Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 20112016 - Pdf 47

BÀI TẬP NHÓM
Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2012-2016


Mục lục


3

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG
1.1. VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1.
Định nghĩa
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) là việc một nhà đầu tư (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở
một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản
đó.
Theo Hội nghị của LHQ về Thương mại và Phát triển (UNCTAD),
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là việc đầu tư dài
hạn gắn với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài giữa một chủ thể đầu tư ở
một nước (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) vào một
công ty ở nước khác (công ty FDI hay công ty con).
1.1.2.

Hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài (FDI)
FDI mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ, nhưng nó ít bị
lệ thuộc hơn vào quan hệ chính trị hai bên nếu so sánh với hình thức
tín dụng quan hệ quốc tế.

sản xuất trong lãnh thổ kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất
định.
-

Tốc độ tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng trường GDP được tính bằng chênh lệch GDP giữa

hai năm liền kề chia cho GDP năm trước. Chỉ số này đánh giá sự tăng
trưởng kinh tế của một quốc gia theo thời gian.
b, Tổng vốn đầu tư
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh,
liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài... nhằm để: tái sản xuất, các tài sản cố định để duy
trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ,
cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các
cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới. Vốn đầu tư tạo điều
kiện, là động lực để các ngành sản xuất phát triển. Bởi vậy, tổng vốn đầu tư là một
trong những nhân tố quan trọng trong các tiêu chí đánh giá sự tăng trưởng của một
quốc gia.
c, Xuất khẩu
Tăng trưởng kinh tế bền vững luôn là một trong những mục tiêu
hàng đầu của các quốc gia, nhằm nâng cao mức sống người dân.
Trong các động lực của tăng trưởng, xuất khẩu được xem là một yếu
tố quan trọng. Tăng trưởng trong xuất khẩu ngoài đóng góp trực tiếp
đến tăng trưởng kinh tế thì còn đóng góp gián tiếp thông qua tác
động ngoại ứng kích thích tăng trưởng sản lượng của các khu vực
khác trong nền kinh tế.
d, Lực lượng lao động
Lực lượng lao động là một nhân tố quan trọng trong nền kinh

phủ nhằm thu hút nhiều vốn FDI hơn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước hình
thành và phát triển.


6

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012 – 2016
2.1. TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ THỰC HIỆN FDI TẠI VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2012 – 2016
2.1.1. Diễn biến về luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam
Bảng 2.1: Diễn biến dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016
Đơn vị: tỷ USD
Năm
2012
2013
2014
2015
2016

Tổng vốn
Tổng vốn thực Số dự
đăng ký
hiện
án
16,348
10,047
1287
22,352

tăng thêm 5,2 tỷ USD (chiếm 4,1% tổng vốn đăng ký). Lĩnh vực hoạt
động chuyên môn, khoa học công nghệ đứng thứ 3 với 684,84 triệu
USD, chiếm 3,8% tổng vốn đầu tư.


7

Các đối tác nước ngoài tham gia đầu tư vào Việt Nam trong
giai đoạn 2012-2016 chủ yếu là những nước đã có quan hệ ngoại
giao lâu dài với nước ta như Hàn Quốc, Nhật Bản, và các nước thuộc
khối ASEAN như Singapore, Malaysia (bảng 2.2). Bên cạnh đó, dòng
vốn đầu tư từ các nền kinh tế như: Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông
vào Việt Nam cũng có sự tăng trưởng mạnh so với các năm trước. Cụ
thể, Trung Quốc từ vị trí đầu tư thứ 10 (trong 2015) đã tiến lên vị trí
thứ 4 (năm 2016).
Bảng 2.2: 10 quốc gia đầu tư FDI nhiều nhất vào Việt Nam năm 2016

Địa phương thu hút FDI nhiều nhất vẫn là những vùng đồng
bằng có vị trí địa lý thuận lợi, dân cư đông đúc và trình độ nhân lực
cao như ĐB sông Hồng, Đông Nam Bộ. Cụ thể, gần đây nhất là trong
11 tháng đầu năm 2016 nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 54 tỉnh
thành phố, trong đó Hải Phòng là địa phương thu hút nhiều vốn FDI
nhất với 45 dự án cấp mới và 35 lượt dự án điều chỉnh vốn, tổng số
vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,74 tỷ USD, chiếm 15,2% tổng
vốn đầu tư. Bình Dương đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và
tăng thêm là 1,93 tỷ USD, chiếm 10,7%. Tiếp theo là Đồng Nai, Hà
Nội, TP.Hồ Chí Minh với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
lần lượt là 1,87 tỷ USD ; 1,84 tỷ USD và 1,32 tỷ USD.



