nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý timmột số rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân cao tuổi - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn nhịp tim (RLNT) là một vấn đề khá thường gặp và rất phức tạp
trong bệnh học tim mạch[36],[37]. Các RLNT thường gây nên các triệu chứng trên
lâm sàng. Một số loại có thể gây nên các triệu chứng nặng nề, gây rối loạn huyết
động và thậm chí có thể gây tử vong. RLNT còn có thể làm cho các bệnh tim có
sẵn như bệnh van tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh cơ tim… nặng lên dẫn đến
suy tim hoặc gây nên các biến chứng nặng nề khác như: tắc mạch, đột tử…
Với tiến bộ của khoa học và đời sống kinh tế của thế giới, chất lượng cuộc
sống và tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao hơn trước. Cũng giống
như thế giới, ở Việt Nam tỷ người cao tuổi ngày một tăng lên. Tổng điều tra dân số
năm 2009, cho thấy tuổi thọ trung bình người Việt Nam là 72,2 tuổi, đứng hàng
thứ 4 khu vực Đông Nam Á, hàng thứ 83 thế giới; tuy nhiên tuổi thọ bình quân
khỏe mạnh khá thấp, xếp thứ 116/174 nước trên thế giới và có khoảng 7.000 cụ
sống trên 100 tuổi(11). Cùng với sự phát triển đời sống kinh tế xã hội, bệnh tim
mạch ngày càng tăng và trở thành vấn đề thời sự. Ở người cao tuổi tỷ lệ mắc
bệnh tim mạch nhiều gấp 3 lần so với ngư ời trẻ tuổi (5). Không giống như
ngưởi trẻ tuổi, người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh cùng lúc, triệu chứng lâm
sàng thường thay đổi, không đặc hiệu, dễ diễn biến nặng, tăng nguy cơ biến
chứng và tử vong. Việc chẩn đoán và điều trị thường khó khăn
Nhiều thập kỷ qua, người ta đã nghiên cứu rất nhiều về cơ chế gây ra các rối
loạn nhịp tim cũng như các phương thức điều trị rối loạn nhịp tim hiệu quả. Nhiều
thuốc điều trị rối loạn nhịp tim đã ra đời và hiện tại các nhà khoa học vẫn đang tiếp
tục nghiên cứu và phát minh ra các loại thuốc chống loạn nhịp mới [20], [21], [22].
Từ vài thập kỷ nay, phương pháp thăm dò điện sinh lý học tim ra đời giúp cho các
nhà khoa học và các bác sỹ lâm sàng chuyên khoa tim mạch có những hiểu biết
đầy đủ hơn về cơ chế của các loại rối loạn nhịp, giúp chẩn đoán xác định và ra chỉ
định điều trị đúng đắn các rối loạn nhịp tim. Thăm dò điện sinh lý tim (ĐSLT) là
phương pháp ưu việt vì ĐSLT đánh giá được tình trạng hoạt động của nút
xoang, tình trạng dẫn truyền nhĩ-thất, cơ chế RLNT, chẩn đoán chính xác vị trí
đích ổ RLNT Đặc biệt phương pháp triệt đốt sử dụng năng lượng sóng có tần số
radio (Radio Frequency Ablation) qua dây thông điện cực để loại bỏ các vị trí giải

