Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn ma tuý là một hiểm hoạ lớn của toàn nhân loại. Không một quốc gia, một dân tộc
nào không phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do buôn lậu ma tuý và nghiện ma tuý
gây ra cho đời sống kinh tế - xã hội. Tình hình tệ nạn ma tuý diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn,
khó lường, có xu hướng gia tăng về số người nghiện và các tội phạm về ma tuý, tính chất hoạt
động ngày càng tinh vi, xảo quyệt, manh động hơn. Ma tuý làm suy thoái nhân cách, phẩm giá,
tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng,
vắt cạn kiệt nguồn nhân lực, tài chính, huỷ hoại những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải
được huy động cho việc phát triển kinh tế xã hội, đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người.
Nghiêm trọng hơn, ma tuý là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lây nhiễm đại dịch thế kỷ
HIV/AIDS trên toàn cầu.
Do siêu lợi nhuận và lợi dụng tự do hoá thương mại, chính sách mở cửa thu hút đầu tư
của các nước đang phát triển, trong đó có Việt nam, bọn tội phạm ma túy tiến hành mở rộng
phạm vi hoạt động sản xuất, buôn bán ma tuý kết hợp với rửa tiền thông qua buôn bán ma tuý.
Các nhóm vũ trang móc nối với bọn buôn lậu ma túy và khủng bố quốc tế để sản xuất ma tuý
làm nguồn tài chính phục vụ ý đồ chính trị và khủng bố quốc tế.
Năm 2006, Hiệp định AFTA về tự do hoá thương mại giữa các nước ASEAN có hiệu
lực, Việt Nam gia nhập WTO, đặc biệt là từ năm 2010, khi Cộng đồng ASEAN xây dựng nhiều
thiết chế trong quan hệ kinh tế, thương mại, du lịch... con đường xuyên á, hành lang kinh tế
Đông Tây mở, việc đầu tư, liên doanh, liên kết sản xuất, buôn bán, dịch vụ giữa các nước Đông
Nam á cùng các nước trên thế giới sẽ diễn ra rất sôi động. Đây là thời cơ thuận lợi để tội phạm
ma tuý lợi dụng hoạt động, làm gia tăng tình hình buôn bán và sử dụng ma tuý ở trong nước.
Với diễn biến phức tạp của tệ nạn ma tuý ở các nước trong khu vực nói chung, ở Việt
Nam nói riêng, hàng năm số người nghiện ma tuý ở nước ta vẫn tăng bình quân 11%. Tính đến
hết tháng 12/2005, toàn quốc có khoảng 160.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, tăng
hơn 50% so với năm 2000. Song song với những biện pháp quyết liệt chống tội phạm buôn bán
ma tuý, Nhà nước ta cũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, giúp cho những
người sa vào con đường nghiện ngập có thể cắt cơn, phục hồi sức khoẻ, hành vi và nhân cách
để có thể tái hoà nhập cộng đồng. Công tác cai nghiện phục hồi tuy đạt được một số kết quả
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề
này, dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể nêu một số đề tài sau:
Nhóm việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường:
- Đề tài cấp nhà nước 70A.02.02 “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt
Nam’’, Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991.
- Đề tài cấp nhà nước KX-04-04: “Luận cứ khoa học cho chính sách giải quyết việc làm
ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần", của Bộ Lao động TB và
XH, Hà Nội, 1994.
- Đề tài cấp Nhà nước KX-07-05-05: “Những đặc trưng và xu hướng biến đổi của cơ
cấu xã hội nghề nghiệp nước ta trong giai đoạn hiện nay, dự báo và kiến nghị", do Tiến sỹ
Nguyễn Đình Tấn - Giám đốc Trung tâm Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
làm chủ nhiệm, 1995.
-
Đề tài “Quản lý nhà nước về việc làm ở Hà Nội”, Luận án tiến sĩ kinh tế Trần
Văn Tuấn, Hà Nội, 1995.
- “Thị trường sức lao động thực trạng và giải pháp’" của Phó Tiến sỹ Nguyễn Quang
Hiển, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995.
- “Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001 -2010” của Tiến sỹ Nguyễn Hữu
Dũng, Tạp chí Lao động xã hội, 2001.
- Đề tài “Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm qua thực tế ở Hà Nội",
Luận án tiến sĩ kinh tế Đỗ Thị Xuân Phương, Hà Nội, 2005.
