp đang hoạt động, rất ít người muốn khởi sự kinh doanh. Lý giải
cho tình trạng chỉ thích làm thuê, không thích làm chủ của sinh viên, có ý kiến cho rằng,
chương trình giáo dục phổ thông và đại học hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu kiến
thức về khởi sự tại Việt Nam; giáo trình chú trọng vào lý thuyết, chưa đề cao thực hành
và kiến thức thực tiễn. Trên thị trường cũng vắng bóng những đơn vị đào tạo về khởi
nghiệp dành cho sinh viên đại học và các dịch vụ công cụ hỗ trợ khởi sự .
Chính vì những lý do đó, sinh viên Việt Nam thiếu kiến thức, thiếu tự tin và tầm
nhìn cần thiết để khởi sự. Vậy thì câu hỏi quản lý được đặt ra là các trường đại học, gia
đình và xã hội cần làm gì để sinh viên Việt Nam có niềm đam mê và tự tin khởi sự.Sinh
viên Việt Nam nói chung cũng như sinh viên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng
hiện nay đang được khuyến khích tự tạo việc làm cho bản thân không đi làm thuê nhằm


Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến ý định Khởi sự KD
của SV ngành QTKD tại Đà Nẵng.

Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, đề tài tiến hành giải quyết 2 nhiệm vụ.

Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh
doanh của sinh viên ngành QTKD tại Đà Nẵng.

Nhiệm vụ 2: Đưa ra một số giải pháp giúp các trường học và cơ quan
quản lý vĩ mô trong việc thúc đẩy tiềm năng KSKD của sinh viên ngành QTKD tại Đà
Nẵng.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ý định khởi sự kinh doanh của sinh viên ngành quản trị kinh doanh tại Đà Nẵng.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Sinh viên ngành quản trị kinh doanh đang học tại Đà Nẵng.
- Không gian: Thành phố Đà Nẵng.
- Quy mô: 250 sinh viên
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp :


Nghiên cứu định lượng: mẫu được thu thập thông qua bảng câu hỏi sau

khi được thu thập đủ số lượng mẫu yêu cầu, dữ liệu con được xử lý bằng phần mềm
SPSS 16.0 nhằm thanh lọc dữ liệu phát hiện và xử lý dữ liệu bị khuyết nhằm khẳng
định các thang đo bảo đảm về độ tin cậy ,hiệu lực hội tụ hiệu lực phân biệt.
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa

Bảng câu hỏi sau khi điều tra được mã hóa, nhập liệu và xử lý trên phần mềm
Excel và SPSS phiên bản 16.0.
-

Để phân tích thực trạng về ý định KSKD của sinh viên ngành QTKD tại

Đà Nẵng, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng về ý định
KSKD của sinh viên tại Đà Nẵng.
-

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định KSKD của sinh viên ngành

QTKD tại Đà Nẵng.
+Kiểm định Cronbach’s Alpha là kiểm định nhằm phân tích, đánh giá độ tin cậy
và phù hợp giữa các biến quan sát được đưa vào mô hình. Mục đích của kiểm định này
nhằm tìm hiểu xem các biến quan sát có cùng đo lường cho một khái niệm cần đo hay
không. Giá trị đóng góp nhiều hay ít được phản ánh thông qua hệ số tương quan biến –
tổng (Corrected Item – Total Correlation). Qua đó, cho phép loại bỏ những biến không
phù hợp trong mô hình nghiên cứu.
+Phương pháp phân tích nhân tố khám phá, như đã được đề cập ở phần trên,
dùng để gộp các biến có liên quan thành nhóm. Cơ sở của việc rút gọn này dựa vào mối
quan hệ tuyến tính của các nhân tố với các biến ban đầu.
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 12


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung


Phân tích nhân tố được đảm bảo khi thỏa mãn các điều kiện: chỉ số KaiserMeyer-Olkin (KMO) – chỉ tiêu dùng để xem xét sự phù hợp của dữ liệu và mức ý nghĩa
của kiểm định nhân tố - phải đạt > 0,5 và KMO có giá trị trong khoảng [0,5;1] (Hoàng
Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Trong phương pháp này có sự xuất hiện của
hệ số tải nhân tố nằm trong bảng Rotated Component Matrix khi phân tích bằng phần
mềm thống kê SPSS là hệ số cho biết mối tương quan giữa các biến gốc và các yếu tố,
và chìa khóa để hiểu rõ bản chất của một yếu tố cụ thể. Hệ số truyền tải bình phương
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 13