rung nhĩ.
- Vách liên thất dày, ngăn cách giữa hai tâm thất, gồm hai phần: phần màng và phần
cơ. Phần màng ở trên, nhỏ, mỏng, dính lệch sang phải. Phần cơ chiếm phần lớn
vách, rất dày, thường cong lồi sang phía nửa tim phải.
- Vách nhĩ thất là một màng mỏng ngăn cách tâm nhĩ phải và tâm thất trái, do buồng
thất trái rộng, vách liên thất dính lệch sang phải.
Các buồng tim gồm có: tâm nhĩ phải, tâm nhĩ trái, tâm thất phải, tâm thất
trái.
- Tâm nhĩ phải: phía trên có lỗ tĩnh mạch chủ trên, phía dưới có lỗ tĩnh mạch chủ
dưới. Tâm nhĩ phải thông với tâm thất phải qua van ba lá. Dây thông điện cực đặt ở
xoang tĩnh mạch vành thường được chúng tôi đưa theo đường từ tĩnh mạch dưới
đòn trái vào tĩnh mạch chủ trên xuống buồng nhĩ phải. Từ đó lái vào xoang tĩnh
mạch vành. Dây thông điện cực muốn đưa vào buồng thất phải sẽ đi từ TM đùi
phải lên TM chủ dưới vào buồng nhĩ phải; sau đó sẽ được lái qua van ba lá vào
buồng thất phải. Vòng van ba lá không có cấu tạo dạng vòng xơ thực sự như vòng
van hai lá mà nó được cấu tạo từ những nếp gấp của cơ nhĩ phải. Cầu Kent bên
phải ở các BN WPW sẽ vắt qua vòng van ba lá nối cơ nhĩ phải và cơ thất phải. Khi
triệt đốt cầu Kent này, đầu điện cực đốt sẽ được di chuyển quanh vòng van ba lá để
dò tìm vị trí cầu Kent.
- Tâm nhĩ trái: phía trên có lỗ thông với tiểu nhĩ trái, thành phía sau có 4 lỗ tĩnh
mạch phổi đổ vào. Tâm nhĩ trái thông với tâm thất trái qua van hai lá. Thành sau
nhĩ trái là vùng thường được tiếp cận trong điều trị rung nhĩ bằng năng lượng sóng
có tần số radio. Phần cơ nhĩ gần các lỗ TM phổi sẽ là vị trí đích triệt đốt để tạo
những vòng tròn tổn thương cơ nhĩ nhằm cô lập về mặt điện học giữa TM phổi và
cơ nhĩ. Những bó cơ từ thành trước trên của vách liên nhĩ kéo dài tạo các bè cơ bao
bọc chu vi cổ tiểu nhĩ trái. Do đó tạo nên tính dẫn truyền giữa tiểu nhĩ trái và thân
nhĩ trái. Việc triệt đốt để cô lập điện học giữa tiểu nhĩ trái và nhĩ trái bằng năng
lượng sóng radio rất cần thiết trong điều trị rung nhĩ. Tiểu nhĩ trái rất mỏng và dễ
bị rách, do đó khi đưa các điện cực vào buồng nhĩ trái phải hết sức khéo léo tránh
đâm thủng tiểu nhĩ trái.

1.1.2 Cấu tạo sợi cơ tim
Cơ tim gồm hai loại sợi: sợi co bóp và sợi được biệt hóa có tính dẫn truyền.
Sợi co bóp là một hệ thống sợi cơ vân đan chằng chịt với nhau và có đặc tính co
bóp tự động khi được kích thích. Bên cạnh các sợi co bóp, còn một hệ thống sợi có
cấu tạo đặc biệt có thể phát ra xung động và dẫn truyền xung động điện tới các sợi
co bóp của tim [34], [35].
1.1.3 Hệ thống dẫn truyền trong tim
Hệ thống tế bào biệt hóa có chức năng phát xung động và dẫn truyền xung
động bao gồm [9], [25]:
Nút xoang: nằm ở vùng cao của nhĩ phải, chỗ đổ của tĩnh mạch chủ trên vào
nhĩ phải. Nút xoang giữ vai trò chủ nhịp chính của tim. Nó chứa các tế bào có tính
tự động cao nhất của tim.
Đường liên nhĩ: còn gọi là bó Bachmann. Bó này chứa các sợi cơ biệt hóa
chạy từ nút xoang tới nhĩ trái. Tốc độ dẫn truyền trong bó Bachmann rất nhanh,
giúp truyền xung động khử cực đồng thời hai tâm nhĩ.
Đường liên nút: gồm các tế bào biệt hóa chủ yếu là có khả năng dẫn truyền
xung động, nhưng cũng có một số tế bào có khả năng tự động phát xung. Đường
liên nút gồm có ba nhánh: nhánh trước, nhanh giữa, nhánh sau.
Nút nhĩ thất: nằm ở mặt phải phần dưới vách liên nhĩ giữa lá vách van ba lá
và xoang vành. Nút nhĩ thất đóng vai trò là con đường chính thống duy nhất truyền
xung động từ tâm nhĩ xuống tâm thất. Nút nhĩ thất gồm nhiều tế bào biệt hóa đan
với nhau chằng chịt làm cho xung động qua đây bị chậm lại và dễ bị blốc. Nút nhĩ
thất chủ yếu làm nhiệm vụ dẫn truyền và chỉ có ít tế bào tự động.
Bó His: nối tiếp với nút nhĩ thất, có đường đi trong vách liên thất ngay dưới
mặt phải của vách dài khoảng 20 mm, bó His chia 2 nhánh phải và trái. Cấu tạo bó
His gồm các sợi dẫn truyền nhanh đi song song và có tế bào có tính tự động cao.
Vì bó His và nút nhĩ thất nối tiếp với nhau không có ranh giới rõ rệt, rất khó phân
biệt về mặt tổ chức học nên được gọi chung là bộ nối nhĩ thất.
Các nhánh và mạng lưới Purkinje: Bó His chia ra 2 nhánh: nhánh phải và
nhánh trái, nhánh phải nhỏ và mảnh hơn, nhánh trái lớn chia ra 2 nhánh nhỏ là

