1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhịp nhanh kịch phát trên thất (NNKPTT) là loại rối loạn nhịp tim
(RLNT) khá thường gặp trên thực tế lâm sàng. Tại Mỹ, theo số liệu của
nghiên cứu MESA [1], hiện nay có khoảng 570.000 trường hợp bị cơn
NNKPTT và hằng năm có khoảng 89.000 trường hợp mới mắc. Ở Việt Nam,
chưa có thống kê đầy đủ về tỷ lệ mắc bệnh nhưng cơn NNKPTT là loại RLNT
rất thường gặp ở các phòng khám cấp cứu. Theo nghiên cứu của tác giả Phạm
Quốc Khánh tỷ lệ cơn NNKPTT chiếm tới 57,1% trong số bệnh nhân có bệnh
liên quan đến RLNT [2].
Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đời sống kinh tế ngày càng phát
triển thì vấn đề chăm sóc sức khỏe ngày càng được coi trọng, chất lượng cuộc
sống và tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao hơn trước. Theo số
liệu thống kê sức khỏe thường niên của Tổ chức Y tế Thế giới tuổi thọ trung
bình của người Việt Nam hiện nay là 72 tuổi, trong đó nữ là 75 tuổi, nam là
70 tuổi. RLNT ở người cao tuổi thường liên quan đến tình trạng thoái hóa của
hệ thống dẫn truyền trong tim, tăng huyết áp và bệnh động mạch
vành…Nhưng cơn NNKPTT thường xảy ra ở những người không có bệnh tim
thực tổn. Cũng giống như các RLNT khác, khi cơn NNKPTT xuất hiện có thể
gây ra những triệu chứng như: mệt mỏi, tức ngực, khó thở, hoa mắt chóng
mặt và thậm chí là ngất. Nếu cơn nhịp nhanh kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày có
thể gây suy tim. Ở người cao tuổi, các vấn đề liên quan đến tuổi thường gặp
như: mạch máu cứng, đáp ứng với Bêta Adrenergic giảm, tăng sự phụ thuộc
của giai đoạn đổ đầy thất trái với sự co bóp của tâm nhĩ, nguy cơ cao mắc
bệnh động mạch vành cũng như các bệnh lý nội khoa khác. Chính điều này
làm cho bệnh nhân cao tuổi thường có các triệu chứng nặng nề hơn và tiên
lượng không tốt như người trẻ. RLNT làm tăng nguy cơ ngã, ảnh hưởng nhiều
đến các hoạt động thể lực và tăng tỷ lệ nhập viện.
Nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tim của các bệnh nhân trên.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương cấu tạo giải phẫu của tim, cơ tim và hệ thống dẫn truyền.
1.1.1 Cấu tạo sợi cơ tim
Cơ tim gồm hai loại sợi: sợi co bóp và sợi được biệt hóa có tính dẫn
truyền. Sợi co bóp là một hệ thống sợi cơ vân đan chằng chịt với nhau và có
đặc tính co bóp tự động khi được kích thích. Bên cạnh các sợi co bóp, còn
một hệ thống sợi có cấu tạo đặc biệt có thể phát ra xung động và DT xung
động điện tới các sợi co bóp của tim [9], [25].
1.1.2 Hệ thống dẫn truyền trong tim
Hệ thống tế bào biệt hóa có chức năng phát xung động và dẫn truyền
xung động bao gồm [4],[9],[25]:
Nút xoang: nằm ở vùng cao của nhĩ phải, chỗ đổ của tĩnh mạch chủ trên
vào nhĩ phải. Nút xoang giữ vai trò chủ nhịp chính của tim. Nó chứa các tế
bào có tính tự động cao nhất của tim.
Đường liên nhĩ: còn gọi là bó Bachmann. Bó này chứa các sợi cơ biệt
hóa chạy từ nút xoang tới nhĩ trái. Tốc độ dẫn truyền trong bó Bachmann rất
nhanh, giúp truyền xung động khử cực đồng thời hai tâm nhĩ.
Đường liên nút: gồm các tế bào biệt hóa chủ yếu là có khả năng dẫn
truyền xung động, nhưng cũng có một số tế bào có khả năng tự động phát
xung. Đường liên nút gồm có ba nhánh: nhánh trước, nhanh giữa, nhánh sau.
