Biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo ở một số trường mầm non Tp. HCM - Pdf 47

1
PHẦN MỤC LỤC
Chương I:
Trang
1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của đơn vị ...…………………. 2
2. Tổ chức của đơn vị....………………………………………………… 3
Chương II:
I. Lý do chọn đề tài……………………………………………………..

5

II.Mục đích nghiên cứu………………………………………………..

6

III.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................

6

IV.Phương pháp nghiên cứu...…………………………………………

7

Chương III:
1.Cơ sở lý luận.................................................................................

8

2.Cơ sở thực tiễn..............................................................................

9


17

3.4. Xây dựng môi trường làm việc ngay tại gia đình………………..

17

3.5. Phân công công việc……………………………………………...

17

3.6. Duy trì thói quen và cách làm việc………………………………

18

3.7. Khuyến khích kết quả tốt đẹp trẻ làm được…………………….

18

4. Kết quả……………………………………………………………..

18

5. Bài học kinh nghiệm……………………………………………….

19

Chương IV:
1.Kết luận……………………………………………………………..


Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Các bé mẫu giáo được học thêm các môn
năng khiếu nhằm khai thác tối đa những khả năng tiềm ẩn trong con người
bé( vẽ, anh văn, múa).
Trường có khuôn viên trường lớp rộng rãi, thoáng mát. Cơ sở vật chất
được trang bị đồng bộ hiện đại, các phòng học đều được trang bị điều hoà hai
chiều, các phòng chức năng đều được trang bị đầy đủ thiết bị phục vụ dạy và
học, đồ chơi được sắp xếp trưng bày góc theo từng chủ đề, chủ điểm đạt tiêu
chuẩn, để phục vụ tốt hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ toàn diện.
Trường còn có hệ thống camera quan sát tổng quát phụ huynh có thể
thấy con mình, có thể theo dõi trực tiếp mọi sinh hoạt của trẻ ở trường. Tất cả
các hoạt động của trường đều được kiểm tra một cách chặt chẽ, chu đáo đến
từng chi tiết nhỏ. Đây chính là nét mới trong chất lượng đầu tư của một trường
tư thục.
Với tất cả những giá trị thiết thực mà nhà trường mang đến cho học sinh
với mức học phí vừa phải, trường mầm non Toàn Thắng là địa chỉ lý tưởng
cho tương lai học vấn của con em nhà bạn.
2. Tổ chức của đơn vị
*Sơ đồ tổ chức
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Võ Thị Thu Hương

HIỆU TRƯỞNG
Nguyễn Thị Hằng Ni


4

ĐẠI DIỆN PHHS
Võ Thị Hoa
PHÓ HIỆU TRƯỞNG

Y TẾ

Đoàn Ngọc
Thiên
Thanh

Trần Thị
Bảo Thy

CẤP
DƯỠNG
Nguyễn Thị
Dung
Lệ Nguyền

* Đặc điểm của trường
- Số phòng học của trường:
- Diện tích:
- Ban giám hiệu:
- Nhân viên:
- Giáo viên:
- Học sinh:
- Lớp nhà trẻ:
- Lớp mầm:

9
2360m²
3 người
15 người
9 người

cũng như giáo dục kỹ năng tự phục vụ (GDKNTPV) giúp trẻ phát triển cả
thể chất lẫn trí tuệ. GDKNTPV phải bắt đầu từ việc định hướng cho trẻ lứa
tuổi mẫu giáo (MG) những hành vi tốt, GD trẻ biết nhận thức, biết tự phục
vụ cho bản thân, nên giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ lứa tuổi MN là vấn
đề cấp thiết cần đặt lên hàng đầu, khi con người nhận thức được khả năng
của chính mình thì vận dụng các kỹ năng sống (KNS) khác một cách có hiệu
quả.
GDKNTPV cho trẻ MG không chỉ như một mục tiêu GD mà còn
như một nhiệm vụ GD cụ thể, vì trẻ MG đã hình thành cơ sở ban đầu của
nhân cách. Việc GDKNTPV nhằm GD tính tự lập cho trẻ ngay từ nhỏ. Trong
giai đoạn đổi mới GD trẻ MG hiện nay, một số trường MN đa số giáo viên
(GV) đã xác định được sự cần thiết của GDKNTPV cho trẻ MG. Tuy nhiên,
họ còn lung túng trong cách tổ chức các hình thức học tập, sử dụng PPDH
( phương pháp dạy học)…Do đó, GV chỉ tập trung vào GD hành vi, chưa
chú trọng vào khía cạnh nhận thức và thái độ của trẻ, làm giúp cho trẻ những
công việc mà lẽ ra trẻ hoàn toàn có thể tự làm được khi được GDKNTPV.
Bên cạnh đó, các bậc phụ huynh nhận thức việc GDKNTPV cho trẻ chưa
đúng như: chỉ chú trọng dạy con học đọc, học viết, chiều chuộng con cái
không đúng, không chú trọng GD con mình ăn, uống như thế nào, khả năng
sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống ra sao khiến trẻ không có
KNS ( kỹ năng sống). Chính vì thế đã khiến cho trẻ thiếu tự tin vào bản thân
mình, có xu hướng rụt rè, nhút nhát trong giao tiếp với những người xung
quanh đặc biệt là trong đời sống xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay. Thiếu
KNTPV sẽ dẫn đến hệ luỵ trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia
vào các hoạt động của tập thể.
Trong tình hình chung của nước ta hiện nay việc GDKNTPV cho trẻ
có nhiều bất cập và thông qua quá trình tìm hiểu khi đi kiến tập, thực tập ở
các trường MN TP.HCM việc GDKNTPV cho trẻ cũng bộc lộ những hạn chế



như đức, trí, thể, mỹ .
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng tự phục vụ
cho trẻ mẫu giáo 4 tuổi.


8
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Lớp mẫu giáo 4 Tuổi - Trường mầm non Toàn Thắng – Xuân Thới
Thượng – Tp.Hồ Chí Minh.
3.Thời gian nghiên cứu: Từ 31/3/2017 đến 29/4/2017

IV. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã sử dụng các
phương pháp sau:
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
4. Phương pháp thống kê toán học.


9

CHƯƠNG III: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận:
Tính tự lập được hình thành rất sớm và là một biểu hiện tâm lí có ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành các phẩm chất nhân cách của trẻ. Một
số dấu hiệu đáng tin cậy của bắt đầu sự hình thành tính tự lập, đó là nhu cầu tự
khẳng định mình xuất hiện. Trẻ muốn tự làm một số công việc trong sinh hoạt

trở nên năng động hơn, tự lập hơn mà còn tạo tiền đề để trẻ phát triển theo
hướng tích cực trong tương lai. Nếu trẻ không có kỹ năng tự phục vụ bản thân,
trẻ sẽ không thể chủ động và tự lập trong cuộc sống hiện đại. Đây là một thiệt
thòi rất lớn trong quá trình trưởng thành và phát triển của trẻ sau này.

2. Cơ sở thực tiễn:
Bộ Giáo dục & Đào tạo đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện- học sinh tích cực” với những kế hoạch nhất quán từ
Trung ương đến địa phương. Phòng Giáo dục & Đào tạo Hiệp Hòa cũng đã có
kế hoạch từng năm học với những biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện kỹ năng
sống cũng như kỹ năng tự phục vụ cho trẻ . Đây chính là những định hướng
giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình
huống trong cuộc sống; thói quen và kỹ năng học tập, sinh hoạt theo nhóm;


11
rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe; kỹ năng phòng, chống tai nạn
giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện kỹ năng ứng
xử văn hóa; chung sống hòa bình; phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội.

