MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực vừa là mục tiêu
để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Môi trường văn hóa tốt đẹp sẽ tạo được
niềm tin của cán bộ công chức với cơ quan, với nhân dân góp phần nâng cao
hiệu quả của công sở. Tính tự giác của các cán bộ công chức trong công việc sẽ
đưa công sở này phát triển vượt hơn với công sở khác.
Văn hóa nơi công sở không chỉ thể hiện đạo đức, phẩm chất của cán bộ
công nhân viên chức trong khi thực thi nhiệm vụ mà còn thể hiện trình độ văn
hóa của mỗi người. Để đảm bảo tình trạng nghiêm va hiệu quả hoạt động của
các cơ quan hành chính nha nước, thủ tướng chính phủ đã có Quyết định số
129/2007/QĐ-TTg ban hanh quy chế văn hóa công sở. Điều này đã khẳng định
mjanh mẽ rằng văn hóa công sở có vai trò to lớn trong việc xây dựng một nề nếp
làm việc khoa học, kỷ cương và dân chủ. Bên cạnh đó yếu tố văn hóa còn giup
cho mỗi thành viên trong công sở phải tôn trọng kỷ luật, danh dự của công sở,
quan hệ thân ái đoàn kết, hợp tác vì sự nghiệp chung của công sở. Giup khơi dậy
phát huy năng lực, sáng tạo của từng cá nhân, tạo bâu không khí làm việc thân
thiện, văn minh cải thiện hình ảnh công chức va công sở hành chính trong mắt
công dân.
Tuy nhiên, tình hình thực hiện văn hóa nơi công sở có lúc, có nơi vẫn
chưa được các công sở hành chính nhà nước nghiêm túc thực hiện. Qua các
phương tiện thông tin đại chúng những kênh thông tin khác nhau chúng ta vẫn
thấy có hiện tượng cán bộ, công chức còn cửa quyền hách dịch làm việc thiếu
trách nhiệm, không khoa học và thâm chí nói năng thiếu văn hóa trong cơ qua
hành chính nhà nước.
Nhận thấy vai trò, tầm quan trọng của văn hóa công sở trong xây dựng
nền hành chính quy, hiện đại và chuyên nghiệp ở nước ta là đặc biệt to lớn, tác
giả chọn đề tài “ Nhận xét đánh giá về tình hình triển khai và thực hiện các quy
Được áp dụng để phỏng vấn Cán bộ, nhân viên thuộc Văn phòng ủy ban
nhan dân tỉnh và các phòng ban khác trong cơ quan
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tư liệu có liên quan:
Được áp dụng để tìm hiểu và phân tích các tư liệu trong cơ quan và ngoài
cơ quan để có thể đưa ra những lập luận mang tính khoa học cao, từ đó đưa ra sự
đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan về tình hình triển khai và thực hiện
3
các quy định về văn hóa công sở tại Cơ quan từ đó đề ra một số giải pháp nâng
cao văn hóa công sở tại Uỷ ban nhân dân Tỉnh Hà Giang.
4
II.PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1.Khái niệm văn hóa
Ngay từ thuở lọt lòng, chúng ta đã đắm mình trong chất men văn hoá: từ
lời ru của mẹ, bài học của cha, trò chơi của chị… cho đến tiếng gọi đò bên sông,
tiếng võng đưa kẽo kẹt lúc trưa hè, tiếng chuông buông khi chiều xuống… – tất
cả, tất cả những sự kiện đó, những ấn tượng đó, những âm thanh đó, những hình
ảnh đó… đều thuộc về văn hóa. Cái tinh thần như tư tưởng, ngôn ngữ… là văn
hoá; cái vật chất như ăn, ở, mặc… cũng là văn hoá. Chính văn hoá đã nuôi
chúng ta lớn, dạy chúng ta khôn. Người ta nói: văn hóa ẩm thực, văn hoá trang
phục, văn hoá ứng xử, văn hoá tiêu dùng, văn hoá kinh doanh, văn hóa chính trị,
văn hoá Đông Sơn, văn hoá Hoà Bình, văn hoá rìu vai… Từ "văn hoá" có biết
bao nhiêu là nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức
hóa ứng xử của công dân đến công sở làm việc. Bên cạnh đó, văn hóa công sở
còn là biểu hiện nổi bật của một xã hội văn minh, mọi hoạt động công vụ đều
có nề nếp, kỷ cương; mỗi người công chức đều thấy rõ trách nhiệm của mình
và luôn tự nguyện làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành tốt phần việc được giao.