Nút nhĩ thất: nằm ở mặt phải phần dưới vách liên nhĩ giữa lá vách van
ba lá và xoang vành. Nút nhĩ thất đóng vai trò là con đường chính thống duy
nhất truyền xung động từ tâm nhĩ xuống tâm thất. Nút nhĩ thất gồm nhiều tế
bào biệt hóa đan với nhau chằng chịt làm cho xung động qua đây bị chậm lại
Các vách tim gồm có: vách liên nhĩ, vách liên thất và vách nhĩ thất.
- Vách liên nhĩ mỏng, chia đôi hai tâm nhĩ. Vùng vách liên nhĩ có lỗ
bầu dục được cấu tạo bởi tổ chức mô mỡ có rất ít tổ chức cơ nhĩ, vùng vách
5
liên nhĩ tách biệt nhĩ trãi và nhĩ phải. Đây là tổ chức yếu nhất của vùng vách
liên nhĩ cũng là vị trí được lựa chọn để chọc xuyên vách liên nhĩ đưa dụng cụ
từ nhĩ phải sang nhĩ trái; từ đó đưa các điện cực chẩn đoán và điện cực triệt
đốt cô lập tĩnh mạch phổi ở các BN rung nhĩ.
- Vách liên thất dày, ngăn cách giữa hai tâm thất, gồm hai phần: Phần
màng và phần cơ. Phần màng ở trên, nhỏ, mỏng, dính lệch sang phải. Phần cơ
chiếm phần lớn vách, rất dày, thường cong lồi sang phía nửa tim phải.
- Vách nhĩ thất là một màng mỏng ngăn cách tâm nhĩ phải và tâm thất
trái, do buồng thất trái rộng, vách liên thất dính lệch sang phải.
Các buồng tim gồm có: tâm nhĩ phải, tâm nhĩ trái, tâm thất phải, tâm
thất trái.
- Tâm nhĩ phải: phía trên có lỗ tĩnh mạch chủ trên, phía dưới có lỗ tĩnh
mạch chủ dưới. Tâm nhĩ phải thông với tâm thất phải qua van ba lá. Dây thông
điện cực đặt ở xoang tĩnh mạch vành thường được chúng tôi đưa theo đường từ
TM dưới đòn trái vào tĩnh mạch chủ trên xuống buồng nhĩ phải. Từ đó lái vào
xoang TM vành. Dây thông điện cực muốn đưa vào buồng thất phải sẽ đi từ
TM đùi phải lên TM chủ dưới vào buồng nhĩ phải; sau đó sẽ được lái qua van
ba lá vào buồng thất phải. Vòng van ba lá không có cấu tạo dạng vòng xơ thực
sự như vòng van hai lá mà nó được cấu tạo từ những nếp gấp của cơ nhĩ phải.
Cầu Kent bên phải ở các BN WPW sẽ vắt qua vòng van ba lá nối cơ nhĩ phải
và cơ thất phải. Khi triệt đốt cầu Kent này, đầu điện cực đốt sẽ được di chuyển
quanh vòng van ba lá để dò tìm vị trí cầu Kent.
- Tâm nhĩ trái: phía trên có lỗ thông với tiểu nhĩ trái, thành phía sau có
hợp WPW bên trái sẽ có cầu Kent vắt ngang vòng van hai lá nối cơ nhĩ trái và
cơ thất trái. Khi triệt đốt cầu Kent, chúng tôi sẽ đưa dây thông điện cực triệt
đốt đi ngược dòng theo ĐMC từ ĐM đùi phải, vào buồng thất trái, rồi quặt
ngược đầu dây điện cực tiếp cận vòng van hai lá, dò tìm quanh các thành của
vòng van hai lá, lập bản đồ nội mạc xác định vị trí đích và triệt đốt.
7
- Van ba lá nằm ở lỗ nhĩ thất bên phải, ngăn cách tâm nhĩ phải và tâm
thất phải.
- Van động mạch chủ là van ngăn cách tâm thất trái và động mạch
chủ. Van ĐMC được cấu tạo bởi 3 lá van hình bán nguyệt tựa vào nhau và
được gọi tên lần lượt là lá vành trái, lá vành phải và lá không vành tùy vào
nguyên ủy xuất phát của ĐM vành trái và ĐM vành phải. Các lá van có hình
khum hướng về phía ĐMC tạo thành các xoang gọi là xoang Valsava của van
ĐMC. Khá nhiều BN có ngoại tâm thu thất khởi phát từ vùng xoang Valsava
này. Khi triệt đốt loại NTT/T này, dây thông điện cực triệt đốt sẽ được đưa
ngược dòng từ ĐM đùi phải lên ĐMC, qua quai ĐMC và tiếp cận các lá van.