*Thực trạng :
Năm học 2016-2017 tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi.
Tổng số trẻ là 30 cháu. Qua nghiên cứu tình hình đầu năm học tôi thấy có
những khó khăn và thuận lợi sau :
a.Thuận lợi
- Trường mầm non Toàn Thắng là một trường điểm của huyện Hóc Môn
vì vậy cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, phòng học được xây dựng kiên cố có
đầy đủ đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho trẻ học. Các cháu được ăn bán trú
tại lớp 100%.
- Các cháu trong lớp đa phần sống trên địa bàn thị trấn có điều kiện phát

– Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm,
không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh.
* Kết quả khảo sát ban đầu:
Tôi khảo sát thực tế về khả năng tự phục vụ của trẻ, kết quả nhận được
như sau:

Nội dung khảo sát
Tự cầm ca nước để uống
Tự xúc cơm ăn
Tự dẹp chén sau khi ăn
Tự cởi, mặc quần áo
Đánh răng sau khi ăn
Tự mang giầy, dép
Tự xếp mền, gối sau khi ngủ dậy
Khả năng trẻ tự làm mà không cần GV nhắc
nhở

Đạt
Số
lượng
20
21
15
17
10
13
16

Tỉ lệ
66.7

83.4

Bảng 1. Kết quả khảo sát khả năng tự phục vụ của các cháu trong lớp

Thời gian đầu, khi tôi mới nhận lớp, tôi thấy khả năng nhận thức của
các cháu chưa tốt, khả năng tự phục vụ còn hạn chế (bảng 1). Có nhiều cháu


13
nói chưa tốt, chưa biết một số thói quen tự phục vụ đơn giản như: Có 33.3%
cháu khát nước, muốn uống nước nhưng không biết cách lấy nước uống,
không biết cách cầm ca uống nước như thế nào cho không bị đổ. Có một số trẻ
khi có nhu cầu đi vệ sinh nhưng lại không biết cởi quần nên bị tè dầm ra quần
(43.3%). Có 70% cháu có thể tự cầm muỗng xúc cơm ăn, 56.7% cháu không
biết mang giày, 50% ăn xong không biết dẹp chén, không biết giúp đỡ ba mẹ,
cô giáo hay bạn bè xung quanh những công việc vừa sức... Bên cạnh đó còn có
nhiều cháu nghe chưa kịp và chưa hiểu các hiệu lệnh của cô: “Các con hãy
giúp cô khiêng ghế xếp vào bàn”... Chính vì không hiểu nên trẻ không thực
hiện được. Tuy nhiên có một số trẻ có kĩ năng tự phục vụ rất tốt nhưng lại
thiếu tính chủ động (83.4%), trẻ luôn đợi chờ người lớn nhắc nhở thì trẻ mới
chịu làm...
Để có những biện pháp hay, thiết thực nhằm hướng dẫn trẻ kĩ năng tự
phục vụ, đầu tiên tôi sẽ tìm hiểu những nguyên nhân đưa đến việc trẻ chưa có
khả năng tự phục vụ và ý thức tự phục vụ của trẻ chưa tốt:
- Nguyên nhân thứ nhất: xuất phát từ phía trẻ, có một số cháu có do khả
năng tiếp thu chậm hoặc không chịu tập trung khi cô hướng dẫn, điều này sẽ
khiến cho giáo viên dễ trở nên bực mình và có thể la mắng hoặc đánh trẻ. Đối
với những giáo viên có cái tâm thì cố kìm chế bản thân để hướng dẫn cháu đến
nơi đến chốn. Nhưng bên cạnh đó lại có những cô sợ bản thân mình kìm chế
không được nên đã bỏ thí cho trẻ tự mày mò hoặc làm luôn giúp trẻ. Việc này