Tính trơ: cơ tim chỉ đáp ứng theo nhịp kích thích đến một chu kỳ nhất định,
kích thích đến đúng lúc tim đang co thì không được đáp ứng, kích thích đến vào
thời kỳ tim giãn thì có đáp ứng.
1.2.2 Điện thế hoạt động của tim
Các đặc điểm về điện thế hoạt động của tim bao gồm các tính chất sau [3],
[4], [25], [10]:
Khi nghỉ ngơi, nồng độ ion K
+
nội bào gấp 30 – 37 lần ngoại bào. Ngược lại
nồng độ ion Na
+
ngoại bào gấp 10 lần nội bào. Sự chênh lệch nồng độ các ion này
tạo nên điện thế nghỉ của màng tế bào là – 90mV. Lúc này, ngoài màng tế bào tích
điện dương, trong màng tế bào tích điện âm.
Khi tế bào hoạt động, màng tế bào sẽ tăng tính thấm, ion Na
+
sẽ ồ ạt đi vào tế
bào làm điện thế qua màng tế bào vọt lên + 20mV gọi là hiện tượng quá đà. Sự vận
chuyển các ion Na
+
qua màng tế bào làm điện thế (+) ngoài màng tế bào sẽ được
thay thế bằng điện thế (-), đây là hiện tượng khử cực (depolarization).
Điện thế hoạt động gồm các pha sau:
+ Pha 0: Khử cực nhanh. Dòng Na
+
nhanh từ ngoài vào trong tế bào. Đường
biểu diễn điện thế gần như thẳng đứng.
Tiếp đó đến tái cực gồm 4 pha:
+ Pha 1: Tái cực nhanh sớm. Dòng Na
+

thái nghỉ, tế bào tự khử cực: ion Na
+
xâm nhập dần dần vào trong tế bào làm hạ
dần điện thế trong màng, đó là sự khử cực chậm tâm trương, một đặc trưng của tế
bào tự động. Khi điện thế trong màng hạ tới ngưỡng sẽ khởi động một điện thế
hoạt động. Tần số tạo ra những điện thế hoạt động phụ thuộc vào tốc độ khử cực
chậm tâm trương ở pha 4. Bình thường, tế bào tự động của nút xoang có tần số tự
khử cực lớn nhất vì vậy điện thế trong màng của các nơi khác chưa xuống đến
ngưỡng để tạo ra một điện thế hoạt động thì xung động từ nút xoang đã dẫn tới xóa
những xung động đang hình thành từ các nơi đó và do vậy nó chỉ huy nhịp đập của
tim.
1.3 Cơ chế rối loạn nhịp tim.
1.3.1 Nguyên nhân chính của rối loạn nhịp tim
Các nhóm nguyên nhân của RL nhịp tim [1], [21]:
- Các bệnh lý tim thực tổn: bệnh động mạch vành, bệnh van tim, bệnh
cơ tim, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, bệnh việm nội tâm mạc nhiễm
khuẩn …
- Rối loạn điện giải: rối loạn Kali máu, rối loạn Canxi máu …
- Rối loạn thăng bằng toan kiềm.
- Ngộ độc: thuốc, hóa chất.
- Rối loạn nội tiết: cường giáp, suy giáp …
- Nhiễm trùng.
- Không rõ nguyên nhân.
1.3.2 Cơ chế chính của các rối loạn nhịp tim
Cơ chế của các RL nhịp tim được tóm lược trong một vài điểm sau [11],
[15], [12]:
- Bản chất của rối loạn nhịp tim được quy về thành ba loại:
o Rối loạn hình thành xung động
o Rối loạn dẫn truyền xung động
o Hỗn hợp giữa rối loạn hình thành xung động và dẫn truyền xung