- Van động mạch phổi là van ngăn cách tâm thất phải và động mạch phổi.
1.2 Đặc tính điện sinh lý học cơ tim và điện thế hoạt động của tim.
1.2.1 Đặc tính điện sinh lý học cơ tim
Các đặc tính điện sinh lý học cơ tim bao gồm [4], [10], [12], [13], [25]:
Tính tự động: là tính chất đặc trưng của tế bào biệt hóa, là thuộc tính quan
trọng nhất của tổ chức biệt hóa cơ tim. Những tế bào biệt hóa cơ tim có thể phát
ra những xung động nhịp nhàng với những tần số nhất định, đảm bảo cho tim
đập chủ động.Tính tự động này hoàn toàn độc lập với hệ thần kinh.Tính tự động
của nút xoang là mạnh nhất. Thời gian tự khử cực nút xoang là nhanh nhất, sau
đó đến nút nhĩ thất rồi đến bó His. Tính chất này đảm bảo cho sự khử cực trong
tim theo một trình tự nhịp nhàng, không bị rối loạn.
Sự vận chuyển các ion Na+ qua màng tế bào làm điện thế (+) ngoài màng tế bào
sẽ được thay thế bằng điện thế (-), đây là hiện tượng khử cực (depolarization).
Điện thế hoạt động gồm các pha sau:
+ Pha 0: Khử cực nhanh. Dòng Na+ nhanh từ ngoài vào trong tế bào.
Đường biểu diễn điện thế gần như thẳng đứng.
Tiếp đó đến tái cực gồm 4 pha:
+ Pha 1: Tái cực nhanh sớm. Dòng Na+ từ ngoài vào trong tế bào đột
ngột đóng lại. Dòng Ca++ bắt đầu vào trong tế bào.
9
+ Pha 2: Cao nguyên tái cực, điện thế trong màng vẫn (+), Na+ tiếp tục
vào trong màng tế bào nhưng chậm hơn, Ca++ cũng vào trong màng và K+
thoát ra ngoài màng.
+ Pha 3: Tái cực nhanh muộn, K+ thụ động thoát ra ngoài màng tế bào,
điện thế trong màng trở nên âm tính hơn.
+ Pha 4: Phân cực, ở đầu giai đoạn này các ion Na+ chủ động di chuyển
ra ngoài màng tế bào, còn K+ lại chuyển vào trong. Khi điện thế màng đạt đến
mức cao nhất, tế bào trở lại trạng thái phân cực như khi nghỉ (trước giai đoạn
0 của điện thế hoạt động).
Hình 1.1. Điện thế hoạt động
(Nguồn từ Tạp chí Tim mạch Việt Nam)
Ở sợi cơ co bóp, điện thế tối đa trong màng được duy trì, giai đoạn 4 sẽ
kéo dài cho đến khi có một kích thích từ ngoài đến làm hạ điện thế tới ngưỡng
rồi khởi động điện thế hoạt động với các giai đoạn như đã mô tả ở trên.
Ở tế bào biệt hóa của hệ thống dẫn truyền thì hoàn toàn khác. Trong
trạng thái nghỉ, tế bào tự khử cực: ion Na+ xâm nhập dần dần vào trong tế bào
làm hạ dần điện thế trong màng, đó là sự khử cực chậm tâm trương, một đặc
- AVNRT thể bên trái: đây là dạng chậm - nhanh nhưng đường chậm
nằm ở bên trái.
11
1.3.1.2 Nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT) [5], [6], [12]
Bình thường dẫn truyền từ nhĩ xuống thất chi qua nút nhĩ thất (NT),
một số người có đường dẫn truyền phụ là dải cơ băng qua rãnh nhĩ thất nối
liền tâm nhĩ với tâm thất. Đa số các đường DT phụ có thể dẫn cả chiều xuôi từ
nhĩ xuống thất và chiều ngược từ thất lên nhĩ, khoảng 2 - 3% chỉ dẫn một
chiều từ nhĩ xuống thất, khoảng 20 - 31% chỉ dẫn chiều ngược (đường phụ
ẩn), có khoảng 7-15% có trên 2 đường dẫn truyền phụ. AVRTchia hai loại
cơn: AVRT xuôi chiều và AVRT chiều ngược.
