LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển hiện nay, việc mở cửa hội nhập quốc tế đã và đang
diễn ra ngày càng gay gắt, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt và nhân tố văn hóa
công sở là một trong những nhân tố tạo nên lợi thế cạnh tranh. Nhận định được
điều này, hệ thống các văn bản quy định về văn hóa công sở đã được ban hành
và áp dụng từ cấp trung ương đến địa phương, từ cơ quan nhà nước đến doanh
nghiệp ngoài quốc doanh. Việc áp dụng các nội dung quy định này sẽ tạo nên sự
thống nhất trong quản lý và tạo dựng được một môi trường làm việc tốt hơn,
lành mạnh, khích lệ người lao động làm việc hăng say hơn, hiệu quả góp phần
cải thiện nền hành chính quốc gia theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu
quả. Bài viết này tôi xin dành để trình bày một số nội dung cơ bản được quy
định về văn hóa công sở của nhà nước ban hành và tình hình triển khai, thực
hiện các quy định đó trong thực tế các cơ quan, doanh nghiệp từ đó đánh giá các
mặt đã đạt được và chưa đạt được nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện nội
dung quy định văn hóa công sở.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu hệ thống các văn bản của Việt Nam về
văn hóa công sở. Nhận xét và đánh giá về tình hình triển khai và thực hiện các
quy định của nhà nước về văn hóa công sở tại một số doanh nghiệp hoặc một số
cơ quan hành chính nhà nước”. Tôi xin cam đoan đây là bài báo cáo thực tập của
tôi trong thời gian qua. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không
trung thực về thông tin sử dụng trong quá trình thực hiện.
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2017
NGƯỜI THỰC HIỆN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................1
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................2
văn hóa công sở...........................................................................................23
3.1.1. Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc...........................................23
3.1.2. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.............................23
3.1.3. Trình độ, năng lực nhận thức của đội ngũ CBCC.............................24
3.1.4. Vị thế, “thương hiệu” của các cơ quan hành chính ..........................25
3.1.5. Mức độ hiện đại hóa công sở.............................................................26
3.2 Một số giải pháp xây dựng văn hóa công sở trong khối cơ quan hành
chính nhà nước............................................................................................26
3.2.1 Xây dựng hệ giá trị chuẩn..................................................................26
3.2.2 Xây dựng bầu không khi làm việc......................................................27
3.2.3 Xây dựng tác phong chuyên nghiệp...................................................27
3.2.4 Xây dựng bộ quy tắc ứng xử..............................................................28
3.3 Một số giải pháp xây dựng văn hóa công sở trong doanh nghiệp.........29
3.3.1 Xây dựng quan niệm lấy con người làm gốc......................................29
3.3.2 Xây dựng văn hóa công sở dựa trên quan niệm hướng tới thị trường.
.....................................................................................................................30
3.3.3 Xây dựng quan niệm khách hàng là trên hết......................................30
3.3.4 Xây dựng tinh thần trách nhiệm xã hội..............................................30
3.4 Một số kiến nghị....................................................................................31
C.PHẦN KẾT LUẬN........................................................................................31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................33
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa là những giá trị được kết tinh mang đặc trưng riêng của mỗi tổ
chức, quốc gia, dân tộc. Bất kể một quốc gia, dân tộc nào muốn trường tồn thì
đều phải có văn hóa riêng. Và văn hóa công sở của cơ quan, doanh nghiệp cũng
không nằm ngoài quy luật đó.
Trong bối cảnh hiện nay với xu thế hội nhập quốc tế, xu hướng phát triển
(xuất bản năm 2012)...
Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài viết, đề tài chuyên đề rải rác trên các tạp
chí chuyên ngành như "văn hóa tổ chức và một số giải pháp phát triển văn hóa
công sở" của tác giả Trần Thị Thanh Thủy trên tạp chí Tổ chức nhà nước (năm
2006); Đề tài nghiên cứu khoa học "Văn hóa công sở" của Ban Cải cách hành
chính của Chính Phủ (tháng 12/2006); Bài viết "Văn hóa công sở, lễ tân và nghi
thức nhà nước" của Thạc sĩ Lê Văn Thiệu-Chuyên viên cao cấp- Trưởng phòng
Đào tạo, Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Tài Chính trên Website chính thức của Bộ
Tài chính trong chuyên mục đào tạo nhân lực (năm 2017)... Và còn rất nhiều các
bài viết trên các Báo, Tạp chí hàng ngày mà ta không thể đề cập hết ở bài viết
này.