vào lại. Sóng xung động cứ di chuyển liên tục trong vòng vào lại như vậy làm xuất
hiện và duy trì cơn tim nhanh
1.3.2.3 Cơ chế tăng tính tự động (Enhanced Automaticity)
Ở tim bình thường, tính tự động chỉ có ở nút xoang và một số mô được biệt
hóa khác. Khi hoạt động bình thường, tế bào bình thường trong cơ tâm nhĩ và cơ
tâm thất không có khử cực tâm trương tự phát và không khởi phát xung tự phát.
Khi có bất thường điện thế màng, các tế bào cơ nhĩ hay cơ thất có thể tăng tính tự
động một cách bất thường, cướp quyền chủ nhịp của nút xoang và gây ra các rối
loạn nhịp tim trên lâm sàng.
1.4 Sinh lý bệnh và cơ chế của một số dạng rối loạn nhịp nhanh thường gặp
làm cơ sở cho phương thức thăm dò điện sinh lý và điều trị triệt đốt bằng
năng lượng sóng có tần số radio.
Phương pháp điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio
dựa trên cơ sở hiểu biết về sinh lý bệnh của các loại rối loạn nhịp, từ đó tìm ra
phương cách triệt đốt vùng cơ chất của các rối loạn nhịp đó. Sau đây, chúng tôi
trình bày đại cương về cơ chế sinh lý bệnh của một số dạng rối loạn nhịp nhanh
thường gặp [4], [5], [6], [7], [23], [24], [40]:
1.4.1 Cơn tim nhanh vào lại tại nút nhĩ thất (Cơn TNVLNNT)
Nút nhĩ thất có hai đường dẫn truyền xung động. Một đường gọi là “đường
chậm” (slow pathway) có tốc độ dẫn truyền chậm và thời kì trơ ngắn. Một đường
gọi là “đường nhanh” (fast pathway) có tốc độ dẫn truyền cao hơn và thời kì trơ dài
hơn.
Trong nhịp xoang, xung động từ nút xoang qua tâm nhĩ sẽ đi vào cả hai
đường. Xung động qua đường nhanh sẽ đi nhanh hơn tới bó His và xuống khử cực
tâm thất. Xung động qua đường chậm đi chậm hơn khi tới bó His sẽ gặp đúng thời
kì trơ của bó His (do xung động qua đường nhanh khử cực bó His ngay trước đó)
nên dừng lại.
Sự tồn tại và khác biệt về đặc tính điện sinh lý học của đường dẫn truyền
kép này là điều kiện xuất hiện vòng vào lại gây cơn tim nhanh vào lại tại nút nhĩ
thất. Có hai loại cơn TNVLNNT chủ yếu:

o Cơn TNVLNT chiều xuôi: xung động từ nhĩ đi xuôi chiều qua
đường dẫn truyền bất thường xuống khử cực thất rồi vòng ngược lên nhĩ theo
đường nút nhĩ thất – bó His để khử cực nhĩ. Xung động khử cực nhĩ tiếp tục đi
xuôi theo đường dẫn truyền bất thường xuống thất, khép kín vòng vào lại.
o Cơn TNVLNT chiều ngược: xung động đi từ nhĩ xuôi chiều qua
nút nhĩ thất – bó His xuống khử cực thất rồi vòng ngược theo đường dẫn truyền bất
thường lên khử cực nhĩ. Xung động khử cực nhĩ tiếp tục đi xuôi vào nút nhĩ thất,
khép kín vòng vào lại. Nếu có nhiều đường dẫn truyền bất thường, xung động có
thể sử dụng các đường dẫn truyền bất thường này như là các nhánh của vòng vào
lại.
Rung nhĩ cũng là một dạng rối loạn nhịp tim thường gặp ở các bệnh nhân có
đường dẫn truyền bất thường. Xung động khử cực nhĩ rất nhanh sẽ đi liên tục qua
đường dẫn truyền bất thường xuống khử cực tâm thất làm cho tần số thất cực kỳ
nhanh gây nguy hiểm tính mạng. Nguyên nhân là do đường dẫn truyền bất thường
điển hình có tính chất dẫn truyền không phụ thuộc tần số.
1.4.3 Ngoại tâm thu thất/Tim nhanh thất
Ngoại tâm thu là một nhịp tim được khởi phát sớm hơn nhịp xoang cơ sở.
Trên nền nhịp xoang, ngoại tâm thu thất là một nhịp tim được phát xung từ một ổ
phát nhịp ngoại lai ở tâm thất làm một phần hoặc toàn bộ cơ tim khử cực.
Trên điện tâm đồ, có từ 3 nhịp ngoại tâm thu thất liên tiếp trở lên được gọi là
tim nhanh thất.
Cơ chế của ngoại tâm thu thất/Tim nhanh thất chưa được hiểu một cách đầy
đủ. Có 2 giả thuyết về sự hình thành ngoại tâm thu:
o Sự gia tăng cường độ xung động của ổ tạo nhịp bất thường.
o Xung động khử cực theo vòng vào lại.
1.4.4 Cơn tim nhanh nhĩ
Tim nhanh nhĩ bao gồm nhiều dạng:
o Do ổ tự động
o Do vòng vào lại loại lớn
o Do sẹo cơ nhĩ

ĐTĐ trong buồng tim và ĐTĐ bề mặt đều ghi lại hoạt động điện của tim. Tuy
nhiên ĐTĐ bề mặt được ghi ở bên ngoài cơ thể, nó cho phép ghi lại hoạt động điện
của toàn bộ trái tim. Trong khi đó, ĐTĐ trong buồng tim được ghi ở bên trong tim
bởi dây điện cực với nhiều cực ( multi-polar) đặt trong buồng tim thì ghi lại hoạt
động điện ở từng buồng tim. ĐTĐ trong buồng tim được lọc khác với ĐTĐ bề mặt
để tránh nhiễu và tương tác (Interference). Tốc độ ghi cũng thường lớn hơn so với
ĐTĐ bề mặt (100 hoặc 200mm/s). Khoảng cách giữa các sóng thường được tính
bằng milli giây (ms). Cũng giống như ĐTