Đánh giá sự hài lòng của học viên về chất lượng đào tạo tại học viện hàng không việt nam - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

------------

PHẠM THỊ CÚC PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LỊNG CỦA HỌC VIÊN
VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI HỌC VIỆN
HÀNG KHƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – Năm 2008


BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

------------

PHẠM THỊ CÚC PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LỊNG CỦA HỌC VIÊN
VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI HỌC VIỆN
HÀNG KHƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.05


4.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

3

5.

Cấu trúc nghiên cứu

3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

4

1.1

4

Chất lượng đào tạo

1.1.1 Một số quan điểm về chất lượng đào tạo

4

1.1.2 Một số cách tiếp cận khác về chất lượng đào tạo (đào tạo nghề)

6



Tóm tắt

Chương 2: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HỌC VIỆN HÀNG
KHÔNG VIỆT NAM

19
21

2.1

Giới thiệu khái quát về Học viện Hàng không Việt Nam

21

2.2

Thực tiễn về đào tạo tại Học viện Hàng không Việt Nam

22

2.2.1 Ngành đào tạo

22

2.2.2 Quy mô đào tạo

22

2.2.3 Đội ngũ giảng viên

Thiết kế nghiên cứu

3.1.1 Thiết kế nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

26

3.1.2 Thang đo chất lượng đào tạo

28

3.1.3 Thang đo mức độ hài lòng của học viên về chất lượng đào tạo

30

3.2

30

Nghiên cứu chính thức

3.2.1 Mẫu nghiên cứu

30

3.2.2 Thông tin mẫu nghiên cứu (Xin xem phụ lục 3)

31

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu


3.3.7 Phân tích phương sai một yếu tố (Oneway Anova)

42

3.3.8 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của học viên về
giáo viên, cơ sở vật chất, dịch vụ sinh hoạt

43

3.3.9 Thảo luận kết quả

48

3.4 Tóm tắt

49

Chương 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI HỌC VIỆN HÀNG KHÔNG VIỆT

51

NAM
4.1

Cơ sở vật chất và các dịch vụ hỗ trợ dạy và học

51

4.2

PHỤ LỤC
Phụ lục 1:

Dàn bài thảo luận nhóm

Phụ lục 2:

Bảng câu hỏi thăm dò ý kiến đánh giá chất lượng đào tạo

Phụ lục 3:

Thông tin mẫu nghiên cứu

Phụ lục 4:

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phụ lục 5:

Phân tích phương sai 1 yếu tố (One-way Anova)

Phụ lục 6:

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về giáo
viên, cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ học tập


1

PHẦN MỞ ĐẦU

hành “Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học”) và mới đây


2
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành Quyết định số 08 (ngày
25/03/2008) về việc kiểm định chất lượng đào tạo nghề. Vì vậy việc khảo sát ý
kiến của học sinh - sinh viên về chất lượng đào tạo là rất cần thiết trong công tác
đảm bảo chất lượng hiện nay của các trường Đại học nói chung và tại Học viện
Hàng không Việt Nam nói riêng. Với đề tài: “Đánh giá của học viên về chất
lượng đào tạo tại Học viện Hàng không Việt Nam”, tác giả mong muốn
nghiên cứu này sẽ là tiên đề cho sự đánh giá chất lượng đào tạo tại Học viện
Hàng không Việt Nam. Các câu hỏi sau sẽ định hướng cho đề tài:
-

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo?

-

Lựa chọn thang đo nào để đo lường chất lượng đào tạo?

-

Thang đo nào dùng để đo lường mức độ hài lòng của học viên đối với chất
lượng đào tạo?

2.