Như vậy, có thể thấy đã có rất nhiều bài viết nghiên cứu về văn hóa công
sở cho đến thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của xã
hội thì văn hóa công sở vẫn là một vấn đề nóng cần có nhiều sự điều chỉnh cho
phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội do vậy mỗi bài viết ở mỗi thời điểm
khác nhau sẽ cho ta những cái nhìn đầy đủ hoàn thiện hơn về vấn đề văn hóa
công sở.
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của bài viết là hệ thống các văn bản quy định về
văn hóa công sở và thực tế thực hiện các quy định ấy trong các doanh nghiệp, cơ
quan nhà nước.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài: Các quy định về văn hóa công sở
trong doanh nghiệp và cơ quan hành chính nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
thực hiện các quy định về văn hóa công sở trong các doanh nghiệp và các cơ
2
quan nhà nước hành chính nhà nước. Từ đó dưa ra được các quan điểm giải
đó là làm sáng tỏ hơn tình hình thực tế các quy định về văn hóa của Nhà nước
được áp dụng vào thực tiễn, mang cho ta một cái nhìn hoàn thiện hơn về vấn đề
văn hóa công sở trong các cơ quan hành chính nhà nước và trong doanh nghiệp.
Những điểm đã đạt và những hạn chế còn tồn tại từ đó đưa được các giải pháp
và khuyến nghị mang tính xây dựng và hoàn thiện hơn các quy định về văn hóa
công sở.
7. Cấu trúc của đề tài
Chương 1: Khái quát chung về văn hóa công sở và hệ thống văn bản quy
định về văn hóa công sở ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Tình hình triển khai và thực hiện các quy định của Nhà nước
về văn hóa công sở tại một số cơ quan, doanh nghiệp và cơ quan hành chính nhà
nước hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp trong xây dựng văn hóa công sở trong các cơ
quan hành chính và trong các doanh nghiệp.
4
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ VÀ HỆ
THỐNG VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
1.1 Khái quát chung về văn hóa công sở
1.1.1 Khái niệm
Văn hóa là một hệ thống các giá trị chân lý, chuẩn mực, mục tiêu mà con
người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt dộng sáng tạo.
Nó được bảo tồn và chuyển hóa cho những thê hệ nối tiêp theo sau. Văn hoá là
toàn bộ những hoat động sáng tạo và giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc
động trong công sở mà các thành viên trong công sở cũng tiếp nhận để ứng xử
với nhau trong nội bộ công sở và phục vụ cộng đồng với sự hợp tác, tác động
của hệ thống quan hệ thứ bậc mang tính quyền lực và tính xã hội, tạo nên một
dấu ấn riêng biệt, giúp phân biệt công sở này với công sở khác. Văn hóa công sở
ảnh hưởng đến các thành viên một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các
quy định chính thức như quy chế làm việc…
1.1.2 Vai trò của Văn hóa công sở
Văn hóa bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển, là chìa khóa của sự phát
triển và tiến bộ xã hội. Văn hóa công sở cũng có sự kế thừa và tiếp thu có chọn
lọc những tính văn hóa từ bên trong và bên ngoài công sở, từ quá khứ đến tương
lai cho nên trong một chừng mực nào đó sẽ giúp công sở tạo nên những chuẩn
mực, phá tính cục bộ, sự đối lập có tính bản thể của các thành viên. Yếu tố văn
hoá còn giúp cho mỗi thành viên trong công sở phải tôn trọng kỷ luật, danh dự
của công sở, quan hệ thân ái, đoàn kết, hợp tác vì sự nghiệp chung của công sở.
Hướng các thành viên của tổ chức, doanh nghiệp đến một giá trị chung, tôn
trọng những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực văn hóa của công sở.
Với các cơ quan hành chính nhà nước, văn hóa công sở tạo được tình
đoàn kết và chống lại bệnh quan liêu, cửa quyền. Môi trường văn hóa công sở
tốt đẹp sẽ tạo được niềm tin của cán bộ công chức với cơ quan, với nhân dân
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công sở. Tính tự giác của cán bộ
công chức trong công việc sẽ đưa công sở này phát triển vượt hơn lên so với
công sở khác. Văn hoá công sở còn có vai trò to lớn trong việc xây dựng một nề
nếp làm việc khoa học, kỷ cương và dân chủ. Nó đòi hỏi các thành viên trong cơ
6
quan hành chính nhà nước phải quan tâm đến hiệu quả công việc chung của
công sở, giúp cho mỗi cán bộ, công chức tự nhìn lại, đánh giá mình, chống lại
những biểu hiện thiếu văn hoá như: tham ô, móc ngoặc, quan liêu, hách dịch,
cửa quyền, cơ hội... Đó chính là làm cho cán bộ công chức hoàn thiện mình.