Thực tế, các quy định về văn hóa nơi công sở bao gồm cả những quy
định chính thức, được ghi thành văn bản pháp luật của Nhà nước, quy định của
một cơ quan, đơn vị hành chính và cả những quy định bất thành văn mà chúng
ta học được bằng kinh nghiệm. Đặc trưng của Văn hóa công sở là được hình
thành theo tính kế thừa và tiếp thu có sáng tạo, chọn lọc qua các giai đoạn, do
đó văn hóa công sở không ngừng được bổ sung và ngày càng hoàn thiện đáp
ứng nhu cầu của xã hội hiện đại.
1.1.1.3. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà
nước, trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp,
có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành- điều hành, có cơ
cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.
1.1.2. Vai trò của văn hóa công sở
1.1.2.1 Văn hóa công sở góp phần nâng cao hoạt động của cơ quan
nhà nước.
Xây dựng được một nền văn hóa công sở sẽ góp phần xây dựng một nề
6
nếp làm việc khoa học, có kỷ cương dân chủ nhờ đó góp phần tạo ra sự đoàn
kết cao, chống lại sự lệch lạc, quan liêu, hách dịch, cơ hội, tạo ra được niềm tin
của cán bộ công chức đối với cơ quan, nhân dân với cán bộ hành chính, góp
phần nâng cao vai trò của công sở và hiệu quả hoạt động công sở cao hơn.
Sự tự giác trong hoạt động của cán bộ công chức trong việc tuân theo
quy chế, điều lệ sẽ giúp công sở phát triển, công sở này sẽ vượt lên khác hơn,
phát triển hơn so với công sở khác. Khi các thành viên công sở ý thức được
đối với công việc của mình ở các vị trí, cương vị khác nhau trong thực thi công
vụ và cung cấp dịch vụ công.
Trong hoạt động công sở, quan hệ ứng xử và môi trường chính trị - hành
chính mang đậm mà sắc văn hóa nhân bản (cái chân), nhân ái (cái thiện) và nhân
văn (cái mỹ) là sự kết nối những giá trị truyền thống đến hiện đại. Con người
không ngừng học tập, sáng tạo để tiếp thu những tri thức mới của nhân loại - đó
là những yếu tố cấu thành văn hóa công sở, đồng thời khẳng định vai trò của văn
hóa trong sự phát triển của mỗi cơ quan, công sở hiện nay.
Thực tế đã chứng minh không thể coi nhẹ nhân tố con người trong sự phát
triển của các cơ quan, công sở. Nói đến con người chính là nói đến văn hóa, vì
toàn bộ những giá trị văn hóa làm nên những phẩm chất, năng lực và tinh thần
của con người. Vận dụng các yếu tố văn hóa trong việc thúc đẩy mọi hoạt động
của công sở như xây dựng hệ thống thi đua - khen thưởng công bằng, minh
bạch, tạo ra bầu không khí làm việc phát huy tối đa sự sáng tạo, cống hiến của
cán bộ, công chức, viên chức, tạo động lực làm việc hăng say … sẽ kích thích,
loại bỏ được sức ỳ trong công việc.