Mục đích nghiên cứu
Dựa trên kết quả khảo sát việc đánh giá chất lượng đào tạo từ góc độ học viên
đang học tập tại Học viện Hàng không Việt Nam, nghiên cứu được thực hiện với


3
trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp các vấn đề lý thuyết về các khái niệm chất lượng
đào tạo, đánh giá chất lượng đào tạo, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào
tạo. Sau đó thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm 74 học viên hệ nghề chuyên
ngành vận tải hàng không và tham vấn ý kiến các giáo viên có nhiều năm kinh
nghiệm trong giảng dạy để từ đó diều chỉnh thang đo và thiết lập bảng câu hỏi sử
dụng cho nghiên cứu ở bước tiếp theo. Nghiên cứu chính thức được thực hiện
theo phương pháp định lượng với kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng
câu hỏi điều tra; dựa trên việc phân tích các thông tin thu thập nghiên cứu sẽ rút
ra những kết luận và những giải pháp mang tính lý luận phù hợp với điều kiện
thực tế tình hình của Học viện Hàng không Việt Nam.
Nghiên cứu nhằm xây dựng thang đo đánh giá chất lượng đào tạo. Thang đo
được kiểm định bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám
phá thông qua phần mềm SPSS.
4.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Kết quả của nghiên cứu giúp cho phía nhà trường có cái nhìn tổng quan về chất
lượng đào tạo của trường trong những năm qua theo góc độ cảm nhận từ phía
học viên hệ đào tạo nghề đang học tập tại Học viện. Thông qua các kết quả
nghiên cứu và phân tích, nghiên cứu giúp Nhà trường định hướng một số những
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của học viên về chất lượng
đào tạo. Đây cũng là tài liệu tham khảo cho nhà trường trong việc cải tiến chất
lượng đào tạo và xây dựng kế hoạch lấy ý kiến sinh viên, một trong những bước
tiến hành kiểm định chất lượng đào tạo tại nhà trường.

5.

Cấu trúc nghiên cứu

1.1.1 Một số quan điểm về chất lượng đào tạo
Hiện nay, chất lượng đang được quan tâm nhiều trên thế giới. Mọi người bàn
luận về chất lượng trong mọi lĩnh vực của xã hội: trong các ngành công nghiệp,
dịch vụ,… và đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng luôn là vấn đề quan
trọng nhất.
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó
định nghĩa, khó xác định, khó đo lường và cách hiểu của người này cũng khác so
với người kia. Do đó, khái niệm chất lượng trong giáo dục đã được đưa ra từ
nhiều góc độ khác nhau (Ton Vroeijenstijn, 2002).
ƒ Khi chính phủ xem xét chất lượng, trước hết họ nhìn vào tỉ lệ đậu/rớt, những
người bỏ học và thời gian học tập. Chất lượng dưới con mắt của chính phủ có
thể miêu tả như “càng nhiều sinh viên kết thúc chương trình theo đúng hạn
quy định, với chất lượng tiêu chuẩn quốc tế, và với chi phí thấp nhất”
ƒ Những người sử dụng, khi nói về chất lượng, sẽ nói về kiến thức, kỹ năng và
đạo đức trong suốt quá trình học tập: “sản phẩm” bị thử thách chính là những
cử nhân, kỹ sư, thợ.
ƒ Đội ngũ cán bộ giáo viên giảng dạy sẽ định nghĩa chất lượng như là “đào tạo
tốt trên cơ sở chuyển giao kiến thức, kỹ năng tay nghề tốt, môi trường học tập
tốt và quan hệ tốt giữa giảng dạy và thực hành thực tiễn”.


5
ƒ Đối với học viên, chất lượng liên hệ đến việc đóng góp vào sự phát triển cá
nhân và việc chuẩn bị cho một công việc cụ thể trong xã hội. Giáo dục phải
kết nối với mối quan tâm cá nhân của học viên.
Vì vậy có thể nói chất lượng đào tạo được xác định bởi sự thỏa thuận giữa các
bên liên quan về những yêu cầu mong muốn. Giáo dục phải cố gắng hoàn thành
càng nhiều ước muốn càng tốt và điều này phải thể hiện trong những mục đích
và mục tiêu đào tạo.
Nói theo một cách khác, Chất lượng là một khái niệm có ý nghĩa đối với những


Quan niệm đánh giá bằng “Giá trị gia tăng” cho rằng một trường đào tạo có
tác động tích cực đến học viên khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát
triển trí tuệ và cá nhân của người học viên. Nếu theo quan niệm này một loạt
các vấn đề nảy sinh khi khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đo
lường chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm được “giá trị gia tăng”. Hơn
nữa giá trị gia tăng được xác định không cung cấp thông tin gì về sự cải tiến
quá trình đào tạo trong từng chương trình.