Qua việc áp dụng sáng kiến này tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé đưa
ra một số biện pháp giúp trẻ 4 – 5 tuổi hình thành kĩ năng tự phục vụ.
Trong năm học 2016 – 2017, tôi đã suy nghĩ và áp dụng một số biện pháp
giúp cháu lớp Mầm có thói quen tự phục vụ.
3.1. Khảo sát khả năng của trẻ:
Từ những nhận thức của mình về vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu
giáo, tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công việc. Và để gặt hái
được nhiều kết quả tốt trong quá trình thực hiện nên ngay từ đầu năm học tôi
đã tiến hành khảo sát trẻ theo những 7 kĩ năng cấn thiết để giáo dục tính tự lập
cho trẻ mà tôi đã xác định ở trên (bảng 1).
3.2. Đặt mục tiêu hướng dẫn và rèn luyện những kĩ năng cần thiết.
Tôi hướng dẫn các cháu phát triển một số kĩ năng hỗ trợ nhằm giúp trẻ
phát triển hoàn thiện và có khả năng thích ứng trong mọi hoàn cảnh thực tế
như:
- Hướng dẫn trẻ phát triển kĩ năng tự chăm sóc bản thân.
- Hướng dẫn trẻ phát triển kĩ năng tự bảo vệ.
- Hướng dẫn trẻ phát triển kĩ năng thích nghi.

3.2.1. Hướng dẫn trẻ phát triển kĩ năng tự chăm sóc bản thân:


15
Việc trẻ biết tự chăm sóc mình là những viên gạch đầu tiên xây dựng tính
tự tin, tự lập và ứng phó với những đòi hỏi khác.
Ví dụ : Khi trẻ biết cách xếp quần áo thì sau này khi đi học trẻ dễ dàng áp
dụng kĩ năng đó vào việc xếp sách vở, đồ dùng đi học. Khi đi làm trẻ sẽ biết
sắp xếp công việc tốt hơn. Nếu trẻ không biết mang đôi vớ, giặt bộ quần áo
cho chính mình thì trẻ cũng sẽ không biết làm điều đó cho người khác.
Dạy cho trẻ khả năng tự chăm sóc mình, ngoài việc tốt cho bản thân trẻ,
trẻ tự chăm sóc mình cũng là cách giúp đỡ những người trong gia đình… Trẻ

3.2.2.1. Kĩ năng nhận biết nguy hiểm:
Dạy trẻ học cách nhận biết đồng thời hành động những hành động đúng
và kịp thời bảo vệ bản thân qua các tình huống. Các mối nguy hiểm trong nhà
như: gas, bàn ủi, điện, nước nóng, dao kéo. Các mối nguy hiểm ngoài xã hội:
Quấy rối, bắt cóc, bắt nạt, trộm cắp, cướp, lạc đường. Các mối nguy hiểm bất
ngờ: Cháy nổ, kẹt thang máy, chó cắn, ong đốt, ngộ độc… Các mối nguy hiểm
ngoài môi trường: động đất, lũ lụt, bị sa vào vũng lầy, sông nước.
3.2.2.2. Kĩ năng tự xoay sở:
Không phải những vấn đề trong cuộc sống đều được giải quyết một cách
dễ dàng và bạn sẽ phải truyền đạt điều ấy cho trẻ khi chúng đối mặt với thử
thách lớn và không phải lúc nào cũng có người lớn bên cạnh để giúp trẻ giải
quyết vấn đề. Khi trẻ gặp phải một vấn đề nào đấy, tôi không thay trẻ giải
quyết mọi vấn đề, trừ trường hợp bắt buộc phải làm như thế. Thay vào đó, tôi
giúp các em tìm kiếm giải pháp thích hợp, điều này sẽ thể hiện sự tin tưởng
của mình đối với trẻ có khả năng tự giải quyết vấn đề. Những việc hằng ngày
mà tôi thực hiện luôn nhằm khuyến khích kĩ năng giải quyết vấn đề của trẻ
giúp trẻ có những sáng kiến tốt hơn trong cuộc sống khi chúng lớn lên. Tôi chỉ
là chỗ dựa cho học sinh của tôi chứ không phải là người giải quyết vấn đề cho
các em
3.2.3. Hướng dẫn trẻ phát triển kĩ năng thích nghi:
Thích nghi là một kĩ năng sống quan trọng vì nếu kĩ năng giao tiếp là
bước đầu để tiếp xúc với môi trường bên ngoài với những người xung quanh,
thì thích nghi chính là bước tiếp theo để có thể hòa nhập hoặc phản ứng lại với
môi trường bên ngoài.
Đứa trẻ nếu có kĩ năng giao tiếp tốt có thể đạt được những thành công với
những người xung quanh trong việc tham gia vào các hoạt động cùng với họ,
là bố mẹ ông bà hay các bạn của trẻ. Thế nhưng nếu trẻ không có khả năng
thích nghi thì cũng khó mà đạt được những kết quả tốt cho cuộc sống của
mình.
3.2.3.1. Kĩ năng thích nghi các loại thức ăn:

Quan điểm của tôi là rèn luyện tính chịu đựng trước khó khăn và phải tự
lập chủ động trong mọi biến cố có thể xảy ra. Qua những bài rèn luyện thể
chất, rất ít trẻ mắc bệnh về đường hô hấp như sổ mũi, viêm họng... do thay đổi
thời tiết.
3.2.3.3. Kĩ năng thích nghi với đám đông :
Con người có hai loại tính khí chính là tính hướng nội và tính hướng
ngoại, và trong mỗi loại tính cách đó lại có 4 nhóm cá tính khác nhau. Các


18
nhóm này thường có sự phối hợp để tạo nên những mẫu người có cá tính khác
nhau. Vì vậy, tôi cho trẻ làm quen với đám đông phải dựa trên tính cách của
các trẻ, tùy trẻ thuộc loại tính khí nào! Với trẻ hướng ngoại thì chúng ta không
cần lo ngại, vì trẻ thường có xu thế thích đám đông, thích sự ồn ào vui vẻ, náo
nhiệt, thích các hoạt động tập thể. Còn với trẻ hướng nội thì trẻ sẽ ngại tiếp
xúc với đám đông, có vẻ như dụt dè nhút nhát. Nhưng các bé cũng có những
ưu điểm để có thể thành công, đôi khi còn tốt hơn cả trẻ hướng ngoại nếu được
sự định hướng đúng cách của người lớn. Tôi giúp trẻ quen dần với đám đông
qua việc cho trẻ tham gia các giờ học dã ngoại, tham gia các hoạt động ở
trường.
Ngoài ra, trong việc hòa nhập với xã hội, tôi tập cho trẻ những thói quen
ứng xử với một phong cách văn minh, lịch sự qua những hoạt động hằng ngày
ở trường:
- Thói quen biết xếp hàng: Đây là một thói quen mà hầu hết người lớn
chúng ta không để ý khi tham gia vào các hoạt động chung. Nhưng hãy cố
gắng làm gương và tập cho trẻ có thói quen xếp hàng ngay từ nhỏ để dẩn dần
thay đổi được một cách ứng xử kém văn hóa nơi công cộng là sự chen lấn
nhau.
Ở lớp tôi rèn cho trẻ thói quen xếp hàng (không chen ngang, xô đẩy bạn..) khi
tham gia vào một hoạt động nào đó như: cùng nhau xếp hàng đi chơi công