tỷ trọng FDI đăng ký vào Việt Nam phân theo địa phương, đứng đầu
là thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng
Nai, Bình Dương, Hải Phòng,…
a, Các biến số kinh tế vĩ mô
Trong giai đoạn 2005 – 2015, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã đạt
được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Theo Báo cáo Đầu tư Toàn Cầu
của UNCTAD (2016), xếp hạng của Việt Nam về thu hút FDI có những
cải thiện rõ rệt. Từ mức gần như bằng không năm 1987, đến năm
2000 Việt Nam xếp hạng thứ 45/216 quốc gia về lượng vốn FDI thu
hút. Thứ

hạng của Việt Nam sụt giảm trong giai đoạn 2001 đến

trước thời điểm gia nhập WTO năm 2006, sau đó nhanh chóng lấy lại
phong độ và tăng hạng từ năm 2007. Từ đó đến nay, xếp hạng của
Việt Nam về thu hút FDI liên tục được cải thiện qua các năm. Năm
2015, Việt Nam xếp hạng thứ 26/216 về thu hút FDI.


9

Hình 2.1: Đồ thị tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam qua các năm

Nguồn: doanhnhanbacninh.net
Có thể thấy, cùng với sự mở cửa hội nhập kinh tế, tiếp nhận
nguồn vốn FDI, tỷ lệ tăng GDP Việt Nam đã có sự tăng trưởng rõ rệt,
từ mức 2,5% năm 1987 lên 7,8% ở năm 1989 và trung bình đạt mức
5,9%/năm giai đoạn 2011 – 2015.
Để thấy rõ tác động của FDI đến GDP, ta có thể phân tích qua
bảng sử dụng nguồn lực và đóng góp của các khu vực kinh tế đối với

tăng 8.7% so với năm 2015 và bằng 33% GDP, bao gồm: vốn khu
vực Nhà nước đạt 557.5 ngàn tỷ đồng, chiếm 37.6% tổng vốn và
tăng 7.2%; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 579.7 ngàn tỷ đồng,
chiếm 39% và tăng 9.7%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đạt 347.9 ngàn tỷ đồng, chiếm 23.4% và tăng 9.4%. Đầu tư
trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 26/12/2016 thu
hút 2,556 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15.2 tỷ USD,
tăng 27% về số dự án và giảm 2.5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ
năm 2015. Bên cạnh đó, có 1,225 lượt dự án đã cấp phép từ các năm
trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt hơn 5.7
tỷ USD, tăng 50.5% về số dự án và giảm 19.7% về vốn tăng thêm.
c, Xuất khẩu
Chủ trương khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài hướng về
xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng
lực xuất khẩu, qua đó giúp chúng ta từng bước tham gia và cải thiện
vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Từ năm 2003, xuất khẩu của khu
vực này bắt đầu vượt khu vực trong nước và dần trở 10 thành nhân
tố chính thúc đẩy xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch
xuất khẩu năm 2012. FDI góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng
xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt
hàng sơ cấp, tăng dần tỷ trọng hàng chế tạo.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tích cực tới việc mở rộng
thị trường xuất khẩu nhất là sang Hoa Kỳ, EU, làm thay đổi đáng kể
cơ cấu xuất khẩu, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn
nhất của Việt Nam.
Ngoài ra, FDI giúp góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn
chế nhập siêu thông qua việc cung cấp cho thị trường nội địa các sản
phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp trong nước sản xuất thay vì
phải nhập khẩu như trước đây
d, Lực lượng lao động

phẩm điện tử, cơ khí, chế tạo,… Nhiều doanh nghiệp FDI đã tổ chức
sản xuất các sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao, xuất khẩu gần
100% sản phẩm ra thị trường nước ngoài thuộc các lĩnh vực điện tử,
quang cơ - điện tử như Công ty TNHH Nidec Tosok, Muto, Nissei,… Có
doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu - phát triển như Công
ty TNHH Renesas Việt Nam với mục tiêu nghiên cứu, phát triển và
thiết kế các phần cứng (vi mạch) và các phần mềm chức năng cho IC
bán dẫn (Mạch tích hợp),… 2.2.2. Một số hạn chế
a, Hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao
Trong công nghiệp – xây dựng, các dự án đầu tư nước ngoài chủ
yếu tập trung vào lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; có quá ít dự án về cơ
sở hạ tầng; tỷ trọng dự án trong nông – lâm – ngư nghiệp rất thấp và
có xu hướng giảm dần trong khi đây là những ngành Việt Nam có thế
mạnh. Trong dịch vụ, các dự án bất động sản quy mô lớn còn cao
song nhiều trong số dự án này chậm triển khai, gây lãng phí về đất
đai, vay vốn trong nước. Đầu tư nước ngoài vào các dịch vụ trung