-

Quan niệm khác cho rằng chất lượng đào tạo là sự thoả mãn nhu cầu của
khách hàng. Quan niệm này giống với quan niệm về chất lượng chung của tổ
chức ISO, đảm bảo được tính thích ứng của công tác đào tạo với mục đích
đào tạo phải gắn với nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên ai là “Khách hàng”
của một chương trình đào tạo? Là học viên (người trực tiếp sử dụng dịch vụ
đào tạo)? hay là Chính phủ, doanh nghiệp (người chi trả cho dịch vụ này)?
Hay là cha mẹ của học viên…

Theo Giáo sư David D. Dill trong bài viết A Matter of Quality: Markets,
Information, and the Assurance of Academic Standards, chất lượng giáo dục
được hiểu như là những chuẩn mực về giáo dục- Đó là mức độ thành tựu mà sinh
viên đạt được sau khóa học. Các nhà kinh tế nói về nguồn nhân lực tương lai của
đất nước “Các khoản trợ cấp của công chúng được đầu tư vào giáo dục bởi chúng
ta tin tưởng vào các kiến thức, các kỹ năng và giá trị mà sinh viên sẽ cống hiến
đóng góp cho xã hội”. Họ mong chờ ở sinh viên tốt nghiệp không chỉ đơn thuần
là những đóng góp cho nền kinh tế mà còn cả những đóng góp mang tính phi lợi
nhuận cho xã hội thông qua việc nuôi dạy con cái, lối sống lành mạnh, trách
nhiệm công dân và sự gắn kết với xã hội, cộng đồng.
1.1.2 Một số cách tiếp cận khác về chất lượng đào tạo (đào tạo nghề)

xác và đáng tin cậy của chất lượng giáo dục.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Nói đến chất lượng đào tạo, trước tiên phải kể đến chất lượng giáo viên. Bên
cạnh đó chất lượng đào tạo còn phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở vật chất (phòng
học, thư viện, máy tính, phòng thí nghiệm, ...), chất lượng đầu vào, chương trình
đào tạo, đội ngũ quản lý và chính sách quản lý, nguồn tài lực của nhà trường...


8
Chương trình đào tạo
Việc thiết kế chương trình đào tạo liên quan đến việc xây dựng kết cấu và nội
dung đào tạo sẽ định hướng cho kết quả đầu ra của một chương trình đào tạo.
ngược lại, kết quả đầu ra gắn kết chặt chẽ với các khóa học trong chương trình
đào tạo. Sự gắn kết này chính là nền tảng của chất lượng đào tạo bởi nó hướng
tới lợi ích và nhu cầu của người học (Tracy Chao, Tami Saj & Felicity Tessier,
2006).
Đối với đào tạo nghề, chương trình đào tạo vừa là chuẩn mực đào tạo, vừa là
chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo. Vấn đề ở chỗ, một chương trình đào
tạo chung không thể hoàn toàn phù hợp cho tất cả vùng miền trên toàn quốc, vì
rằng công nghệ sử dụng và mức độ phát triển của nền công nghiệp của các vùng
miền là khác nhau. Để giải quyết những khó khăn trên, trước tiên phải xây dựng
một chương trình đào tạo chuẩn cấp quốc gia, phù hợp với nền công nghiệp hiện
nay, chương trình đào tạo phải đạt được mục tiêu đào tạo nghề như trong mục 3
điều 29 Luật Giáo dục đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào
tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau,
có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có
sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm kiếm việc làm,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh”.
Chương trình đào tạo cấp quốc gia là “phần cứng” của chương trình mà bất cứ
trường dạy nghề nào trên toàn quốc có cùng cấp đào tạo chung ngành nghề đều