mình có thể làm được và làm tốt. Đây cũng là cơ hội để cô và trẻ gần nhau và
hiểu nhau hơn.
- Thường xuyên trao đổi thông tin giữa giáo viên và phụ huynh của trẻ.
Giáo viên cần tìm hiểu thêm thông tin về trẻ từ phụ huynh: Ở nhà, cháu có hay
giúp đỡ ba mẹ không? Cháu thích làm những việc gì giúp mẹ, bố mẹ có để cho
trẻ tự phục vụ bản thân những việc vừa sức không: Mang giày dép, xếp quần
áo của mình, tự xúc ăn...?
- Ngoài việc tìm hiểu từ phụ huynh thì tôi thường xuyên phản hồi thông tin
về trẻ cho phụ huynh nắm: Ở lớp, cháu là người như thế nào? Cháu có hay
giúp cô không? Những việc trẻ làm tốt khi ở lớp... để phụ huynh tiếp tục
khuyến khích cho cháu làm tốt khi ở nhà nhằm xây dựng thói quen tốt cho trẻ.
Ngoài việc cổ vũ những cháu năng động tích cực phát huy khả năng, tôi chú ý
đến những cháu còn chậm tiếp thu chưa tốt, rụt rè. Tạo cơ hội để cháu được tự
làm những việc vừa sức, hướng dẫn trẻ mọi lúc mọi nơi: Con cứ làm đi, đừng
sợ sai, con làm được đấy, cô không mắng đâu!...
Khi hướng dẫn trẻ thì giọng nói của tôi cần nhẹ nhàng, chậm rãi, tạo sự
gần gũi. Tránh những câu nói mệnh lệnh, cứng nhắc: Làm nhanh đi, làm cái
này nè, làm sai rồi...
- Tôi không ngừng trao dồi năng lực chuyên môn, học hỏi nơi bạn bè, đồng
nghiệp tìm kiếm những phương pháp giảng dạy mới, hay, áp dụng các biện
pháp giáo dục linh hoạt nhằm rèn luyện cho cháu có nề nếp, có kĩ năng sống


20
và thói quen tự phục vụ tốt đảm bảo là cháu được hoạt động một cách chủ
động, linh hoạt.
- Khi hướng dẫn trẻ một kĩ năng nào đó, tôi hướng dẫn một cách chậm rãi
từng thao tác một. Khi trẻ đã nắm được thao tác này thì tôi mới chuyển sang
thao tác khác. Tôi cho trẻ được thực hiện thường xuyên, liên tục để trở thành
kĩ năng, tạo cho trẻ cảm giác phấn khởi là mình cũng giỏi như bạn. Ví dụ: Đối


21
Trong lớp, tôi phân công công việc cho từng thành viên để bé hiểu rằng
mỗi người đều có trách nhiệm với công việc và hình thành thói quen làm việc.
Khi tổ chức các hoạt động ở lớp có thể phân công công việc cho các bé, cho bé
phụ giúp cô trong giờ ăn: Lấy ghế, lấy khay và khăn ăn, với trẻ lớn hơn có thể
giúp cô kê bàn, chia chén muỗng,… giúp cô trải chiếu, lấy chăn gối, đệm
chuẩn bị giờ ngủ.
Khi về nhà, tôi cũng thường nhắc cha mẹ các bé cũng phân công công
việc cho bé. Chẳng hạn khi cha mẹ đi làm về, hãy yêu cầu bé phụ mẹ cất dép
hoặc giày của mẹ lên kệ. Cứ như thế trẻ sẽ có thói quen hễ thấy mẹ về đến nhà
là chạy đến đòi cất giày cho mẹ. Khi đi siêu thị hay đi chợ cha mẹ hãy cho
cháu theo và chia cho cháu một món đồ nhỏ để xách cùng. Cần tập và lặp đi
lặp lại để trẻ hình thành thói quen. Tuy nhiên khi thấy bé mệt thì không nên
bắt ép.
3.6. Duy trì thói quen và cách làm việc:
Việc hình thành một hành động tự phục vụ là điều không khó nhưng cái
khó là hình thành thói quen cho trẻ. Chính vì vậy, tôi thường xuyên: Phân
công công việc cụ thể; cho trẻ được làm nhiều lần; có những biện pháp khen
thưởng, khích lệ, động viên.
3.7. Khuyến khích kết quả tốt đẹp trẻ làm được:
Việc khen ngợi cần được xem như hành động công nhận trẻ đã hoàn
thành công việc nào đó, cho dù chúng chỉ hoàn thành ở mức sơ sài nhất. Cụ
thể tôi đưa ra những lời nhận xét tích cực sau mỗi việc mà trẻ đã làm. Tôi
không bao giờ dùng những từ khen ngợi quá đáng cho một hành động đơn
giản. Thay vào đó là những lời động viên tích cực như: con đánh răng sạch
quá, miệng con rất thơm vì con đã đánh răng, cảm ơn con vì đã sắp xếp dép
cho lớp, con đi vệ sinh đúng nơi quy định rồi đó, cảm ơn con đã cất dọn đồ
chơi gọn gàng cho cô, cô rất vui khi các con giúp cô lau sạch lá cây,…
Các hình thức tôi thường dùng để khen, tuyên dương những hành động tốt

