I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NễNG TH PHNG
PHáP LUậT Về QUảN Lý THUế XUấT KHẩU, THUế NHậP KHẩU
Và THựC TIễN THI HàNH TạI CHI CụC HảI QUAN
CửA KHẩU HữU NGHị - TỉNH LạNG SƠN
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NễNG TH PHNG
PHáP LUậT Về QUảN Lý THUế XUấT KHẩU, THUế NHậP KHẩU
Và THựC TIễN THI HàNH TạI CHI CụC HảI QUAN
CửA KHẩU HữU NGHị - TỉNH LạNG SƠN
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Lấ TH THU THY
H NI - 2017
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ............ 6
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ........................................................................................... 13
1.2.
Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu ................................................................................. 16
1.2.1. Khái niệm pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu............ 16
1.2.2. Cấu trúc pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ......... 17
1.2.3. Mục tiêu, yêu cầu của pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ........................................................................................... 21
1.2.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu ................................................................................... 22
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 25
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT
KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU HỮU
NGHỊ - TỈNH LẠNG SƠN ................................................................ 26
2.1.
Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu ở Việt Nam ............................................................................... 26
2.1.1. Chủ thể thực hiện quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ............... 26
2.1.2.
3.1.2. Đảm bảo phù hợp với đƣờng lối của Đảng, chính sách của Nhà
nƣớc về xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trong
bối cảnh cải cách hệ thống thuế hiện nay........................................... 91
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về quản lý thuê xuất khẩu, thuế nhập khẩu
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ...................................................... 92
3.2.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu ở Việt Nam ............................................................ 93
3.2.1. Hoàn thiện quy định về khai thuế ...................................................... 93
3.2.2. Hoàn thiện quy định về ấn định thuế ................................................. 94
3.2.3. Hoàn thiện quy định về nộp thuế ....................................................... 96
3.2.4. Hoàn thiện quy định về xoá nợ tiền thuế, tiền phạt ........................... 96
3.2.5. Hoàn thiện quy định về quản lý thông tin ngƣời nộp thuế ................ 97
3.2.6. Hoàn thiện quy định về thanh tra, kiểm tra thuế ................................ 98
3.2.7. Hoàn thiện quy định về cơ chế kiểm soát và chế tài xử phạt ............. 99
3.3.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị
- tỉnh Lạng Sơn .................................................................................. 99
3.3.1. Hoàn thiện công tác quản lý đối tƣợng nộp thuế ............................... 99
3.3.2. Tăng cƣờng chống gian lận qua căn cứ tính TXK, TNK ................. 101
3.3.3. Tăng cƣờng công tác quản lý nợ thuế .............................................. 101
3.3.4. Tăng cƣờng công tác chống gian lận thƣơng mại, kiểm tra sau
thông quan, thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ tại chi cục ...................... 102
Hệ thống thông tin tình báo Hải quan Việt Nam.
VNACCS:
Hệ thống thông quan hàng hóa tự động.
XK, NK:
Xuất khẩu, nhập khẩu.
XNK:
Xuất nhập khẩu.
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Số hiệu
Tên bảng, sơ đồ
Trang
Bảng 2.1. Thống kê số liệu giai đoạn 2010 - 2016
64
Bảng 2.2. Tình hình vi phạm pháp luật giai đoạn 2010 – 2016
68
tƣợng kinh tế - xã hội khác. Sự xuất hiện và phát triển của thuế gắn với mỗi
giai đoạn, lợi ích mà nhà nƣớc sử dụng nó là công cụ điều tiết nguồn thu của
nền kinh tế, xã hội. Ở nƣớc ta, nguồn thu từ thuế giữ vai trò rất quan trọng,
thuế trở thành công cụ hiệu quả để điều tiết hiệu quả nền sản xuất trong nƣớc,
đồng thời thúc đẩy kinh tế trong nƣớc và thƣơng mại quốc tế phát triển.