1.1.2.3. Văn hóa công sở đem lại giá trị toàn diện cho con người.
Giá trị là cái tồn tại, tác động mạnh mẽ đến hoạt động của công sở. Giá trị
của văn hóa công sở cũng gắn bó với các quan hệ trong công sở, đó là:
8
- Giá trị thiết lập một bầu không khí tin cậy trong công sở;
- Sự tự nguyện phấn đấu, cống hiến cho công việc;
- Được chia sẻ các giá trị con người cảm thấy yên tâm và an toàn hơn;
- Biết được giá trị trong văn hóa ứng xử thì cán bộ, công chức, viên chức
tránh được hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch trong giao tiếp hành chính
với người dân;
- Các giá trị làm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, các quy định nhưng
vẫn đảm bảo đúng chính sách của nhà nước, của pháp luật làm cho hoạt động
- Chính phủ cũng nghiêm cấm việc thu phí gửi phương tiện giao thông của người
đếnn giao dịch, làm việc tại các cơ quan hành chính nhà nước, cấm quảng cáo
thương mại công sở, nghiêm cấm lập bàn thờ thắp hương và đun nấu trong
phòng làm việc
- Cũng theo quy chế trên, cán bộ,công chức, viên chức phải đeo thẻ ( ghi rõ thông
tin về họ tên, chức danh, đơn vị) khi thực hiện nhiệm vụ, có thái độ lịch sự và
tôn trọng, nhã nhặn, lắng nghe ý kiến và hướng dẫn rõ ràng đồi với những người
đến làm việc.
- Đặc biệt cán bộ công chức, viên chức không được nói tục sử dụng tiếng lóng
hay có thái độ hách dịch, nhũng nhiễu gây khó khăn phiền hà cho người dân khi
thực hiện nhiệm vụ.
- Khi giao tiếp quan điện thoại cán bộ công chức phải xưng rõ tên tuổi và đơn vị,
trao đổi tập trung vào công việc và không được ngắt điện thoại đột ngột.
10
CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN CÁC
QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI MỘT SỐ
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1. Tình hình triển khai và thực hiện các quy định của Nhà nước
về văn hóa công sở tại ủy ban nhân dân Tỉnh Hà Giang.
Thực hiện Quyết định 129/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ủy
ban nhân dân tỉnh đã triển khai tới các sở, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các
huyện, thị xã, thành phố, đồng thời chỉ đạo triển khai quán triệt tới cán bộ, công
chức, viên chức toàn tỉnh. Ngoài ra, thông qua triển khai thực hiện cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Quy chế dân chủ
ở cơ sở, nội quy, quy chế cơ quan, xây dựng đơn vị văn hóa… đã lồng ghép triển
khai nội dung xây dựng văn hóa công sở để thực hiện. Qua triển khai, quán triệt
nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức về chủ trương thực hiện Quy chế
lúc 7 giờ 30 phút hàng tuần, ở các cơ quan nhà nước Tỉnh, các cơ quan Đảng,
đoàn thể, Ủy ban nhâ dân các xã, phường được duy trì thực hiện.
1.2.4. Về giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức, viên chức
Việc giao tiếp ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức đối với đồng
nghiệp và nhân dân đều được cụ thể hóa đưa vào Quy chế và nội quy làm việc
của các cơ quan đơn vị địa phương trong đó có quy định cụ thể một số việc cán
bộ, công chức, viên chức không được làm trong giao tiếp như: Không có thái độ
hách dịch, nhũng nhiểu,… đối với nhân dân khi đến quan hệ công việc hành
chính; ngôn phong đối với nhân dân cũng như đồng nghiệp phải nói năng tế nhị,
lịch sự, tôn trọng, rõ ràng, mạch lạc, không được nói thô lỗ, cọc cằn, quát nạt to
tiếng đối với nhân dân và đồng nghiệp. Nhìn chung, đối với công việc này cán
bộ, công chức, viên chức có ý thức thực hiện khá tốt.