- Thái độ, giao tiếp ứng xử: Là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu
ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa công sở. Thái độ giao tiếp ứng xử trong văn hóa
công sở phần nhiều là bắt nguồn từ trình độ văn hóa của lao động trong công sở
và văn hóa vùng miền nơi công sở làm việc. Thái độ ứng xử giao tiếp trong công
sở hay còn gọi là văn hóa ứng xử trong văn hóa công sở. Văn hóa ứng xử trong
công sở là các mối quan hệ ứng xử giữa cấp trên với cấp dưới, giữa các đồng
nghiệp với nhau, giữa con người với công việc, được xây dựng trên những giá
trị chung của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có một cách văn hóa ứng xử
riêng, mang đặc điểm riêng, phù hợp với văn hóa ứng xử của cộng đồng. Sự
phát triển của doanh nghiệp phải gắn liền với việc xây dựng, củng cố các mối
quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, chỉ khi đó doanh nghiệp mới phát triển bền
vững.
- Bài trí công sở: Đây cũng là một trong những yếu tố cấu thành văn hóa
công sở và tạo nên sự nhận diện bằng hình ảnh của doanh nghiệp, cơ quan, tổ
chức. Nội dung của yếu tố này bao gồm việc quy định về treo quốc kỳ, quốc
huy, biển tên và cách bố trí phòng làm việc, nơi để phương tiện làm việc. Với
các cơ quan hành chính nhà nước việc treo quốc huy, quốc kỳ còn với các doanh
nghiệp thì quy định này không mang tính chất bắt buộc trừ các tổ chức, doanh
nghiệp có hoạt động liên quan đến cơ quan nhà nước.
Ngoài ra văn hóa công sở còn là các yếu tố phong tục tập quán, vị trí địa
lý, đạo đức xã hội, dư luận xã hội, thiết chế bộ máy cơ quan.. Với mỗi vùng
miền địa lý mà công sở đóng tại đó sẽ bị ảnh hưởng bởi văn hóa , đạo đức xã hội
của vùng miền đó tác động. Thiết chế tổ chức bộ máy cũng ảnh hưởng nhiều đến
văn hóa công sở. Những công sở là cơ quan quản lý nhà nước sẽ có các yêu cầu,
quy định về văn hóa công sở khác với các công sở là doanh nghiệp tư nhân hay
tổ chức nước ngoài....
1.2 Hệ thống các văn bản quy định của Nhà nước về văn hóa công sở
Văn hóa công sở là một trong những vấn đề quan trọng trong sự phát triển
của đất nước trong thời kỳ đổi mới do vậy văn hóa công sở rất được nhà nước
8
CBCC.
Từ các văn bản chung, có hiệu lực cao nhất như Luật Cán bộ, công chức;
9
Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước; Quyết định
của các Giám đốc sở văn hóa về ban hành quy chế văn hóa công sở tại các quan
thuộc tỉnh, thành phố quản lý. Và khi về các cơ quan hành chính cấp thấp nhất,
lãnh đạo các cơ quan đó có thể xây dựng các quy định về văn hóa công sở của
cơ quan trên cơ sở những quy định của văn bản cao hơn, không làm trái luật.
Các quy định này thường được thể hiện dưới dạng "Quy chế nội bộ", "Nội quy
nội bộ cơ quan". Việc tuân thủ các quy định này mang tính bắt buộc, mọi cán bộ
công chức làm việc trong các cơ quan đều phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Chúng ta có thể tóm tắt hệ thống các văn bản của nước ta quy định về văn
hóa công sở trong sơ đồ dưới đây:
LUẬT CÁN BỘ CÔNG CHỨC
QUYẾT ĐỊNH SỐ 129/2007/QĐ-TTg NGÀY 02/8/2007
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
QUYẾT ĐỊNH BAN HÀNH QUY CHẾ VĂN HÓA
CÔNG SỞ CỦA CÁC BỘ, BAN NGÀNH, TỈNH
QUY CHẾ QUY ĐỊNH VĂN HÓA CÔNG SỞ NỘI BỘ
CỦA CÁC CƠ QUAN
(Các quy chế văn hóa công sở của cơ quan cấp thấp hơn ban hành không
được làm trái các quy định của Luật, của các quy định của cơ quan cấp trên)
Qua sơ đồ trên ta thấy được hệ thống văn bản quy định về văn hóa công
ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI MỘT SỐ CƠ
QUAN, DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Một số quy định cơ bản của Nhà nước về văn hóa công sở
- Về trang phục khi làm việc:
Lễ phục của nam cán bộ, công chức, viên chức: bộ comple, áo sơ mi,
cravat.