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

chỉ ra tỷ lệ phần trăm của phương sai trong biến ban đầu được giải thích bởi một yếu tố
nào đó. (Hair et al., 2013, p. 90). Đề tài sử dụng phương pháp trích Principle
Components với phép xoay Varimax trong phân tích EFA. Phép xoay Varimax là một
trong các phương pháp xoay yếu tố trực giao phổ biến nhất được thực hiện trên cột
trong ma trận yếu tố - chứa các hệ số tải nhân tố của tất cả các biến đối với các yếu tố
được rút ra. Phép xoay này có ưu điểm so với các phương pháp khác nhờ việc làm đơn
giản hóa cấu trúc yếu tố. (Hair et al., 2013, p. 92). Cũng theo Hair et al. (2013, p.115),
các biến có hệ số tải nhân tố hay còn gọi là hệ số truyền tải (Factor loading) tối thiểu
phải > 0,3 với cỡ mẫu trên 350, được xem là có ý nghĩa khi ≥ 0,5 với cỡ mẫu trên 120.
Đề tài nghiên cứu với cỡ mẫu 250, vì vậy các biến có hệ số tải nhân tố > 0,5 được đưa
vào phân tích. Thêm vào đó, thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích
(Cumulative) – cho biết mức độ giải thích đúng của mô hình – có giá trị bằng hoặc lớn
hơn 50% (Gerbing & Anderson, 1988). Số lượng yếu tố được xác định dựa trên chỉ số
Eigenvalue đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi yếu tố. Theo tiêu chuẩn

tuyến tính bội được xây dựngcó độ tin cậy cao.
Mức độ phù hợp của mô hình được đánh giá bằng hệ số R 2 điều chỉnh.Giá trị R2
điều chỉnh không phụ thuộc vào độ lệch phóng đại của R 2 do đó được sử dụng phù hợp
với hồi quy tuyến tính đa biến. R2 điều chỉnh nên nhỏ hơn R2 vì nó không thổi phồng
mức độ phù hợp của mô hình và do đó mô hình sẽ an toàn hơn (Hoàng Trọng &Chu
Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
1.5.

1.6.

Bố cục nghiên cứu
Chương I: Tổng quan nghiên cứu
Chương II: Cơ sở lý thuyết
Chương III: Thiết kế nghiên cứu
Chương IV: Kết quả nghiên cứu
Chương V: Kết luận và kiến nghị
Tổng quan nghiên cứu
1.6.1 Nghiên cứa ngoài nước
Kolvereid (1996b) điều tra 128 sinh viên Nauy đang học ngành kinh doanh và sử

dụng mô hình lý thuyết hành vi kế hoạch của Ajzen (1991) để dự đoán ý định khởi sự.
Yếu tố đặc điểm nhân khẩu (nền tảng gia đình, giới tính, và kinh nghiệm làm việc..)
được tìm thấy ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp thông qua tác dụng của
chúng lên thái độ, quy chuẩn chủ quan, nhận thức điều khiển hành vi. Tác giả sử dụng
kiểm định tương Spearman để kiểm định mối tương quan giữa các biến độc lập (thái độ,
định mức chủ quan, nhận thức điều khiển hành vi, nền tảng gia đình, giới tính, và kinh
nghiệm làm việc) và biến phụ thuộc (ý định khởi sự kinh doanh). Kết quả của Kolvereid
(1996b) cho thấy có sự tương quan đáng kể giữa kinh nghiệm làm việc và giới tính với
ý định khởi sự. Nam giới được tìm thấy có sở thích làm chủ cao hơn đáng kể so với nữ
giới. Mối quan hệ giữa các nền tảng gia đình và ý định là không có ý nghĩa thống kê.