- AVRT xuôi chiềuchiếm 90-95%. Xung động của NTT nhĩ dẫn qua
nút N-T nhưng không dẫn qua đường DT phụ (đang trong thời kỳ trơ) xuống
khử cực thất sau đó dẫn ngược lên nhĩ qua đường DT phụ (lúc này đa qua thời
kỳ trơ) rối xung động lại dẫn xuống thất qua nút N-T tạo thành vòng vào lại
tạo nên cơn AVRT xuôi chiều.
- AVRT chiều ngược chiếm khoảng 5-10% trường họp AVRT, xung
động từ nhĩ xuống thất qua đường phụ sau đó dẫn ngược lên thất qua nút nhĩ
thất tạo thành vòng vào lại tạo nên cơn AVRT chiều ngược.
1.3.1.3 Nhịp nhanh nhĩ (AT)
Có hai cơ chế tạo cơn nhanh nhĩ: do vòng vào lại hoặc do tăng tính tự động.
1.4 Phương pháp thăm dò điện sinh lý [6], [7], [13]
Thăm dòđiện sinh lý (TDĐSL) tim qua đường mạch máu là phương
pháp phân tích một cách hệ thống các rối loạn nhịp tim bằng cách đồng thời
ghi lại và đo các khoảng điện đồ trong buồng tim và điện tâm đồ bề mặt.
ĐTĐ bề mặt được ghi ở bên ngoài cơ thể, nó cho phép ghi lại hoạt động
điện của toàn bộ trái tim. Trong khi đó, ĐTĐ trong buồng tim được ghi ở bên
(RLDT) qua nút N-T. Do vị trí bó His nằm ở giữa nhĩ và thất, nên trên điện
đồ bó His có thể thấy 3 thành phần (3 sóng): điện thế nhĩ (sóng A), điện thế
His (sóng H) và điện thế thất (sóng V).
13
Phương pháp thăm dò điện sinh lý tim được thực hiện theo các bước
sau [4],[27],[29]:
- Ghi lại hình ảnh điện đồ trong buồng tim và đo các khoảng điện đồ
cơ bản.
- KT thất, nhĩ có chương trình.
1.4.1 Đo các khoảng điện đồ cơ bản.
Dựa vào điện đồ bó His và ĐTĐ bề mặt để đo các khoảng dẫn truyền trong
tim [4], [5], [6], [7], [12].
1.4.1.1 Khoảng PA
- Khoảng PA là thời gian dẫn truyền xung động từ nút xoang tới nút
N-T hay còn gọi là thời gian DT trong nhĩ. Được đo từ điểm bắt đầu của sóng
P ở ĐTĐ bề mặt cho tới sóng A ở điện đồ bó His.
1.4.1.2 Khoảng AH
- Độ dài của khoảng AH biểu hiện thời gian dẫn truyền qua nút N-T.
Được đo từ điểm bắt đầu của sóng A cho đến điểm bắt đầu của sóng H trên
điện đồ bó His. Khoảng AH bình thường là: 50-125ms. Khoảng AH kéo dài
trong trường hợp có RLDT qua nút N-T.
1.4.1.3 Độ rộng điện thế His
- Là thời gian để khử cực toàn bộ bó His. Được tính từđiểm bắtđầu của
thành phần sóng đầu tiên đến hết thành phần cuối cùng của sóng H trên điện
đồ bó His. Bình thường:
1.4.2 Các phương pháp kích thích tim có chương trình
1.4.2.1 Các loại kích thích tim [4],[7],[13],[32],[33]
- Kích thích với tần số tăng dần: là phương pháp KT tim với TS (tính
theo ck/ph) hoặc TGCK (tính theo ms) cố định trong một khoảng thời gian
nhất định, thường từ vài giây đến 30 giây. Các xung KT này được gọi chung
là S1 (Stimulation).
Hình 1.4. Kích thích thất với tần số tăng dần. S1: xung kích thích. V1: thất
đồ được tạo ra bởi xung kích thích S1(Nguồn từ sách Clinical cardiac
electrophysiology techniques and interpretation của Josepson)
- Kích thích với mức độ sớm dần (extrastimulus pacing): là phương
pháp KT tim với 8 nhịp có TGCK cốđịnh (S1) sau đó là một xung KT có
TGCK ngắn hơn (S2) với bản chất là tạo ra 1 NTT.