Lễ phục của nữ cán bộ, công chức, viên chức: áo dài truyền thống, bộ
comple nữ. Với trang phục mùa hè là váy không được quá đầu gối, không ăn
mặc hở hang không phù hợp với môi trường làm việc.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số, trang
phục ngày hội dân tộc cũng coi là lễ phục.
Các CBCC nhà nước khi thực hiện công việc đều phải đeo thẻ khi làm
việc. Nội dung thông tin ghi trên thẻ đã được quy định rõ trong Quyết định
129/2007/QĐ-Ttg về ban hành quy chế văn hóa công sở trong các cơ quan hành
chính nhà nước.
- Về thái độ giao tiếp, ứng xử trong cơ quan:
Cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành nhiệm vụ phải thực hiện các
quy định về những việc phải làm và những việc không được làm theo quy định
của pháp luật.
Trong giao tiếp và ứng xử, cán bộ, công chức, viên chức phải có thái độ
lịch sự, tôn trọng. Ngôn ngữ giao tiếp phải rõ ràng, mạch lạc; không nói tục, nói
tiếng lóng, quát nạt.
Trong giao tiếp và ứng xử với nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức
phải nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về các quy
định liên quan đến giải quyết công việc.
Cán bộ, công chức, viên chức không được có thái độ hách dịch, nhũng
nhiễu, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ.
Trong giao tiếp và ứng xử với đồng nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức
phải có thái độ trung thực, thân thiện, hợp tác.
12
và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý hành chính
nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cơ quan hành chính nhà
13
nước hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tổ chức và hoạt động trên
nguyên tắc tập trung dân chủ. Tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chổ: Cơ quan
hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước; Cơ quan hành chính
nhà nước nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực
hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Mỗi cơ quan hành chính nhà nước đều hoạt
động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền nhất định và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc
được giao. Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu, tổ chức phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước là đối tượng áp dụng nội
dung quy định về văn hóa công sở theo quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày
02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các
cơ quan hành chính nhà nước. Nội dung của quy chế này bao gồm các điều mà
các CBCC được phép thực hiện và không được thực hiện khi làm việc nhằm tạo
dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại trong thời kỳ mới.
Ngoài những quy định của Luật Cán bộ công chức và Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ về văn hóa công sở thì bản thân các tỉnh, các cơ quan đều có
những quy định thêm sát với thực tế hoạt động của cơ quan hành chính địa
phương. Tuy nhiên việc thực hiện của các CBCC có những điểm đã đạt dược và
những hạn chế còn tồn tại cần được khắc phục.
2.2.1 Những kết quả đã đạt được
Việc quy định rõ ràng nội dung của văn hóa công sở, sát với thực tế hoạt
động của các cơ quan hành chính nên chúng ta đã đạt được các kết quả sau:
- Về trang phục khi đi làm: Việc thực hiện các quy định về trang phục khi
làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện tương đối nghiêm
- Các hành vi bị cấm theo quy định như: Hút thuốc lá trong phòng làm
việc; Sử dụng đồ uống có cồn tại công sở, trừ trường hợp được sự đồng ý của
lãnh đạo cơ quan vào các dịp liên hoan, lễ tết, tiếp khách ngoại giao..Tuy đã
được phổ biến và bắt buộc thực hiện nhưng những hành vi này vẫn tiếp diễn
hàng ngày. Việc vi phạm các hành vi này không chỉ ở các CBCC mà còn xảy ra
ở các cấp lãnh đạo. Điều này cần được khắc phục hơn nữa để giữ gìn hình ảnh
CBCC làm việc chuyên nghiệp.
- Về thái độ thực hiện công việc:
15
Một bộ phận không nhỏ các CBCC, đảng viên kể cả một số cán bộ, đảng
viên cao cấp thiếu tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, phai nhạt lý tưởng,
giảm sút ý chí, kém về ý thức kỷ luật, tha hóa về lối sống đạo đức. Bộ phận
CBCC này chưa thực sự lấy việc phục vụ nhân dân làm thước đo hàng đầu cho
kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình cho nên thái dộ phục vụ nhân dân của họ
còn mang nặng tính cai trị theo kiểu ban phát, thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng
người dân, cơ quan, doanh nghiệp đến làm việc. Từ nhận thức đó đã dẫn đến
tình trạng quan liêu, cửa quyền gây sách nhiễu phiền hà nhân dân nhằm lợi
dụng chức vụ quyền hạn để nhận hối lộ.
Không tôn trọng hoặc xem nhẹ kết quả làm việc của đồng sự là một trong
những thực tế tồn tại trong một số công sở hiện nay. Thông thường thì người ta
rất trọng dụng người có tài, nhưng người có tài thực sự thì hay có chứng tật mà
đã là có chứng tật thì người ta cứ chiếu vào tật để mà đánh giá, nhận xét. Nhiều
khi đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, tuy có tiêu chí mức độ
hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, nhưng lắm lúc kết quả đánh giá lại thiên về
những điều không ăn nhập gì với chuyên môn. Vì vậy, mới có chuyện người tài
bị cô lập, họ rơi vào trạng thái “cô đơn trong công sở”, họ không phát huy được
năng lực của mình và kết cục tất yếu là “chảy máu chất xám”.
- Về bài trí, thiết kế công sở
tượng đó không được tu sửa, thay mới thưởng xuyên do vậy làm xấu đi hình ảnh
của biểu tượng quốc gia và làm giảm tính thiêng liêng, uy quyền của hai biểu
tượng quốc gia. Đây là một yếu tố rất nhỏ trong văn hóa công sở nhưng nó vô
cùng quan trọng vì nó thể hiện cho sự đại diện quyền lực, sự thay mặt nhà nước
của các cơ quan công quyền và thể hiện niềm tự tôn dân tộc, sự tôn trọng, biết
ơn những cha ông đã hy sinh vì tổ quốc để chúng ta có cuộc sống ấm no hạnh
phúc như hiện tại. Tình trạng này nên được đôn đốc, nhắc nhở của quản lý, lãnh
đạo các công sở để khắc phục sớm.
- Vẫn còn các hiện tượng đun nấu, thắp nhang trong công sở. Hầu hết các
văn phòng, trụ sở làm việc của cơ quan công quyền vẫn còn tiếp diễn tình trạng
thờ cúng thậm chí còn lập bàn thờ riêng trong phòng làm việc riêng. Tuy sự việc
này diễn ra thường xuyên nhưng không được nhắc nhở hay lập biên bản. Có thể
do đây là một trong những nét văn hóa tín ngưỡng của người Việt nên khó để
thực hiện đúng.
17
- Việc sử dụng bia rượu trong quá trình làm việc vẫn là một vấn đề nan
giải hiện nay. Chúng ta không hề khó bắt gặp tình trạng những cán bộ làm việc
với dân mà có sử dụng chất kích thích là bia rượu dẫn đến những khó chịu với
người dân. Những vụ việc này đã được báo đài đưa tin liên tục do vậy hành vi
này đã được kiểm soát nhưng không đi sâu đi sát và thực hiện còn mang tính
chất hình thức nên vấn đề chưa được giải quyết triệt để.
2.2.3 Nguyên nhân của tình hình thực hiện quy định văn hóa công sở
- Trình độ, năng lực nhận thức của các CBCC được biểu hiện qua mức độ
nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, chức trách, quyền và nghĩa vụ của
bản thân; hệ thống các quy tắc xử sự với cấp trên, đồng nghiệp và với nhân
dân… Trình độ, năng lực nhận thức còn biểu hiện thông qua mức độ tự giác thực
hiện các quy chế, quy định làm việc của cơ quan, các quy tắc, chuẩn mực ứng
xử. Nếu CBCC nhận thức rõ và có ý thức tuân thủ, bảo vệ và duy trì những quy
- Số lượng các văn bản quy định về văn hóa giao tiếp, ứng xử của các cơ
quan nhà nước hiện nay tương đối nhiều, nhưng thiếu tập trung, thống nhất.