Thực hiện chủ trƣơng hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, nƣớc ta đã
từng bƣớc chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và
thế giới. Ngày nay, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) cũng nhƣ tham gia đàm phán và kí
kết nhiều hiệp định đa phƣơng và hiệp định song phƣơng với nhiều quốc gia
nhƣ: Trung Quốc, Hoa Kì, Hàn Quốc, Nhật Bản…, và gần đây nhất Việt Nam
đã chính thức gia nhập hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TTP) vào
ngày 4/2/2016 sau hơn 5 năm nỗ lực đám phán. Quá trình toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều thời cơ thuận lợi nhƣng cũng mang lại nhiều
thách thức cho các quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển nhƣ Việt
Nam. Đặc biệt trong lĩnh vực thuế quan. Đối với hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu thuế là một vấn đề quan trọng, thuế trong hoạt động xuất, nhập khẩu là
nguồn thu luôn giữ một tỷ lệ khá lớn vào ngân sách nhà nƣớc. Việc thực hiện
các cam kết quốc tế buộc chúng ta phải cắt giảm thuế quan đã ảnh hƣởng rất
lớn đến nguồn thu từ thuế. Vấn đề giảm thuế quan, xóa bỏ hàng rào phi thuế
quan nhƣng vẫn bảo đảm nguồn thu từ thuế xuất, nhập khẩu là một khó khăn
rất đối với ngành Hải quan. Cùng với đó là hoạt động lƣu thông hàng hóa
ngày càng đa dạng và phong phú với số lƣợng tăng lên nhanh chóng trong
hoạt động xuất, nhập khẩu lại càng thêm gánh nặng lớn hơn nữa cho ngành
1
Hải quan. Tuy nhiên, thuế lại là một vấn đề nhạy cảm và thƣờng gây ra sự
phản ứng đối với ngƣời nộp thuế, để thu thuế hiệu quả và đảm bảo tính công
Xuất phát từ những lý do trên ngƣời viết đã chọn đề tài “Pháp luật về
quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn thi hành tại chi cục
Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn” với mong muốn góp phần
hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về quản lý thuế, nhằm đáp ứng những
đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn, đặc biệt là giai đoạn đất nƣớc ta đang
trong quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay phần lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến thuế
xuất, nhập khẩu đều nhìn nhận từ góc độ kinh tế là chủ yếu, chƣa có nhiều các
công trình nghiên cứu từ giác độ luật học. Một số luận văn, luận án đề cập đến
vấn đề này nhƣ: luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp tăng cường quản lý
thuế xuất nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Danh Hƣng, năm 2004 hay luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp
chống thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế” của tác giả Mai Thị Vân Anh, năm 2015. Trong lĩnh vực luật
học, cũng có công trình nghiên cứu đƣợc đề cập đến vấn đề này nhƣ luận văn
thạc sĩ luật học của tác giả Ngô Khánh Phƣợng, năm 2011 “Pháp luật về
quản lý thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt Nam thực thi cam kết WTO”
và luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, năm 2010
“Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu – Thực trạng và
phương hướng hoàn thiện”. Những công trình nghiên cứu trên đã hệ thống
hóa những vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác hải
quan, công tác thuế… Các đề tài đã có những đóng góp nhất định trong việc
hoàn thiện chính sách pháp luật và phƣơng hƣớng nâng cao hiệu quả quản lý
của cơ quan nhà nƣớc đối với thuế xuất, nhập khẩu. Qua các công trình
nghiên cứu trên luận văn sẽ nghiên cứu một cách đầy đủ hơn về mặt lý luận
cũng nhƣ thực trạng áp dụng các quy định pháp luật quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu, từ đó nêu ra bất cập và nguyên nhân để đề ra các giải pháp
3
4
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quy định pháp luật hiện
hành của cơ quan nhà nƣớc đối với hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ở Việt Nam. Ngoài ra, luận văn còn đề cập cụ thể về thực tiễn thi
hành pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Chi cục Hải quan
cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Phƣơng pháp luận: Chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện
chứng Mác – Lênin để nghiên cứu sâu những vấn đề có tính lý luận và thực
tiễn về pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu và công tác quản lý thuế đó
trong mối quan hệ thúc đẩy ngoại thƣơng, phát triển kinh tế, đảm bảo nguồn
thu cho ngân sách nhà nƣớc.
Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu ngƣời viết còn sử dụng đồng bộ
các phƣơng pháp khoa học nhƣ: phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp logic,
phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp đối chiếu, phƣơng
pháp so sánh, phƣơng pháp chứng minh,…v.v. để làm rõ các nội dung nghiên
cứu của đề tài và rút ra nhƣng kết luận, đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện các
quy định của pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn chia làm 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu và pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ở Việt Nam và thực tiễn thi hành tại chi cục Hải quan của khẩu
Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế
mà thuế quan đƣợc sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau, nên sự cần thiết
phải đánh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đƣợc thể hiện ở các khía cạnh sau:
6
Thứ nhất, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tạo nguồn thu quan trọng cho
ngân sách nhà nƣớc (NSNN). Mục tiêu chung của các quốc gia là sử dụng
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (TXK, TNK) để tạo nguồn thu cho ngân sách
nhà nƣớc. Ðồng thời thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế dễ thu nhất,
ít bị phản ứng từ phía các DN, cá nhân có thực hiện hoạt động XK, NK hàng
hóa. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay Việt Nam tham gia kí kết các hiệp
định về cắt giảm thuế quan thì TXK, TNK cũng bị giảm dần theo lộ trình cắt
giảm thuế quan. Điều này cũng làm giảm nguồn thu cho NSNN.
Thứ hai, thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhà nƣớc điều tiết
việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cấu
thành trong giá cả hàng hoá, làm tăng giá hàng hoá, do đó có tác dụng điều
tiết xuất khẩu, nhập khẩu (XK, NK) và hƣớng dẫn tiêu dùng; bởi vì lƣợng
hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu phụ thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu
tố này lại phụ thuộc vào giá cả. Giá cả hàng hoá cao hay thấp sẽ quyết định
việc giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trƣờng. Hơn nữa,
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sẽ hạn chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ hoặc
các loại hàng hoá không đƣợc khuyến khích sử dụng nhƣ thuốc lá, rƣợu, bia...
Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản
xuất trong nƣớc: việc đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp các nhà
sản xuất trong nƣớc có thể cạnh tranh đƣợc với hàng hoá nhập khẩu. Ðặc biệt
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh các ngành còn non trẻ trong nƣớc có thời gian “trƣởng thành” và sinh
lời để từ đó có thể cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu.
Thứ tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất
quyề n nhập khẩu, quyền phân phối [25, Điều 2].
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu, tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận.
Xét về phƣơng diện kinh tế, thuế XK, thuế NK đƣợc quan niệm là
khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nƣớc theo quy định
của pháp luật, khi họ có hành vi XK, NK hàng hóa qua biên giới một nƣớc.
Với các tiếp cận này, thuế XK, thuế NK đƣợc quan niệm nhƣ là một quan hệ
8
phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá
nhân nộp thuế với ngƣời thu thuế là Nhà nƣớc. Hơn nữa, thuế XK,NK còn có
thể đƣợc hiểu nhƣ là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nƣớc điều
tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia
và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi khu vực
và toàn cầu [31, tr.58].
Dƣới góc độ pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu
đƣợc ghi nhận trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban
hành, đƣợc tổ chức thu bởi cơ quan Hải quan và đƣợc đảm bảo cƣỡng chế
thực hiện [18, tr.179].
Theo từ điển luật học thì thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do hải quan
của một nƣớc thu đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu khi vận chuyển
qua cửa khẩu của nƣớc đó [20, tr. 740].
Từ những nghiên cứu và quan niệm trên về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu ta có thể hiểu khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhƣ sau: Thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải
đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế
hoặc kinh doanh. Tùy thuộc vào mục đích XK, NK mà có sự phân biệt chủ
thể nộp thuế và chủ thể chịu thuế. Đối với cá nhân trực tiếp nhập khẩu cho
tiêu dùng thì cá nhân vừa là ngƣời nộp thuế, vừa là ngƣời chịu thuế, đối với
các cá nhân doanh nghiệp NK nhằm mục đích kinh doanh thì cá nhân, doanh
nghiệp đó là ngƣời nộp thuế, còn ngƣời chịu thuế là ngƣời tiêu dùng.