30
30
30
30
30
29

Tỉ lệ
100
100
100
100
100
100
100
97.6

Bảng 2. Kết quả đạt được cuối năm học về kĩ năng tự phục vụ của trẻ
5. Bài học kinh nghiệm:
Qua thực tiễn đã giúp tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:


23
- Không được xem nhẹ vấn đề giáo dục thói quen tự phục vụ cho trẻ trong
quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ nhà trẻ.
- Giáo viên tránh làm thay trẻ, nên giao việc cho từng trẻ, tạo cơ hội cho
cháu chủ động hoạt động, để cháu có trách nhiệm với công việc mà mình được
giao. Cô cần đặt niềm tin vào trẻ rằng trẻ của mình có thể làm được. Điều này
sẽ giúp trẻ tự tin vào khả năng của mình.
- Bằng những kinh nghiện thực tế trên đã chứng minh cho mọi người rằng:

mà không cần lúc nào cũng nhờ đến sự chỉ bảo, hay tìm kiếm sự giúp đỡ từ
người khác. Có được khả năng này là một điều tuyệt với, bởi nó sẽ giúp trẻ
hạnh phúc hơn, thu hút được sự chú ý của mọi người xung quanh, từ đó
khuyến khích trẻ tạo ra những cơ hội để trẻ thể hiển mình. Những đứa trẻ biết
tự phục vụ từ nhỏ thì nhanh nhẹ và hoạt bát, nổi trội hơn hẳn so với những trẻ
khác.
Còn đối với trẻ mầm non rất nhiều trẻ xuất hiện tình trạng dựa dẫm, ỷ
lại, được nuông chiều một cách thái quá dẫn đến không biết làm một số việc
đơn giản như không biết mặc quần áo, không biết tự đi giày, dép, không thích
tự đi mà thích được người lớn bế ẵm… Trẻ không biết cách chăm sóc bản
thân, không biết giữ gìn vệ sinh, lười nhác không biết hỗ trợ người khác. Có
rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trong đó thiếu tính tự lập là một
nguyên nhân trọng tâm nhất. Như chúng ta đã biết, trẻ em là một đối tượng
khá nhạy cảm, nếu trẻ em được tiếp xúc với nền giáo dục tốt thì trẻ phát triển
theo chiều hướng tốt. Ngược lại nếu trẻ em tiếp xúc với nền giáo dục không
đúng đắn sẽ dẫn đến các hậu quả tiêu cực. Do đó việc giáo dục tính tự phục vụ
cho trẻ cần được áp dụng càng sớm càng tốt và là phương pháp rất quan trọng
và cần thiết.
Tạo cho trẻ biết tự phục vụ không phải chỉ có hướng dẫn cho trẻ tự lo cho
bản thân mà còn giúp trẻ tự quyết định các vấn đề của mình. Đó cũng là cách
giúp trẻ vận động suy nghĩ, sáng tạo và tự tin.
2. Kiến nghị:
- Mở lớp tập huấn chuyên môn về nội dung giáo dục kĩ năng sống cho
giáo viên đến từng cơ sở.
- Tuyên truyền nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ Mầm Non trên đài
báo, ti vi nhằm nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh.
- Tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí để các trường tổ chức các hoạt động
tập thể có quy mô, chất lượng cao.
Cuối cùng tôi rất mong được sự quan tâm, bổ sung, góp ý của các cấp
lãnh đạo cho đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status