Sau khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế văn
hóa công sở (năm 2007), đã có hàng chục quy chế, quy tắc về giao tiếp, ứng xử
của CBCC được các bộ, ngành và nhiều cơ quan ở trung ương, địa phương ban
hành, nhiều nhất là năm 2008. Tuy nhiên, về mặt hình thức cũng như kết cấu văn
bản chưa có sự thống nhất. Qua khảo sát nội dung của các văn bản nói trên, chưa
thấy sự phân cấp rõ ràng trong các quy định của Chính phủ và các cơ quan cấp
dưới. Vì vậy, mặc dù có rất nhiều điều luật, nhưng muốn trả lời được câu hỏi:
chuẩn mực chung cho hoạt động giao tiếp, ứng xử của mọi CBCC trong thực thi
công vụ là gì thì phải tìm ở nhiều văn bản khác nhau và cũng chưa bao quát hết.
Theo quy định, văn bản của cấp dưới cần cụ thể hóa các quy định trong
văn bản của cấp trên. Nhưng xem xét nội dung của một số quy tắc giao tiếp, ứng
xử do các bộ ban hành cho thấy nhiều quy định trong Luật cán bộ, công chức,
Luật Phòng, chống tham nhũng và Quy chế văn hóa công sở do Thủ tướng
Chính phủ ban hành đã được lặp lại khá nhiều. Mặt khác, do cấu trúc các
chương, phần chưa hợp lý, nên nhiều hành vi đã được quy định ở phần này lại
được quy định tiếp ở các phần sau, tạo ra sự chồng chéo không cần thiết.
- Các quy định chủ yếu mới là những nguyên tắc, những yêu cầu cơ bản,
tính cụ thể chưa cao, nên việc thực hiện của CBCC và việc xử lý vi phạm của
19
các cơ quan sẽ gặp khó khăn và chế tài của các quy định chưa rõ ràng và chưa
đủ mạnh. Việc ban hành các quy định phần nào còn nặng về “giải quyết tình
thế”. Vì vậy, một số cơ quan ban hành các quy định khi chưa dựa trên kết quả
khảo sát, nghiên cứu thực tế, chưa tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chính là
CBCC và công dân. Trên thực tế, cách làm của một số cơ quan là giao cho một
nhóm soạn thảo, rồi đưa ra xin ý kiến trong các cuộc họp chung, sau đó trình
lãnh đạo ký ban hành. Cách làm này nặng về hình thức, chưa phát huy được trí
đồng phục riêng biệt mang đậm nét đặc trưng nhận diện cho doanh nghiệp... Ví
dụ như màu sắc, hình dáng, kiểu trang phục. Quy định về trang phục của công
sở trong các doanh nghiệp được linh hoạt theo các ngành nghề, lĩnh vực hoạt
động của doanh nghiệp. Việc không sử dụng đúng đồng phục sẽ bị phạt kỷ luật
ngay lập tức nên có tính răn đe rất cao.
- Về thái độ, cách ứng xử giữa các cá nhân làm việc trong doanh nghiệp
đạt được các thành tựu sau:
Sự thành thực (thể hiện là nói thật, không gian dối, cam kết thực hiện
những gì mình hứa hẹn và đảm bảo đúng những gì mình sẽ thực hiện).
Sự tự giác (thể hiện ở mức độ sẵn sàng với công việc, không ngại khó
khăn, làm việc hết mình vì lợi ích của tổ chức)
Sự khôn khéo (biết nói những gì cần nói, hỏi những điều cần hỏi, tranh
luận những điều đáng tranh luận và sắp xếp những gì hợp lý nhất)
Có được những thành tựu này là do trong doanh nghiệp sự cạnh tranh đào
thải rất lớn do vậy việc các cá nhân phải tự hòa nhập, thích nghi với văn hóa
công sở trong doanh nghiệp để có thể phát triển cùng doanh nghiệp. Đây chính
là đòn bẩy cho sự tự giác và tuân thủ chừng mực trong giao tiếp công sở tại các
công sở là doanh nghiệp.
- Về bố trí văn phòng trụ sở nơi làm việc hiện nay của các doanh nghiệp
ngày càng có xu hướng mở. Công sở hiện nay đang được thiêt kế theo xu hướng
ngày càng hiện đại, sang trọng mà ấm áp để tạo cảm giác là ngôi nhà thứ hai với
các cá nhân làm việc trong tổ chức.
- Về những chuẩn mực đạo đức, các giá trị đạo đức được thiết lập trong
quy chế về văn hóa công sở của doanh nghiệp thường là các slogan, tôn chỉ kinh
doanh của các doanh nghiệp. Các quy định về văn hóa công sở phải được thực
hiện tuân theo những giá trị đạo đức cốt lõi mà doanh nghiệp đã đề ra.
21