13

gian, dịch vụ giá trị gia tăng cao, giáo dục đào tạo, y tế, chăm sóc
sức khỏe, môi trường… còn hạn chế.
Đầu tư nước ngoài hiện tập trung chủ yếu tại địa bàn có điều
kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ
sản phẩm gây mất cân đối vùng miền, không đạt được mục tiêu
hướng đầu tư nước ngoài vào địa bàn khó khăn. Các khu kinh tế, khu
công nghiệp, khu công nghệ cao không tạo ra lợi thế khác biệt cho
từng địa phương và vùng lãnh thổ. Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ
yếu từ Châu Á, nhà đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp nhỏ và vừa
chiếm tỷ lệ cao. Hiện mới chỉ thu hút được trên 100 trong tổng số

FDI chỉ cao hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước nhưng
thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nhu cầu về nhà ở, đời
sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc
mà chưa đáp ứng được. Từ năm 1995 đến nay, cả nước đã xảy là
4.142 cuộc đình công, trong đó 75,4% (3.122 cuộc) của doanh
nghiệp FDI, chủ yếu xảy ra tại doanh nghiệp của Đài Loan, Hàn
Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản; tập trung ở ngành gia công, sử dụng
nhiều lao động như dệt may, cơ khí, điện tử, da giày xuất phát từ yêu
cầu về lợi ích của người lao động. Điều đáng nói là hầu hết các cuộc
đình công không tuân thủ theo đúng trình tự quy định của pháp luật
mặc dù 70% số cuộc đình công xảy ra ở doanh nghiệp có tổ chức
công đoàn. Trên thực tế, tổ chức công đoàn cơ sở còn nhiều hạn chế
trong việc bảo đảm các quyền lợi cho người lao động, đặc biệt là vấn
đề thỏa thuận mức tiền lương và điều kiện lao động.
d, Một số dự án được cấp phép nhưng chưa bảo đảm tính bền
vững, gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn năng lượng, tài
nguyên, chưa chú ý đầy đủ tới an ninh quốc phòng
Quy định về môi trường của Việt Nam áp dụng chuẩn của các
nước phát triển, song việc thẩm định chỉ mang tính hình thức, tập
trung nhiều vào khâu tiền kiểm, dẫn đến nhiều dự án khi triển khai
đã vi phạm nghiêm trọng quy định về môi trường, gây tác động lâu
dài tới sức khỏe người dân và hệ sinh thái khu vực. Một số dự án
chiếm giữ đất lớn nhưng không triển khai gây lãng phí tài nguyên.
Một số trường hợp thu hút đầu tư chưa tính đến hiệu quả tổng thể cả
về an ninh quốc phòng, nhất là các dự án trồng rừng, khai thác
khoáng sản, nuôi trồng thủy, hải sản ở vùng nhạy cảm về an ninh
quốc phòng, một số dự án sử dụng nhiều lao động phổ thông nước
ngoài.
Ví dụ điển hình của tác động tiêu cực này là trường hợp của
Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa – công ty có vốn đầu

suất đầu tư/diện tích đất, kể cả đất khu công nghiệp.
3.2. NHÓM GIẢI PHÁP VỀ CẢI THIỆN CÁC NGUỒN LỰC
Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo lao
động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên thị trường lên mức cao
hơn. Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động vào thực tế cuộc
sống để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh
hóa quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ luật Lao động.
Cải cách thị trường tài chính, hoàn thiện hơn các loại hình dịch
vụ du lịch, đầu tư; tạo thuận lợi cho quá trình chuyển quyền sở hữu
doanh nghiệp; tăng cường hướng dẫn các doanh nghiệp tìm đối tác.
Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư thông qua việc: nghiên cứu, đề xuất
chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia


16

cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác
trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…; các
Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục rà soát, cập nhật bổ
sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư và quy
hoạch phát triển địa phương, ngành, lĩnh vực, sản phẩm; tăng cường
công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư nói
riêng và quản lý đầu tư nói chung.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ kế hoạch và đầu tư, “Những đóng góp tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài

đối với kinh tế - xã hội của Việt Nam” (02/04/2013), Tạp chính tài chính,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status