cách, tác phong công nghiệp. Trong các buổi thực hành, thầy là người luấn luyện
viên tận tuỵ, mẫu mực và bao dung. Vai trò của người giáo viên dạy nghề là:
trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ năng; tạo lập nhân cách cho học sinh. Người
giáo viên dạy nghề, trước hết phải yêu nghề; phải có trình độ chuyên môn và tay
nghề giỏi, có tài năng sư phạm, biết ngoại ngữ và sử dụng thành thạo các phương
tiện hỗ trợ dạy học. Điều mà đa số giáo viên dạy nghề chúng ta còn hạn chế là
tay nghề, là kinh nghiệm thực tế sản xuất, là ngoại ngữ. Nơi nào khắc phục được
tồn tại trên, nơi đó chất lượng dạy nghề sẽ có nhiều triển vọng.
Nghiên cứu của Fallow và Steven (2000) có đưa ra một số chỉ tiêu để đánh giá
chất lượng giáo viên thể hiện qua một số nội dung sau:


10
-

Kiến thức tốt: giáo viên phải có kiến thức chuyên môn sâu cả về lý thuyết và
thực hành. Đồng thời để nâng cao chất lượng giảng dạy, người giáo viên cần
không ngừng cập nhật kiến thức.

-

Khả năng giảng dạy và truyền đạt kiến thức: bao gồm cả sự thuần thục về
chuyên môn lẫn năng lực giao tiếp.

-

Kinh nghiệm thực tiễn: cho phép người giáo viên thực hiện các bài giảng một
cách phong phú, đa dạng mang tính thực tế, cho phép giáo viên dẫn dắt học
viên đến những phần thảo luận sâu rộng, sát với thực tế và người giáo viên có
thể trình bày vấn đề hay giải đáp vấn đề thắc mắc của người học một cách tự

việc sử dụng các dịch vụ hỗ trợ một cách hiệu quả sẽ đóng góp rất nhiều vào việc


11
thoả mãn nhu cầu của người học cũng như nâng cao hiệu quả của một chương
trình đào tạo.
Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học: đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao
chất lượng dạy và học, đảm bảo chất lượng đào tạo của một trường. Để đảm bảo
sau khi tốt nghiệp, người học đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động,
đó là tiếp cận ngay và làm chủ công nghệ sản xuất nơi công tác một cách có hiệu
quả, thì cơ sở đào tạo nghề phải có cơ sở vật chất – trang thiết bị thực hành đầy
đủ, đồng bộ, hiện đại, phù hợp với nội dung chương trình đào tạo, thậm chí, công
nghệ phải đi trước công nghệ của nền sản xuất. Trường đào tạo nghề còn phải có
các phòng học bộ môn phù hợp cho từng ngành học, cấp học; phải có thư viện
hiện đại; các trung tâm thông tin; nối mạng internet để hỗ trợ công tác nghiên
cứu của giáo viên và tìm hiểu của học sinh. Hệ thống sách và tài liệu giáo khoa
cho học sinh, sách tham khảo, giáo trình, tạp chí chuyên ngành… cho giáo viên
cũng cần được trang bị đầy đủ.
Chất lượng đầu vào
Chất lượng đầu vào phụ thuộc vào toàn bộ quá trình giáo dục từ mẫu giáo, tiểu
học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, môi trường xã hội và gia đình. Tuy
chất lượng đầu ra phụ thuộc rất lớn vào sự cải tiến (giá trị gia tăng) trong quá
trình đào tạo, nhưng phần lớn thực tế nền giáo dục Việt Nam cho thấy chất lượng
đầu vào kém kéo theo chất lượng đầu ra kém.
Ngoài ra còn có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán bộ nhân viên quản lý,
giáo vụ, giám sát,… trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo nói chung và về công
tác quản lý, hỗ trợ giảng dạy học tập nói riêng. Đội ngũ này đòi hỏi phải được
đảm bảo không những về số lượng mà cần thiết phải đáp ứng các yêu cầu về chất
lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, và thậm chí những mối liên hệ giữa đội
ngũ này và người học có thể gây ảnh trực tiếp đến tâm lý và sự hài lòng của