< 0,01). Nhận thức điều khiển hành vi, thái độ cá nhân, và xu hướng hành động dự đoán
một cách đáng kể ý định kinh doanh.
Nghiên cứu về ý định khởi sự giữa các nước thuộc của bán đảo Scandinavia và
Mỹ, Autio et al. (2001) đã phát triển mô hình Lý thuyết hành vi kế hoạch của Ajzen
(1991) để phân tích yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh giữa các sinh viên
đại học các nước đến từ Thụy Điển, Phần Lan, Mỹ và Vương quốc Anh. Các sinh viên
được phỏng vấn chủ yếu là sinh viên các khối ngành công nghệ và kích thước mẫu là
3445 sinh viên. Autio et al. (2001) sử dụng phương pháp hồi quy và phân tích tương
quan để kiểm định giả thuyết. Đầu tiên, những ảnh hưởng của chuẩn mực xã hội và thái
độ đối với ý định khởi nghiệp đã được thử nghiệm trên nhận thức điều khiển hành vi.
Thứ hai, những ảnh hưởng của các biến tương tự đó đã được thử nghiệm trên ý định
khởi sự kinh doanh. Cuối cùng, một mô hình dùng chung cho tất cả các biến đã được
thử nghiệm trong đó cũng bao gồm các biến tình huống và biến nhân khẩu học. Kết quả
của tác giả Autio et al. (2001) phù hợp với các nghiên cứu của Krueger (1993);
Davidsson (1995) với R2 lần lượt theo thứ tự là 0,54 và 0,32. Tuy nhiên, quy chuẩn chủ
quan không phản ánh rõ về ý định khởi sự kinh doanh. Điểm đáng chú ý trong nghiên
cứu là nhận thức điều khiển hành vi và thái độ đối với ý định kinh doanh là giống với
nhận thức khả thi và mong muốn có được.
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 16


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

Venesaar et al. (2006) nghiên cứu ý định khởi sự kinh doanh thông qua việc xác
định thái độ, đặc điểm cá nhân và kế hoạch trong tương lai của sinh viên đại học và học

Lớp :QK13A1.1

Page 17


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

Ali et al. (2011) khám phá thái độ khởi sự kinh doanh bằng việc sử dụng mô
hình gồm các yếu tố: sự chấp nhận kinh doanh, ý định khởi sự kinh doanh và các yếu tố
cá nhân. Cuộc khảo sát được tiến hành trên 480 sinh viên đang theo học khóa thạc sĩ
quản trị kinh sinh viên từ sáu trường đại học khu vực công Pakistan. Nghiên cứu cũng
đưa các yếu tố phạm vi kiểm soát, tự tin vào năng lực bản thân, quy chuẩn chủ quan vào
phân tích. Kết quả cho thấy đa số sinh viên có thái độ tích cực đối với khởi sự kinh
doanh ở sáu trường đại học. Nhìn chung, từ kết quả nghiên cứu, phần lớn các sinh viên
đại học ở Pakistan có thái độ tích cực đối với ý định khởi sự kinh doanh. Trong số các
yếu tố về nhân khẩu học, thu nhập của cha mẹ nổi lên như biến có ảnh hưởng mạnh
nhất. Các yếu tố còn lại như giới tính, nơi cư trú, trình độ chuyên môn và nghề nghiệp
của cha mẹ chỉ ảnh hưởng một phần. Các trường đại học khu vực công cộng khác ở
trong nước có một loại tương tự của văn hóa học tập.
Wolfgang & Joseph (2011) sử dụng các biến liên quan đến tính cách cá nhân ảnh
hưởng đến nhận thức khả thi và nhận thức mong muốn để xây dựng mô hình ý định
khởi sự cùng với sự ảnh hưởng của các biến tình huống (bao gồm giới tính, tuổi tác, bạn
bè, điểm xếp hạng ở lớp, …). Bảng câu hỏi khảo sát được gửi đến cho các sinh viên
trường cao đẳng St. Norbert ở 3 chuyên ngành kinh doanh (quản trị kinh doanh, kế toán,
kinh doanh quốc tế). Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn các yếu tố đặc điểm tính
cách (chủ yếu là thái độ tích cực và động lực đạt thành tích) cùng với nhận thức tính khả
thi tác động lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Các biến phản ánh hoàn cảnh cá
nhân và gia đình đóng góp tương đối yếu trong việc giải thích ý định.