Nhóm tổ chức cai nghiện, quản lý sau cai nghiện và tạo việc làm cho người sau cai
nghiện ma tuý:
- “Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 - 2010’", Uỷ ban Quốc gia
phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm, Hà Nội, 2002.
làm cho người sau cai nghiện, chưa có công trình khoa học nào đã công bố, tập trung nghiên
cứu vấn đề tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma tuý trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay.
Tuy vậy, nghiên cứu các công trình đã công bố đó, tôi cũng tham khảo được nhiều vấn
đề lý luận và thực tiễn rất có giá trị đối với đề tài của mình. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc
những vấn đề đã được nghiên cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp với khảo sát thực
tế ở một số địa phương, tôi có thể rút ra một số giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho những người
sau cai nghiện ma tuý ở nước ta hiện nay.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về tác động tiêu
cực của tệ nạn ma tuý tới đời sống kinh tế - xã hội, sự cần thiết phải tổ chức và quản lý sau cai
nghiện ma tuý và đề xuất giải pháp hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
-
Hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về ma tuý, sử dụng ma
tuý, cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.
-
Phân tích lý luận về hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cai nghiện, góp
phần hạn chế và khắc phục tác động tiêu cực của tệ nạn ma tuý đối với kinh tế - xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý.
lý có liên quan về hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý và tiến hành khảo
sát các mô hình điểm ở một số địa phương trong cả nước.
5.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối và chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Các lý
thuyết về sai lệch xã hội, tệ nạn xã hội và tội phạm của E. Durkheim, W. Weber.. .và vấn đề việc
làm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các tài liệu nghiên cứu đã có, số liệu tổng hợp, thống kê và một số đề tài nghiên
cứu khoa học, điều tra khảo sát của Cục phòng chống tệ nạn xã hội - Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội, của Văn phòng Thường trực phòng chống ma tuý - Bộ Công an, cũng như các báo
cáo tổng kết của địa phương, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, khái quát hoá
đồng thời tiến hành một số cuộc điều tra khảo sát tại các trung tâm, phường, xã nhằm mục đích
minh hoạ.
6. ý nghĩa của luận văn
6.1.
ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về ma tuý, sử dụng ma tuý, cai
nghiện ma tuý, nguyên nhân và tác hại của sử dụng ma tuý, tái nghiện, quản lý sau cai nghiện,
tái hoà nhập cộng đồng và hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma tuý. Hệ
thống các giải pháp khả thi, hiệu quả cho người sau cai nghiện nhằm nhân rộng các mô hình
1.1.1 . Một số khái niệm liên quan đến ma tuý
* Ma tuý
Thuật ngữ “ma túy” xuất hiện ở Việt Nam ban đầu có ý nghĩa là chỉ thuốc phiện, về sau
còn được hiểu là các cây cần sa, cô ca và các loại thuốc tân dược gây nghiện khác. Có ý kiến
giải thích thuật ngữ “ma tuý” đó là vì các chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái. Nó chữa
được một số bệnh có hiệu quả cao và làm tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh, đồng thời làm
cho con người mê mẩn, ngây ngất và tuý luý. Và như vậy, thuật ngữ “ma tuý” được ghép từ các
từ ma thuật, ma quái và tuý luý.
Chương trình kiểm soát ma tuý quốc tế của Liên Hợp quốc (UNDCP) năm 1991 đã xác
định: “Ma tuý là những chất độc có tính gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo khi
xâm nhập và cơ thể con người thì có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho
con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng”;
theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), “Ma tuý là bất kỳ chất gì mà khi đưa vào cơ thể sống có thể
làm thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”. Hay hiểu ngắn gọn theo cách định
nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt: “Ma túy là tên gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái
ngây ngất, đờ đẫn và dùng quen thành nghiện”.
Từ các quan niệm nêu trên, có thể nêu khái niệm như sau: ma túy là những chất có
nguồn gốc từ tự nhiên hay nhân tạo và khi dùng không được chỉ dẫn có thể gây nghiện, làm ảnh
hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người cũng như sự ổn định và phát triển của cộng đồng.
* Nghiện ma tuý
Khi dùng ma túy lần đầu, người ta thấy có cảm giác lâng lâng, dễ chịu và thèm muốn
dùng lại. Ma túy vào cơ thể vài lần sẽ tác động đến cơ quan cảm thụ, gây trạng thái quen thuốc,
nếu không dùng tiếp sẽ rất khó chịu, đau đớn, vật vã..., thèm muốn được dùng lại và trở nên
nghiện ma tuý. Do đó, nghiện ma tuý, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì đó là tình trạng một bộ phận
trong xã hội gồm những người có thói quen dùng các chất ma tuý. Còn theo nghĩa hẹp thì
nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể đối với các chất ma tuý, làm cho con người ta
không thể quên và từ bỏ được ma tuý.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về “nghiện ma tuý”, nhưng chưa có một khái
người nghiện, tiếp xúc với người nghiện, thậm chí nói đến tên loạn ma tuý quen dùng, là cơn
thèm khát ma tuý lại bùng lên dữ dội, khó có thể kiềm hãm được. Vì vậy, khi ra khỏi các trung
tâm cai nghiện, người cai trở lại sống với gia đình và cộng đồng, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp
của môi trường xã hội còn chưa trong sạch ma tuý dẫn đến khả năng tái sử dụng ma túy là rất
cao. Việc tái sử dụng ma tuý chính là tái nghiện ma tuý và theo PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm thì:
Tái nghiện được hiểu là một đối tượng nghiện ma tuý đã được gia đình, chính
quyền, các đoàn thể tại địa phương giúp đỡ, giáo dục, chữa trị cai nghiện để trở lại
cuộc sống bình thường trong xã hội. Thế nhưng vì một lý do nào đó họ đã không
kiềm chế được những ham muốn cá nhân, những suy nghĩ lệch lạc nên lại tiếp tục sử
dụng các loại chất ma tuý, người ta gọi trường hợp này là tái nghiện [66, tr.201].
“Tái nghiện được xem như một quá trình, một loạt kích thích không tốt và cuối cùng dẫn
đến việc dùng trở lại các chất ma tuý”.
Ranh giới giữa tái sử dụng ma tuý (tái nghiện) và dứt khoát đoạn tuyệt với ma túy là rất
mong manh. Chính vì vậy, công việc phòng, chống tái nghiện khi người cai hoà nhập cộng đồng
là một việc làm tất yếu phải được thực hiện.
1.1.2 . Đặc điểm người nghiện ma tuý và tái nghiện ma tuý
Người nghiện ma túy là người đã bị lệ thuộc hoàn toàn vào ma tuý, dưới tác dụng của
ma tuý toàn bộ các moocphin nội sinh cho cơ thể con người bình thường đã bị tiêu diệt và thay
thế bằng mooc phin ngoại sinh (là các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp) khi được đưa
vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó.
Trong quá trình cai nghiện bắt buộc, cắt cơn, chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ và trong
thời gian sau cai, nhiều người có sức khoẻ nhưng thiếu ý chí vươn lên làm lại cuộc đời. Họ
không có hứng thú học văn hoá và cũng không thích học nghề và đó là trở ngại không nhỏ cho
công tác giáo dục dạy nghề và tạo việc làm. Phần lớn đối tượng có học lực thấp, số người này
chỉ có thể làm lao động phổ thông và thu nhập thấp.
Sức khoẻ của người sau cai vẫn là một trong những trở ngại lớn cho bước tái hoà nhập
cộng đồng. Một tỷ lệ cao lao động là người sau cai không đủ sức khoẻ để đáp ứng yêu cầu làm
việc của sản xuất.
dục viên, chuyên gia tư vấn tâm lý truyền thêm nghị lực, đã tỏ rõ quyết tâm từ bỏ ma tuý.
1.1.3 . Nguyên nhân của nghiện và tái nghiện ma tuý
Nghiện và tái nghiện ma túy là một hiện tượng xã hội tiêu cực xảy ra do nhiều nguyên
nhân khác nhau, có thể qui về 2 nhóm:
Thứ nhất, nguyên nhân chủ quan từ bản thân người nghiện
Tái nghiện có xảy ra hay không xảy ra được quyết định trực tiếp, cuối cùng bởi người
nghiện sau cai. Tại sao những người đã có hiểu biết về tác hại của ma túy qua quá trình trảI
nghiệm của bản thân, qua sự giáo dục, tư vấn tại các trung tâm lại dễ dàng nghiện trở lại các
chất ma tuý? Nguyên nhân thuộc về người nghiện bao gồm:
* Bị lệ thuộc về tâm lý vào các chất ma tuý
Quá trình nghiện ngập trước khi đi cai ở các trung tâm đã gây ra sự rối loạn cho người
nghiện ma tuý cả về thể chất cho đến nhận thức, hành vi, hay chính là mất cân bằng cả về thể
chất và tinh thần. Cai nghiện ma túy giúp cho người nghiện từ bỏ được hội chứng cai, loại bỏ
một phần sự mất cân bằng chứ không xoá được sự lệ thuộc về tâm lý, ý thức. Hành vi sử dụng
lại các chất ma túy là biểu hiện rõ ràng nhất sự lệ thuộc đó, nó giống như một phương thức mà
người nghiện tìm đến để xoá đi trạng thái mất cân bằng. Sau khi cai, cách suy nghĩ, hành vi của
người nghiện vẫn còn bị ảnh hưởng rất đậm nét bởi ma tuý. Theo nhận định của hội đồng
chuyên viên về lạm dụng ma túy của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì
Sự lệ thuộc vào chất ma túy trước hết và chủ yếu là sự lệ thuộc về mặt tâm
thần.. .trong một thời gian dài tất cả những phản ứng hàng ngày của não bộ đối với
ma tuý nhất là đối với các thụ thể đặc hiệu đều được lưu dấu vết vào bộ nhớ của não
và hình thành một phản xạ có điều kiện kiên cố không thể nào xoá bỏ được. Do đó,
cái thèm và nhớ các cảm giác dễ chịu, sảng khoái do ma tuý đem lại có cơ sở vững
chắc tại các tế bào thần kinh, tồn tại tiềm tàng và thường xuyên trong não. Bởi vậy
khi gặp một kích thích gợi nhớ chất ma túy, các dấu vết của phản xạ có điều kiện
được hoạt hoá, xung động thèm chất ma tuý xuất hiện trở lại và thúc đẩy người
nghiện quay về với chất ma tuý.đói ma tuý trường diễn hay sự lệ thuộc về mặt tâm
thần là khó khăn trở ngại lớn nhất trong điều trị nghiện ma tuý hiện nay [58].
từ 20 - 30 năm nhưng vẫn tái nghiện trở lại” [63, tr.24]. Môi trường tái hoà nhập cộng đồng của
người nghiện vẫn còn những điều kiện xấu tồn tại xung quanh và nếu lối sống lành mạnh không
đủ sức hút thì khả năng tái nghiện là rất lớn, thậm chí việc tái nghiện hoàn toàn có thể xảy ra.
* Người nghiện không đủ can đảm và nghị lực để đoạn tuyệt với sự lôi kéo của những
bạn bè xấu. Với những thói quen cũ, người nghiện vẫn tiếp tục giao du với những bạn bè trước
đây và đa số những người bạn này là những người có nhu cầu và thói quen giống người nghiện.
Vì thế mà nguy cơ tái nghiện ma tuý bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra với người sau cai.
Thứ hai, nguyên nhân khách quan
* Môi trường xã hội: Hiện nay khả năng cung về ma tuý vẫn rất lớn, chúng ta chỉ ngăn
chặn, bắt giữ được một lượng rất nhỏ, còn lại hầu hết ma túy vẫn đang trôi nổi, tồn tại trong xã
hội, nó luôn sẵn sàng đáp ứng cho người có nhu cầu. Bọn tội phạm tiếp tục buôn bán cái chết
trắng vẫn hiện diện khắp nơi. Chừng nào còn những tên tội phạm này - kể cả bọn buôn ma tuý
xuyên biên giới với số lượng tính bằng hàng chục, hàng trăm kg hê rô in lẫn bọn bán lẻ từng tép
thì khó có thể nói đến việc ngăn chặn tình trạng tái nghiện, càng không thể ngăn ngừa những
con người thiếu bản lĩnh trở thành những con nghiện mới. Những con nghiện mới xuất hiện và
trở thành gánh nặng và nỗi khổ đau cho nhiều gia đình và xã hội
Ma tuý mang lại những món siêu lợi nhuận cho người buôn bán nó. Chính vì vậy, đã có
rất nhiều kẻ bất chấp luật pháp, đạo đức để lao vào phạm tội buôn bán ma tuý. Lực hút của
đồng tiền từ buôn bán ma túy đã khiến cho nhiều kẻ không cần để ý đến những hình phạt cao
nhất mà luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của mỗi nước dành cho tội phạm về ma tuý. Lợi
dụng điểm yếu là sự lệ thuộc vào ma tuý của những người nghiện ma túy vẫn chưa hết khi họ từ
trung tâm cai nghiện trở về tái hoà nhập cộng đồng nên bọn buôn bán ma tuý tìm mọi cách rủ
rê, lôi kéo để người nghiện sau cai phải tái sử dụng ma tuý, với hình thức ban đầu là cho không
thuốc nhưng khi đã nghiện lại thì chúng bắt phải mua hoặc phải giúp chúng tiêu thụ ma tuý.
*
Do không có việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp: Trong nền
sau cai bất lợi khi đi xin việc. Mặt khác, ngành nghề đào tạo tại các trung tâm hiện nay tính khả
thi không cao, dạy nghề mang tính đồng loạt, đa số người nghiện không thể ứng dụng những
nghề được đào tạo sau khi trở về cộng đồng (ví dụ: nghề đan lát không áp dụng được khi đối
tượng nghiện sống ở trung tâm của thành phố lớn như Hà Nội.). Bên cạnh đó, người nghiện ma
tuý bị kỳ thị rất lớn bởi người tuyển dụng và bị cạnh tranh gay gắt từ phía những người được
đào tạo tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề bên ngoài. Người sau cai nghiện còn gặp trở ngại do
kém năng động, thiếu tự tin thậm chí là tự ti khi tiếp xúc, trả lời phỏng vấn.
Thực tế là người cai nghiện ma túy, sau khi cắt cơn, trở về với cộng đồng tỷ lệ tái nghiện
rất cao, hơn 95%. Nhiều nơi sáng tạo ra một số “mô hình hậu cai”, như thành lập “Câu lạc bộ
sau cai” để thường xuyên giúp đỡ, giám sát nhau, dù có thu được một số kết quả, song cũng
không thể ngăn chặn được tình trạng tái nghiện. Tình hình khó khăn và phức tạp như vậy là do
nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chính bao trùm là: Người nghiện ma túy ở nước ta thường
chích thẳng ma túy vào tĩnh mạch. Chất gây nghiện cực mạnh ấy tác động, và lưu lại trong vùng
khoái cảm của não bộ. Muốn não không “nhớ” thì chỉ còn cách là loại bỏ vùng khoái cảm trong
não bộ. Đó là điều không thể! chỉ có những ai thật sự có ý chí cao và với sự giúp đỡ tận tình của
cộng đồng, thì mới mong thắng được chính sự thèm khát ấy.
*
Do bạn bè rủ rê: Các đối tượng nghiện nhưng chưa cai nghiện hoặc người
đã tái nghiện trước, những người buôn bán các chất ma tuý luôn tìm cách lôi kéo, rủ rê
để người cai nghiện trở lại sử dụng ma tuý và trở thành tái nghiện. Báo cáo kết quả điều
tra người nghiện ma túy năm 2001 đã làm rõ: bị rủ rê là nguyên nhân chính dẫn tới
nghiện ma tuý của các đối tượng (63,5%), theo báo cáo tình hình lạm dụng ma tuý ở Việt
Nam thì tỷ lệ đó là 57,9%. Tái nghiện vì nguyên nhân này lại cao là do bản chất con
người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ bạn bè. Bạn bè đóng vai
trò rất lớn trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Hành động của mỗi cá nhân dù tốt hay xấu
đều tìm thấy dấu ấn của những người bạn anh ta. Hành vi sử dụng trở lại các chất ma túy
không nằm ngoài nhận xét đó. Sau khi được cai nghiện, trở về với cộng đồng, mọi cái
dường như đều trở nên mới lạ, gần gũi nhất với người sau cai lúc này là gia đình và bạn
khiến họ bị suy giảm khả năng lao động sản xuất, tuy không làm ra của cải vật chất hoặc
làm ra ít nhưng tiền tiêu dùng cho ma tuý luôn được họ khai thác từ gia đình hoặc thông
qua những hành vi phạm tội.
-
Đối với gia đình người nghiện: Nghiện ma tuý và tái nghiện ma túy khiến
gia đình người nghiện bị điêu đứng về kinh tế: người nghiện lần lượt đem tiền bạc, của
cải trong gia đình đi đổi lấy ma tuý, đẩy đời sống gia đình đi vào đổ vỡ, mâu thuẫn, xung
đột sâu sắc và bần cùng.
-
Đối với kinh tế - xã hội: Ma tuý gây ảnh hưởng đến kinh tế xã hội một
cách nặng nề. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì đến cuối năm
2005 cả nước có khoảng 160.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, nếu trung bình một
ngày người nghiện dùng hai tép heroin (mỗi tép giá 50000đ) thì một năm tổng số người
nghiện đã tiêu tốn khoảng 1.600 tỷ đồng. Khi số lượng người nghiện trên tái nghiện thì
số tiền tiêu phí sẽ lớn hơn rất nhiều. Ngoài ra, hàng năm ngân sách nhà nước phải chi
hàng trăm tỷ đồng cho công tác cai nghiện phục hồi, phòng chống tái nghiện, trả lượng
cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn ma tuý, chưa kể tiền của gia đình
người nghiện đóng góp. Thêm vào đó, tái nghiện ma tuý làm tổn thất một nguồn nhân
lực rất lớn cho phát triển kinh tế vì đại đa số người nghiện, tái nghiện đều trong độ tuổi
lao động và còn rất trẻ. Như vậy, thiệt hại về kinh tế do tái nghiện ma túy không chỉ
dừng lại ở các con số kể trên.
* Tác hại đối với xã hội
Nghiện ma túy gắn liền với bệnh tật, nghiện ma tuý là thân tàn ma dại, sức khoẻ bị suy
kiệt, người nghiện chỉ có tuổi thọ trung bình là 40 tuổi, trong khi tuổi thọ bình quân của người
bình thường là 75 tuổi. Vì thế sẽ là lãng phí nguồn nhân lực, sức lực lớn nếu như không tổ chức
làm của mình.
về mặt pháp lý, vấn đề việc làm gắn liền với chế độ pháp lý lao động. Quan hệ pháp luật
trong lĩnh vực việc làm về mặt lý luận pháp luật được coi là quan hệ có liên quan trực tiếp với
quan hệ lao động và đóng vai trò quyết định cho việc hình thành, phát triển và ổn định của quan
hệ lao động. Đồng thời, chế định pháp lý về việc làm là một trong những chế định quan trọng
của pháp luật lao động, làm tiền đề để xác lập các chế định pháp luật khác. Hay nói một cách
khác, không có việc làm thì không có quan hệ lao động, cũng có nghĩa là không có quan hệ lao
động và những yếu tố khác làm nên nội dung của quan hệ lao động.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa lao động - việc làm có những biểu
hiện rất phức tạp. Một mặt, lao động có xu hướng gắn kết chặt chẽ với việc làm, mặt khác lại có
xu hướng tách rời khỏi việc làm. Từ đó tạo nên sự khác biệt về thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư, giữa các nhóm trong một tầng lớp dân cư.
Việc làm không chỉ là hoạt động để kiếm sống mà còn là hoạt động sáng tạo nhằm phục
vụ xã hội, thông qua lao động hoàn thiện nhân cách con người cả về vật chất lẫn tinh thần. Việc
làm đó là yêu cầu chính đáng của con người, tách con người ra khỏi lao động chẳng khác gì thủ
tiêu sự tồn tại của con người, phá vỡ động lực bên trong của xã hội.
Việc làm và giải quyết việc làm là một tiêu chí quyết định đánh giá sức mạnh của một
nền kinh tế. Thực hiện tốt chính sách việc làm, khắc phục tình trạng thất nghiệp và sử dụng có
hiệu quả nguồn lao động xã hội sẽ có tác dụng tích cực đến quá trình ổn định và phát triển kinh
tế.
Tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường
Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường cho người lao động và hình thành các
chỗ làm việc, sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng,
đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được
mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, tạo việc làm không chỉ là nhiệm vụ chức năng của nhà nước mà còn
là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động. Hiện
nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo việc làm cho người lao động
việc làm đồng thời tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và người lao động tạo thêm chỗ làm
việc và tự tạo việc làm; khuyến khích các tổ chức và cá nhân cùng Nhà nước tổ chức tốt dịch vụ
giới thiệu việc làm, đào tạo nghề nghiệp” [20].
Tại Hội nghị Trung ương VIII (khoá VIII), Đảng ta nhấn mạnh việc tiếp tục triển khai
các giải pháp đồng bộ về giải quyết việc làm và chỉ ra các biện pháp khả thi để thu hút lao động
và tạo việc làm. Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Bằng nhiều giải
pháp, tạo ra nhiều việclàm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông
nghiệp và nông thôn. Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch
vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động” [23].
Quan điểm này được nhấn mạnh tại Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, đó là: “Giải
quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát
triển.phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành
phầnkinhtế.tạo
nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động” [22, tr.210-211].
Quan điểm và giải pháp cơ bản về giải quyết việc làm cho người lao động của Đảng
được thể hiện nhất quán trong một loạt các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của
Nhà nước.
Nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)
về chủ trương, phương hướng, biện pháp giải quyết việc làm đã nêu ra nội dung hết sức cơ bản,
quan trọng đối với vấn đề tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động. Những biện
pháp quan trọng hàng đầu để giải quyết việc làm cho người lao động mà Nghị quyết đó đề ra là:
- Lập Quỹ quốc gia giải quyết việc làm.
- Bổ sung, sửa đổi một số chính sách cụ thể khuyến khích các lĩnh
vực, các doanh
Phát triển kinh tế, tạo mở việc làm, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu lao động trong nông thôn. Trong công nghiệp, vừa phát triển các ngành có
khả năng sử dụng nhiều lao động, vừa phát triển các ngành sử dụng lao động có trình độ
cao.
- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia.
-
Tập trung hỗ trợ người thất nghiệp, người thiếu việc làm và các đối tượng
yếu thế vay vốn với lãi suất ưu đãi để tạo việc làm.
1.2.2. Cơ chế phối hợp của chính quyền, gia đình, cộng đồng và xã hội trong
quản lý và hỗ trợ tạo việc làm cho người sau cai nghiện
1.2.2.1.
Vai trò của Nhà nước và các cấp chính quyền về hỗ trợ tạo việc
làm cho người sau cai nghiện
Nhà nước là cơ quan quyền lực tối cao, có vai trò đầu não trong tổ chức các hoạt động
liên quan đến công tác phòng, chống ma tuý, cụ thể trong hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau
cai nghiện ma tuý, biểu hiện ở một số công việc cụ thể như:
-
Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý
điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau
cai nghiện ma tuý.
-
giải quyết việc làm. Nhất là các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có điều kiện phát
triển nhiều ngành nghề mới, tạo việc làm cho nhiều người lao động.
Mục tiêu đặt ra là không chỉ có Nhà nước mà mỗi doanh nghiệp, mỗi gia đình, mỗi
người lao động phải tự thân vận động để tạo việc làm. Doanh nghiệp và người sử dụng lao động
được Nhà nước tạo điều kiện và cơ chế hữu hiệu để phát triển sản xuất, kinh doanh. Nghĩa là
thông qua đó Nhà nước cũng có một phần trách nhiệm quan trọng nhằm giải quyết việc làm cho
người lao động. Đến lượt mình, người có khả năng lao động phải chủ động sáng tạo, để sử dụng
quyền lao động, tự tạo ra việc làm, tự tìm việc làm với sự giúp đỡ của Nhà nước khi cần thiết
[43, tr.7].
Thứ hai, Nhà nước có chính sách để giải quyết việc làm cho đối tượng sau cai nghiện.
Hàng năm Chính phủ lập và thực hiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm trình Quốc
hội chương trình và quỹ quốc gia về việc làm; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và
quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Các cơ
quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tham gia thực hiện các chương trình và quỹ giải
quyết việc làm.
Thứ ba, Nhà nước có vai trò phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm, nhằm tư vấn
cho người tìm việc hoặc tìm nhân công, giúp giới thiệu, cung ứng và tuyển lao động, thu thập và
cung ứng thông tin về thị trường lao động, tổ chức cơ sở dạy nghề xã hội. Các sở Lao động Thương binh và Xã hội, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội được thiết lập tổ chức dịch vụ
việc làm, tuân theo sự thống nhất quản lý nhà nước theo hệ thống ngành Lao động - Thương
binh và Xã hội.
Thứ tư, Nhà nước có vai trò và trách nhiệm hoàn thiện các quan hệ thị trường lao động
và hành lang pháp lý, buộc các chủ sử dụng lao động thực hiện đúng Bộ Luật Lao động nhằm
bảo đảm lợi ích cho người lao động. Đây là điều kiện và môi trường bảo đảm sự tăng trưởng
nhanh và phát triển bền vững của thị trường lao động và giải quyết việc làm.
Thứ năm, Nhà nước với vai trò mở rộng thị trường xuất khẩu lao động.
1.2.2.2.