Ba là, TXK,TNK đƣợc tổ chức thu bởi Cơ quan Hải quan, cơ quan này
cũng đồng thời là cơ quan tổ chức cƣỡng chế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
cùng với các cơ quan có thẩm quyền khác [18, tr. 180, 181].
Bốn là, TXK,TNK bị chi phối bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố hội nhập
kinh tế quốc tế của quốc gia.TXK, TNK thay đổi theo từng giai đoạn, khi chính
10
sách của nhà nƣớc thay đổi và hội nhập với nền kinh tế thế giới chính sách TXK,
TNK cũng phải thay đổi cho phù hợp với từng thời kì nhất định.
1.1.1.4. Phân loại thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Ta có thể phân loại TXK, TNK theo nhiều tiêu chí khác nhau nhƣ: theo
xu hƣớng vận động của hàng hóa, dựa trên mục đích đánh thuế, dựa trên cách
thức đánh thuế, cụ thể nhƣ sau:
Phân loại thuế theo xu hướng vận động của hàng hóa: Thƣờng phổ
biến dƣới ba hình thức đó là: xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, chuyển khẩu.
Gắn liền với ba hình thức này có ba loại thuế: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
thuế quá cảnh, mƣợn đƣờng, thuế chuyển khẩu. Trong đó:
Thuế xuất khẩu: là loại thuế đánh vào hàng hóa đƣợc phép xuất khẩu từ
thị trƣờng trong nƣớc ra nƣớc ngoài hoặc vào khu chế xuất.
Thuế nhập khẩu: là loại thuế đánh vào hàng hóa đƣợc phép nhập khẩu
từ nƣớc ngoài vào thị trƣờng trong nƣớc hoặc từ khu chế xuất vào thị trƣờng
nội địa, khu phi thuế quan.
Thuế quá cảnh, mƣợn đƣờng, chuyển khẩu: là loại thuế đánh vào hàng
Thuế xuất, nhập khẩu tuyệt đối: loại thuế này ghi rõ một số tiền thuế
nhất định cho mỗi đơn vị tính của hàng hóa xuất, nhập khẩu, không phân biệt
chủng loại, giá trị của hàng hóa.
Thuế xuất nhập khẩu theo tỷ lệ %: đây là loại thuế tính theo tỷ lệ %trên giá
trị hàng hóa xuất, nhập khẩu thực tế của mỗi đơn vị hàng hóa xuất, nhập khẩu.
Thuế xuất, nhập khẩu hỗn hợp: là trƣờng hợp áp dụng kết hợp đồng
thời cả hai loại thuế xuất, nhập khẩu tuyệt đối và thuế xuất, nhập khẩu theo tỷ
lệ % đối với cùng một chủng loại hàng hóa.
Thuế xuất, nhập khẩu theo lƣợng thay thế: là trƣờng hợp một mặt hàng
đƣợc quy định đồng thời theo tỷ lệ % và thuế theo một số tiền tuyệt đối,
nhƣng khi tính và nộp thuế phải tính và nộp theo số thuế này cao hơn.
Thuế xuất, nhập khẩu biến thiên: sắc thuế này thƣờng đƣợc ấn định ở
12
một mức, nhằm triệt tiêu ƣu thế về giá cả của nƣớc xuất khẩu đối với hàng
hóa sản xuất trong nƣớc. Loại thuế nhập khẩu kiểu này đƣợc các nƣớc trong
khối Liên minh châu Âu (EU) áp dụng đối với các sản phẩm nông nghiệp.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Để tiếp cận khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trƣớc hết
ta cần tiếp cận từ khái niệm quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt, quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định” [20].