Hình 1.5. Kích thích thất với mức độ sớm dần
S1: xung kích thích thứ 1. S2: xung kích thích thứ 2 sớm hơn S1. V1: thất đồ được tạo ra
bởi xung kích thích S1. V2: thất đồ được tạo ra bởi xung kích thích S2.(Nguần từ sách
Clinical cardiac electrophysiology techniques and interpretationcủa Josepson)
16
Các xung KT này nếu được thực hiện ở thất sẽ tạo ra sóng tương ứng là
V1, V2, nếu thực hiện ở nhĩ thì tạo ra các sóng A1, H1, V1, A2, H2, V2.
Các phương pháp trên lần lượt được tiến hành ở tâm nhĩ và tâm thất.
Đa số các tác giả cho rằng nên tiến hành KT thất trước vì khi KT thất dựa vào
trình tự hoạt động điện học có thể sơ bộ xác định cơ chế của RLNT, hơn nữa
nếu KT nhĩ có thể gây nên rung nhĩ làm cho việc TDĐSL trở nên khó khăn
hơn nhiều [29]. KT tim nhằm mụcđích:
- Đánh giá những đặc điểm ĐSL của hệ thống DT trong tim và cơ nhĩ,
của BN thường là 600ms, hoặc 500ms, hoặc 400ms. Sau đó là một xung KT
đến sớm (S2). Khoảng ghép S1-S2 được giảm dần mỗi 10-20ms cho đến khi
trơ cơ thất.Trơ cơ thất được xác định là khi xung KT S2 đến sớm dài nhất
không gây khử cực cơ thất. Ta sẽ thấy trên ĐTĐ không có điện thế thất mà
chỉ có xung KT.
b. Kích thích nhĩ
Kích thích nhĩ tần số tăng dần.
Bắt đầu KT nhĩ với TGCK ngắn hơn TGCK nhịp cơ bản của BN. Mỗi
lần KT trong khoảng vài giây (8-12 nhịp KT), rồi giảm dần TGCK KT mỗi
20ms cho đến khi xuất hiện blốc N-T hoặc cho đến TGCK KT là 200ms. Thời
điểm xuất hiện blốc N-T được gọi là điểm Wenckebach chiều xuôi.
Nếu thăm dò chức năng nút xoang thì thời gian mỗi lần KT nhĩ thường
dài hơn, từ 30-60 giây [17],[18],[19].
Kích thích nhĩ mức độ sớm dần.
KT một chuỗi 8 nhịp với TGCK ngắn hơn TGCK nhịp cơ sở của BN (gọi là S1),
S1 thường có TGCK là: 600ms, hoặc 500ms, hoặc 400ms. Sau đó là một xung
KT đến sớm dần (S2). Khoảng ghép S1S2 giảm dần mỗi 10-20ms cho đến khi
trơ cơ nhĩ. Lúc này trên ĐTĐ chỉ có xung KT mà không có điện thế nhĩ.
18
1.5 Đại cương lão khoa
1.5.1 Khái niệm “người cao tuổi
Ở hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là người cao
tuổi. Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì mốc này không phù hợp. Ở
Việt Nam, Pháp lệnh người cao tuổi quy định những người từ 60 tuổi trở lên
được coi là người cao tuổi.
1.5.2 Tình hình người cao tuổi ở Việt Nam [16]
Việt nam là nước có cơ cấu dân số trẻ, song số người cao tuổi đang có
vòng vào lại tại nút N-T.
Năm 1914 Stanley Kent phát hiện dải cơ bất thường nối liền giữa nhĩ
và thất trên tim người. Năm 1930 Louis Wolff, John Parkinson và Dudley
White đã mô tả hội chứng mang tên ba ông (hội chứng WPW) có liên quan
đến cơn NNKPTT mà cơ chế do vòng vào lại N-T qua đường DT phụ như
Kent đã mô tả. Năm 1976 Wellens và cộng sự đã chứng minh đường DT kép
N-T (qua nút N-T và qua đường DT phụ) là điều kiện xuất hiện cơn AVRT.
Năm 1948 Langendorf đã đề cập và minh họa về hiện tượng “dẫn truyền ẩn”.
Đến nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về cơn NNKPTT [26],
[35], [36], [37], [42], [44], [47], [48], [50], [51].
1.6.2 Ở Việt Nam
Năm 1998 Phạm Quốc Khánh và cộng sự lần đầu tiên TD ĐSL và sử
dụng sóng năng lượng có tần số Radio (RF) để điều trị một số RLNT tại Viện
Tim mạch Việt Nam. Năm 2000 tại Bệnh viện Thống nhất thành phố Hồ Chí
Minh: Nguyễn Mạnh Phan và Tôn Thất Minh cũng đã tiến hành nghiên cứu
và điều trị cơn NNKPTT bằng sóng năng lượng RF.