Quản trị) thuộc trường MARA. Phương pháp hồi quy tuyến tính và phân tích tương
quan được áp dụng trong bài nghiên cứu. Từ kết quả phân tích của cuộc khảo sát cho
thấy mối quan hệ có ý nghĩa giữa yếu tố thái độ, yếu tố hành vi và hỗ trợ giáo dục đối
với mục đích khởi sự kinh doanh. Hỗ trợ giáo dục đóng góp 40,8% vào yếu tố thái độ
và 57,6% vào yếu tố hành vi. Tất cả ba yếu tố (thái độ, hành vi và hỗ trợ giáo dục) đóng
góp 43,3% đối với ý định kinh doanh của sinh viên trường MARA. Kết quả của nghiên
cứu này có ý nghĩa có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách tại các cơ sở giáo dục,
các nhà giáo dục tại các trường đại học. Kadir et al. (2012) đề xuất sự hỗ trợ giáo dục
kinh doanh trong các trường đại học là một cách hiệu quả để thu được kiến thức cần
thiết về ý định khởi sự kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các sinh viên có
tham gia vào các chương trình đào và khóa tập huấn tạo kinh doanh sẽ có thái độ và
khuynh hướng kinh doanh. Sinh viên được tham gia các khóa này sẽ có hình ảnh tích
cực trong việc lựa chọn là doanh nhân như một nghề nghiệp tương lai.
Jianfeng (2013b) cũng sử dụng của lý thuyết hành vi hoạch định của Ajzen
(1991) để lập mô hình và điều tra khảo sát 1.330 sinh viên đang theo học tại các trường
Đại học của Trung Quốc. Kết quả cho thấy các yếu tố trong mô hình của Ajzen (1991)
đều có ý nghĩa giải thích ý định sự nghiệp kinh doanh. Nghiên cứu tìm thấy giới tính và
kinh nghiệm của cha mẹ có tác động và ảnh hưởng đáng kể đến thái độ, quy chuẩn chủ
quan, nhận thức điều khiển hành vi, và ý định kinh doanh. Điểm khác biệt trong nghiên
cứu mà tác giả Jianfeng (2013b) nêu lên so với các tác giả phương Tây (Krueger et al.,
2000; Liñán & Chen, 2009) đó là quy chuẩn chủ quan là biến dự báo ý định khởi sự
kinh doanh tốt hơn nhận thức điều khiển hành vi. Điểm có thể giải thích cho lý do này
là tính chủ nghĩa tập thể được đề cao trong xã hội Trung Quốc; cá nhân bị ảnh hưởng
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 19


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

trong việc xác định yếu tố ảnh hưởng quyết định lập nghiệp ở Nam Phi gồm thái độ,
quy chuẩn chủ quan và nhận thức điều khiển hành vi, củng cố tính tin cậy bảng khảo sát
của Liñán & Chen (2006; 2009) trong việc đo lường các yếu tố ảnh hưởng ý định khởi
nghiệp kinh doanh. Cuối cùng, tác giả đề xuất các nhà hoạch định chính sách, các nhà
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 20


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

quản lý giáo dục khởi sự kinh doanh và các nhà nghiên cứu có sự hợp tác và ý thức rõ
vấn đề khởi sự doanh nghiệp của sinh viên.
Nieuwenhuizen & Swanepoel (2015) đánh giá sự khác biệt các mức độ của ý
định khởi sự kinh doanh của sinh viên ngành cao học quản trị kinh doanh ở hai trường
đại học Johannesburg ở Nam Phi và trường kinh doanh Krakow ở Ba Lan. Bảng số liệu
được thu thập từ 182 sinh viên của 2 trường. Nghiên cứu áp dụng mô hình của Ajzen
(1991) để kiểm định sự tương quan giữa giữa các biến chủ yếu gồm thái độ cá nhân,
quy phạm chủ quan và nhận thức điều khiển hành vi tác động lên ý định khởi sự kinh
doanh. Kết quả cuộc khảo sát này cho thấy hầu hết các sinh viên đang học ở trường
Johannesburg có điểm số về ý định khởi sự kinh doanh vượt trội so với sinh viên trường
kinh doanh Krakow, cụ thể ở các yếu tố thái độ hướng tới trở thành một doanh nhân,
nhận thức điều khiển hành vi, phát triển sản phẩm mới, sự nhạy bén về tài chính và hỗ
trợ kinh doanh. Điều đó có thể được giải thích do định hướng văn hóa, định hướng
tương lai và tiềm ẩn trong kinh doanh ở Ba làm ảnh hưởng lớn đến ý định khởi sự của
sinh viên.
1.6.2 Nghiên cứu trong nước

hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng (bao gồm các yếu tố môi trường và các yếu tố
trải nghiệm cá nhân) tới tiềm năng KSKD của 2 nhóm sinh viên học ngành kinh tếquản trị kinh doanh và nhóm sinh viên học ngành kỹ thuật. Trong luận án, tác giả đã
làm rõ các khái niệm KSKD, các loại hình KSKD, tiềm năng KSKD và các mô hình lý
thuyết về chỉ báo của tiềm năng KSKD; xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết và
các giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường vàtrải nghiệm cá nhân (bao
gồm kinh nghiệm cá nhân và kinh nghiệm qua quá trình đào tạo đại học) với tiềm năng
KSKD của sinh viên đại học trong bối cảnh Việt Nam- một nền kinh tế chuyển đổi.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để kiểm định mô hình gồm 2 bước chính:
nghiên cứu sơ bộ (gồm nghiên cứu định tính và định lượng sơ bộ) và nghiên cứu định
lượng chính thức trên mẫu điều tra 693 sinh viên thuộc 2 ngành học kỹ thuật và kinh tế
- quản trị kinh doanh. Kết quả luận án xác định được các yếu tố tác động tới tiềm năng
KSKD của sinh viên. Cụ thể, luận án cho thấy các yếu tố tác động thuận chiều tới mong
muốn KSKD (khía cạnh thứ nhất của tiềm năng khởi sự) là ý kiến người xung quanh, vị
trí xã hội của doanh nhân, hình mẫu chủ doanh nghiệp, năng lực KSKD, truyền cảm
hứng của nhà trường, học môn KSKD, ngành họcvà tham gia hoạt động ngoại khóa
KSKD. Các yếu tố tác động thuận chiều tới tự tin KSKD (khía cạnh thứ hai của tiềm
năng khởi sự) là ý kiến người xung quanh, hình mẫu chủ doanh nghiệp, năng lực
KSKD, ngành học, truyền cảm hứng của nhà trường, học môn KSKD, ngành học,
phương thức học qua thực tế và tham gia hoạt động ngoại khóa KSKD. Trong đó, ý kiến
người xung quanh là nhân tố tác động mạnh nhất tới mong muốn KSKD trong khi năng
lực KSKD là yếu tố tác động mạnh nhất tới cảm nhận về tự tin KSKD. Với các phát
hiện trong nghiên cứu này, luận án có các giá trị cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Về mặt
lý luận, luận án đã khẳng định tác động của các hoạt động tích lũy kinh nghiệm cá
nhântrong quá trình đào tạo đại học tới tiềm năng KSKD của sinh viên bên cạnh các yếu
tố môi trường và kinh nghiệm cá nhân đã được khẳng định ở các nghiên cứu trước đó.
Về mặt thực tiễn, luận án giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm hiểu biết để đưa
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 22

Định nghĩa này nhấn mạnh bốn khía cạnh của một vấn đề khởi sự kinh
doanh. Điều trước tiên, nó liên quan đến việc tạo ra một sản phẩm, dịch vụ nói chung có
giá trị cho doanh nhân và đối tác. Kế đến, khởi sự kinh doanh đòi hỏi sự cống hiến và
tận tâm trong nghề, lĩnh vực với sự đam mê. Hầu hết nhiều người khởi sự gặp rất
nhiều khó khăn khi đưa sản phẩm dịch vụ lần đầu ra thị trường. Các rủi ro trong quá
trình kinh doanh có thể có nhiều hình thức. Cuối cùng,các nhà doanh nghiệp nhận được
phần thưởng cho những nỗ lực của mình. Tiền thưởng thường được xác định là chỉ báo
cho sự thành công của các doanh nhân. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp cho thấy
tính độc lập và sự hài hòa của cá nhân như là những phần thưởng cá nhân quan trọng
nhất. Một khía cạnh nữa mà khái niệm muốn chỉ ra là những rủi ro phải đối đầu khi
khởi sự. Rủi ro luôn xuất hiện và tham gia vào quá trình kinh doanh. Cuối cùng, người
khởi nghiệp nhận được thành quả và phần thưởng sau những nỗ lực làm việc.Vậy người
tạo ra giá trị cho doanh nghiệp hay còn gọi là doanh nhân xuất hiện trong khái niệm trên
là gì?
“Doanh nhân là người đã phá hủy trật tự kinh tế hiện tại bằng cách đưa ra các
sản phẩm và dịch vụ mới, giới thiệu các phương pháp sản xuất mới, tạo ra các hình
thức tổ chức mới, hoặc bằng cách khai thác nguyên vật liệu mới”.
Khái niệm trên được nhà kinh tế và chính trị học người Áo, ông Joseph
Schumpeter như trích dẫn ở Bygrave & Zacharakis (2011, p.1). Như vậy để trở thành
doanh nhân đòi hỏi người đó dấn thân vào công việc muốn làm, có nhiều động cơ thúc
đẩy, có sự đam mê và sáng tạo trong công việc và xác định được nhiệm vụ khó khăn
SVNC: Nguyễn Thị Thảo Nguyên_Lưu Thái An Hòa
Lớp :QK13A1.1

Page 24


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HOC

đạt hiện tại.

Page 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status