cho học viên có gắn liền với những vấn đề thường nảy sinh từ mối quan hệ của
họ với môi trường. Việc đánh giá phương pháp giảng dạy của giáo viên có thể
thực hiện bằng cách theo dõi công tác giảng dạy dựa trên sự quan sát khách quan
(quay video hình ảnh diễn ra trong lớp học).
Cách thức đánh giá cũng có thể được phân biệt theo định hướng về tương lai,
hiện tại hay thiên về quá khứ của chương trình đào tạo nhất định từ đó hình thành
nên ba mô hình đánh giá khác nhau: Đánh giá chất lượng hướng đến một khóa
học trong tương lai và những kết quả của nó mang tính đánh giá định hướng;
Đánh giá dựa trên chương trình đào tạo đang được tiến hành thì được gọi là đánh
giá hướng về quá trình đào tạo; Và đánh giá mà qua đó xem xét khóa học đã


13
hoàn tất và hiệu ứng của nó thì được biết đến như là đánh giá kết quả đạt được
(Prof. Dr. Erwin Seyfried, 1998).
Năm 1975, Donald Kirkpatrick giới thiệu một mô hình bốn mức đánh giá hiệu
quả đào tạo và được ông cập nhật mới nhất vào quyển sách Evaluating Training
Programs vào năm 1998. Những mức này có thể được áp dụng cho sự đào tạo
theo hình thức truyền thống hoặc dựa vào công nghệ hiện đại.
Mô hình bốn mức đánh giá hiệu quả đào tạo bao gồm:

Hình 1.1: Đánh giá hiệu quả đào tạo- Mô hình 4 mức độ của Kirkpatrick
-

Sự phản hồi của người học (Students’ Reaction): người học được yêu cầu
đánh giá chương trình đào tạo sau khi kết thúc khóa học. những gì mà họ
nghĩ và cảm nhận trong đào tạo, về cấu trúc, nội dung, phương pháp trong
chương trình đào tạo. Sự đánh giá thông qua những phiếu được gọi là “smile
sheets” hoặc “happy sheets” bởi vì những phiếu này đo lường mức độ yêu
thích chương trình đào tạo của người học. Kiểu đánh giá này có thể làm lộ ra

chất lượng đào tạo nghề của một cơ sở đào tạo được đánh giá theo tiêu chuẩn
ILO-500 (ILO-500 điểm) như sau:
1. Mục tiêu phát triển của cơ sở đào tạo: 25 điểm.
2. Tổ chức và quản lý: 45 điểm.
3. Chương trình đào tạo: 135 điểm.
-

Chương trình;

-

Kế hoạch và nội dung chương trình đào tạo;

-

Các hoạt động phát triển chương trình;

-

Các hoạt động giảng dạy.

4. Đội ngũ cán bộ: 85 điểm.
-

Cơ cấu và số lượng;

-

Ban lãnh đạo và cán bộ quản lý;



Nguồn nhân lực và cơ sở vật chất của nhà trường.

-

Tỉ lệ các doanh nghiệp tham gia trong quá trình đào tạo.

-

Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp.

-

Tỉ lệ sinh viên tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp.

-

Mức độ hài lòng của các sinh viên đã tốt nghiệp (qua điều tra về sự tương
hợp giữa đào tạo và việc làm).

-

Mức độ hài lòng của người tuyển dụng.