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều trung tâm tim mạch trên toàn quốc đã
tiến hành TD ĐSL và điều trị RLNT bằng sóng năng lượng RF. Đã có nhiều
nghiên cứu về cơn NNKPTT [5], [6], [7], [43], [57].
20
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm 73 bệnh nhân được chẩn đoán xác định cơn NNKPTT nằm
điều trị nội trú tại Viện Tim mạch quốc gia Bệnh viện Bạch Mai. Các bệnh
nhân này sau đó được tiến hành thăm dò điện sinh lý tim và điều trị bằng sóng
RF. Tất cả các bệnh nhân này được chúng tôi lấy vào nghiên cứu từ tháng 2
- Sóng P không nhìn thấy hoặc đi sau phức bộ QRS
2.1.3.2Tiêu chuẩn chẩnđoán cơn NNKPTT bằng thăm dò điện sinh lý tim.
* Chẩn đoán AVNRT thể điển hình [7],[33]:
- Có bằng chứng của đường kép nút N-T chiều xuôi.
- Trong cơn nhịp nhanh, khoảng AH > 180ms.
- Gây cơn nhịp nhanh phụ thuộc vào bước nhảy AH.
- Trong cơn nhịp nhanh: trình tự khử cực nhĩ có dạng đồng tâm.
* Chẩn đoán AVNRT thể nhanh-chậm [7],[33]
- Trong cơn nhịp nhanh: khoảng RP dài và sóng P âm ở các chuyển đạo
DII, DIII, aVF.
- Trong cơn nhịp nhanh khoảng AH < 180ms.
- Có bằng chứng đường kép nút N-T chiều ngược.
- Gây cơn nhịp nhanh phụ thuộc vào bước nhảy VA
- Trong cơn nhịp nhanh điện thế nhĩ dẫn truyền ngược sớm nhất ở gần
lỗ xoang vành hoặc phía trong lỗ xoang vành.
* Chẩn đoán cơn AVNRT thể chậm-chậm [7],[33]:
- Có bằng chứng đường kép nút N-T cả chiều xuôi và chiều ngược.
- Trong cơn nhịp nhanh, khoảng AH> 180ms. Khoảng HV
- Khoảng VA thay đổi trong cơn nhịp nhanh hoặc khi KT thất.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
a. Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai.
b. Thời gian nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành thu thập bệnh án nghiên cứu của các bệnh nhân
thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ, nhập
Viện Tim mạch – Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 02 năm 2014
đến hết tháng 10 năm 2014.
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu theo trình tự sau:
24
2.2.3 Các bước tiến hành
Khám lâm sàng và làm các xét nghiệm cơ bản
a. Khám lâm sàng: Thầy thuốc trực tiếp hỏi tiền sử, bệnh sử và khám
lâm sàng kỹ lưỡng cho BN khi nhập viện:
Cơ năng: tập trung vào khai thác các vấn đề như:
- Lần đầu tiên xuất hiện cơn hồi hộp trống ngực.
- Tính chất khởi phát và kết thúc cơn: đột ngột hay từ từ.
- Tần suất xuất hiện cơn trong năm gần nhất và tiến triển.
- Các yếu tố khởi phát cơn.
- Các triệu chứng khác trong cơn: đau ngưc, khó thở, choáng váng, hoa
mắt chóng mặt, ngất xỉu...
- Các thuốc đã dùng để điều trị cắt cơn, phòng cơn. Hiệu quả của thuốc.
Thực thể: khám một cách toàn diện các bộ phận như tim mạch, hô hấp,
bụng, thần kinh…
quang tăng sáng: vùng cao của nhĩ phải hoặc tiểu nhĩ phải để ghi điện thế nhĩ
phải, mỏm thất phải hoặc đường ra thất phải để ghi điện thế thất phải, vị trí bó
His để ghi điện đồ bó His, xoang vành để ghi điện thế nhĩ trái và thất trái.
Hình 2.1.Vị trí các dây điện cực trong thăm dò điện sinh lý tim và triệt đốt
đường chậm
NP: dây điện cực nhĩ phải, His: dây điện cực His, XV: dây điện cực xoang vành, ABL: dây
điện cực mapping và đốt.(Nguồn từ tạp chí Tim mạch Việt Nam)