Theo từ điển pháp luật, quản lý là tác động của chủ thể lên đối tƣợng theo
mục tiêu nhất định. Trong đời sống xã hội, quản lý xuất hiện khi có hoạt động
chung của con ngƣời. Quản lý điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con
ngƣời, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
So với các lĩnh vực quản lý khác, quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu có những đặc điểm cơ bản sau:
- Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là quản lý bằng pháp luật.
Toàn bộ hoạt động quản lý TXK, TNK đƣợc quy định chặt chẽ, rõ ràng
trong khuôn khổ pháp luật. Và đƣợc quy định chung trong luật thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu và luật quản lý thuế. Việc quy định nhƣ vậy nhằm tránh
việc huy động tùy tiện mức đóng góp của các thành viên trong xã hội, đảm
bảo công bằng và sự tuân thủ của mọi thành viên trong xã hội. Nhƣ vậy hoạt
động quản lý TXK, TNK mới thực sự có khả năng thực thi trong thực tiễn.
- Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đặc biệt coi trọng phương
pháp hành chính
Phƣơng pháp hành chính trong quản lý TXK, TNK là sự tác động có tổ
chức và điều chỉnh, là sự thiết lập mối quan hệ giữa con ngƣời, giữa cơ quan
14
Hải quan với các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Quản lý TXK, TNK coi
trọng phƣơng pháp hành chính chính là coi trọng công việc văn thƣ, sổ sách
kế toán, bộ phận hành chính trong một cơ quan, cũng nhƣ biện pháp quyền
lực trong quản lý thu thuế nhƣ: cƣỡng chế,… đặc điểm này thể hiện tính pháp
lý thống nhất, chỉ huy và quyền lực của chủ thể quản lý TXK, TNK.
- Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu xét ở tầm vi mô là hoạt động mang
tính kĩ thuật, nghiệp vụ chặt chẽ. Nghĩa là mọi hoạt động quản lý thu TXK, TNK,
thủ tục hành chính phải đƣợc thực hiện theo đúng quy trình cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng
và đƣợc chuyên môn hóa, tiêu chuẩn hóa bằng các văn bản pháp luật mang tính
thống nhất trên toàn quốc và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế [27, tr. 7,8].
Nhƣ vậy, quản lý TXK, TNK là sự tác động của Nhà nƣớc đến ngƣời nộp
thuế dựa trên căn cứ pháp luật nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nƣớc.
TXK, TNK, nhà nƣớc đã thực hiện kiểm soát các hoạt động xuất, nhập khẩu
hàng hóa của các tổ chức, cá nhân qua biên giới Việt Nam. Từ việc kiểm soát
hoạt động XK, NK hàng hóa này, nhà nƣớc có thể có các chính sách quản lý
phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định
hƣớng của nhà nƣớc [33, tr. 11].
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu
1.2.1. Khái niệm pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Quản lý thuế là hoạt động thƣờng xuyên của cơ quan thuế hƣớng tới đối
tƣợng nộp thuế nhằm bảo đảm nguồn thu cho NSNN đầy đủ, kịp thời. Cơ quan
nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tham gia vào quản lý thuế.
Pháp luật quản lý TXK, TNK là bộ phận quan trọng trong pháp luật
thuế mỗi quốc gia, là công cụ quản lý TXK, TNK. Pháp luật quản lý TXK,
TNK điều chỉnh quan hệ về đăng kí thuế, khai thuế, ấn định thuế, hoàn thuế,
nộp thuế, miễn, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, quản lý thông tin ngƣời
nộp thế, kiểm tra thuế, thanh tra thuế, cƣỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại về thuế.
16
Luật Quản lý thuế Việt Nam quy định việc quản lý đối với các loại thuế
và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nƣớc do cơ quan quản lý thuế thu
theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, Luật Quản lý thuế Việt Nam không chỉ
điều chỉnh các quan hệ quản lý thuế của cơ quan thuế mà còn điều chỉnh các
quan hệ quản lý thuế của cơ quan hải quan và các khoản thu do cơ quan hải
quan thực hiện.
Nhƣ vậy ta có thể hiểu: pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thực