1.2.5. Phòng làm việc
Đối với phòng làm việc của các cơ quan, đơn vị và địa phương đều có gắn
biển tên và thể hiện rõ các nội dung như: tên cơ quan, đơn vị, địa phương, địa
chỉ tọa lạc và số điện thoại liên lạc. Trong phòng làm việc thường bố trí bàn làm
việc ghế làm việc cho từng công chức, viên chức chuyên môn đầy đủ sắp xếp
ngăn nắp, thẩm mỹ. Trên bàn làm việc thường bố trí bảng danh cho từng vị trí
làm việc của cán bộ, công chức, viên chức; trong bảng danh thể hiện đây đủ họ
tên, chức vụ, chức danh chuyên môn đang phụ trách. Tuyệt đối trong phòng thực
hiện đều thực hiện tốt việc không tổ chức uosng rượu bia, hút thuốc, đun nấu.
1.2. Nhận xét đánh giá tình hình triển khai và thực hiện văn hóa
công sở tại Uỷ ban nhân dân Tỉnh Hà Giang.
12
1.2.1. Ưu điểm:
- Hầu hết Thủ trưởng cơ quan, đơn vị địa phương, cán bộ, công chức, viên
chức đều ý thức, duy trì chấp hành thực hiện Quyết định số 129/2007/QĐ- TTg
của Thủ tướng chính phủ
kỹ năng giao tiếp với đồng nghiệp, với nhân dân. Văn hóa giao tiếp ít được chú
trọng, với đồng nghiệp thì còn xảy ra ganh ghét, nói xấu hạ uy tín của nhau,
không tôn trọng nhau. Giao tiếp với nhân dân thì cửa quyền quan liêu, sách
nhiễu, đã tạo ra khoảng cách với nhâ dâ trong thực thi công vụ, giao tiếp ứng xử
không đúng với vị trí, tư cách của người công chức trong công sở.
Bàn về nguyên nhân của nhược điểm trên thì có rất nhiều, nhưng có thể
nói rằng một trong những nguyên nhân cơ bản nhất đó chính là do vẫn còn tình
trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa
cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công
chức; Bên cạnh đó vẫn còn tác động dư âm của nền văn hóa tiểu nông, từ thói
quen của cơ chế bao cấp, từ những mặt trái của nên kinh tế thị trường. Ngoài ra,
công tác tuyên truyền, vân động, giáo dục chưa thực hiện thường xuyên, công
tác kiểm tra giám sát của các ngành các cấp chưa thành nề nếp, cơ sở vật chất,
phương tiện làm việc nhất là làm việc ở cấp xã còn thiếu thốn, xuống cấp nhưng
chưa được xây dựng sửa chữa kịp thời.
14
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO VĂN HÓA
CÔNG SỞ TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
Giá trị văn hóa bên trong công sở là sự cộng hưởng giữa văn hóa chung
của tổ chức và văn hóa của các cá nhân trong tổ chức đó, đó là nề nếp, tác phong
làm việc khoa học, hợp lý, hợp pháp; là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực
công do Nhà nước cung cấp; ở đó luôn luôn tồn tại không khí dân chủ, bình
đẳng; văn hóa công sở còn là sự cạnh tranh lành mạnh, phối hợp và trân trọng
kết quả làm việc của các cộng sự; là sự tự hào của cá nhân về tổ chức và sự gắn
bó tự thân, tích cực của các thành viên làm việc trong công sở, là ngôi nhà
chung của các thành viên mà người ở trong không muốn bức ra và người bên
ngoài có xu hướng muốn gia nhập làm thành viên; một yếu tốt quan trọng nhất
Hai là, xây dựng bầu không khi làm việc.