Hiện nay, hệ thống giáo dục của Việt Nam đang bắt đầu thực hiện việc kiểm
định. Để tiến hành được qui trình này, cần phải có một lộ trình rõ ràng từ việc
thành lập các Ban kiểm định, nhân viên kiểm định,… đến các tiêu chuẩn kiểm
định, phương pháp kiểm định…bắt đầu từ các trường Đại học, tiếp đến sẽ là các
cơ sở đào tạo khác trong cả nước.
Việc kiểm định này trước hết sẽ thông qua qui trình tự đánh giá của các trường

1.2.2 Đánh giá chất lượng đào tạo và sự hài lòng của học viên về chất lượng đào tạo
Quan niệm về sự hài lòng của học viên
Sự hài lòng của học viên được định nghĩa như là giá trị cảm nhận của học viên về
chất lượng đào tạo. Đó là sự đánh giá của họ về các dịch vụ được cung cấp bởi
nhà trường, những đánh giá của học viên về kết quả và các hoạt động liên quan
đến giáo dục (Kuan-Yao Chiu, 2002).
Sự thỏa mãn của học viên đối với chất lượng đào tạo có thể chịu sự ảnh hưởng
của nhiều yếu tố như động lực học tập, khả năng học tập, quá trình học tập, sự
gắn kết và quyền lợi của người học. Điều này có nghĩa là dạy và học trên lớp


17
không phải là điều duy nhất, thêm sự giám sát trực tiếp của trợ giảng cũng chưa
đủ…, và như vậy, toàn bộ quá trình học tập trở nên vấn đề trung tâm đối với thái
độ của học viên về nhà trường.
Quan hệ giữa sự hài lòng và chất lượng đào tạo
Sự phản hồi từ phía học viên (thể hiện mức độ hài lòng về chất lượng đào tạo) đã
trở thành 1 trong những trụ cột để định hướng cho chính sách đảm bảo chất
lượng đào tạo ở nhiều quốc gia trên thế giới (đặc biệt là trong hệ thống giáo dục
của Anh quốc đối với bậc đào tạo đại học). Bản thân học viên được xem như là
một người liên đới chính (vừa là khách hàng của dịch vụ đào tạo vừa chính là sản
phẩm của đào tạo trong thị trường lao động) vì vậy khi xét về chất lượng đào tạo,
họ có tiếng nói rất quan trọng trong việc đánh giá và nâng cao chất lượng đào tạo
(Dr. Brendan Nelson, 2002).
Do quan điểm từ trước đến nay và theo chính sách giáo dục đào tạo của Chính
phủ Việt Nam thì lĩnh vực giáo dục và đào tạo không được phép thương mại hóa,
do đó quan niệm xem giáo dục và đào tạo là sản phẩm dịch vụ ở Việt Nam xem
ra còn khá xa lạ. Tuy nhiên với xu hướng và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và
hội nhập, việc đảm bảo chất lượng thực sự và đáp ứng yêu cầu thực tế là việc
bức thiết. Chính vì thế mà hiện nay các trường đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn

Chương trình học

Năng lực của
giáo viên

Sự quan tâm của
giáo viên

Cơ sở vật chất

Dịch vụ hỗ trợ
học tập

Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu

Sự hài lòng
của học viên
về chất lượng
đào tạo


19
1.3.2 Các giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của các chương trình
đào tạo, đề tài tập trung vào hai vấn đề sau:
-

Khảo sát đánh giá của học viên về các yếu tố Chương trình học, Năng lực của
giáo viên; Sự quan tâm của giáo viên đối với học viên, Cơ sở vật chất, Các
dịch vụ hỗ trợ học tập tại Học viện Hàng không Việt Nam.

20
thực tế kinh tế xã hội và phù hợp với chức năng nhiệm vụ và nguồn lực của cơ sở
đào tạo.
Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo thông qua đánh giá sự thỏa mãn nhu
cầu của học viên là rất quan trọng vì đó sẽ là căn cứ để các nhà quản lý định
hướng các chương trình đào tạo.
Chương này đưa ra mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo và mối quan hệ của các thành phần này đối với sự hài lòng của học viên
về chất lượng đào tạo.
Chương tiếp theo sẽ giới thiệu khái quát về Học viện Hàng không Việt Nam.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status