Xây dựng và gìn giữ bầu không khí làm việc nơi công sở là một trong
những điều quan trọng hiện nay. Không thể có một công sở văn hóa nếu trong
nội bộ luôn tồn tại những căng thẳng, soi xét lẫn nhau; cấp dưới nghi ngờ cấp
trên cấp trên đề phòng cấp dưới. Không thể là văn hóa nếu cán bộ, công chức
khi làm việc chỉ để đến tháng nhận lương, ngoài ra không quan tâm đến những
vấn đề khác. Con người không phải là con rô-bốt biết nói, mà con người là một
thực thể xã hội với các mối quan hệ và cảm xúc rất đa dạng, phức tạp. Vì vậy,
công sở không phải là “công xưởng” mà là môi trường xã hội thu nhỏ, ở đó mỗi
cán bộ, công chức với sự tích cực của mình, họ sẽ tạo nên bầu không khí làm
việc của công sở. Nếu không khí làm việc cởi mở, tin tưởng lẫn nhau sẽ khơi
nguồn được sự sáng tạo của các thành viên và ngược lại, nếu bầu không khí
nặng nề, căng thẳng sẽ là rào cản đối với hoạt động của công sở.
Ba là: xây dựng tác phong chuyên nghiệp
Hiểu theo nghĩa chung nhất là mỗi người chuyên tâm vào công việc của
mình, toàn tâm, toàn ý để hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất;
chuyên nghiệp là có sự hiểu biết rộng và giỏi một lĩnh vực cụ thể. Trong hành
chính công vụ, chuyên nghiệp còn là biết cách phối hợp, điều tiết công việc phù
hợp với tiến độ và môi trường xung quanh để tạo nên hiệu quả tốt nhất; tác
phong làm việc năng động, khoa học kết hợp với việc ứng dụng các tiến bộ khoa
học, công nghệ mới vào công việc. Tác phong chuyên nghiệp đòi hỏi nhà quản
lý và các nhân viên phải thực hiện tốt những nội dung cơ bản:
- Một trong những hạn chế khá phổ biến của cán bộ, công chức là làm
việc chưa khoa học, thiếu tâm huyết. Biểu hiện ở việc không tuân thủ thời gian,
16
làm việc chậm chạp, lề mề; làm việc không có kế hoạch dẫn đến làm việc
thường bị động, hiệu quả thấp, nhiều khi mang tính đối phó cho xong việc. Do
các cơ hội đến với bản thân.
- Chuyên nghiệp trong công việc còn biểu hiện ở tính kỷ luật, tích cực
tham gia hoạt động do đoàn thể trong công sở. Chuyên nghiệp cũng đồng nghĩa
với sự cạnh tranh lành mạnh trong cơ hội thăng tiến. Một cán bộ, công chức
chuyên nghiệp còn phải biết làm việc hết sức và chơi hết mình; thư giãn đúng
lúc, đúng cách là biện pháp tốt nhất để phục hồi lại năng lượng đã mất.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, cùng với nhận thức
của người dân không ngừng được nâng lên, những biểu hiện thiếu văn hóa trong
các cơ quan nhà nước sẽ là những rào cản cho sự phát triển chung của xã hội.
Do đó nhận thức đúng đắn và tích cực xây dựng văn hóa công sở sẽ góp phần
quan trọng trong việc xây dựng nền hành chính công vụ hiện đại, hiệu quả và
thân thiện với nhân dân.
18
III.KẾT LUẬN
Quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước nếu được
thực hiện tốt sẽ góp phần tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống;
chống các hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, thiếu trách nhiệm, cửa
quyền, nhũng nhiễu, hách dịch đối với nhân dân của cán bộ, công chức, viên
chức các cấp, các ngành; góp phần xây dựng cơ quan văn hoá và thực hiện tốt
Chương trình cải cách hành chính. Để đạt được mục tiêu đó cùng với việc cần
đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Quy chế đến từng
cán bộ, công chức, viên chức thì cần phải đề cao ý thức gương mẫu chấp hành
của những cán bộ quản lý ở tất cả các cấp, không nên và không thể có những
"trường hợp ngoại lệ" đứng bên ngoài hoặc bên trên các quy định đã được chính
các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Một khi vẫn còn những hiện tượng như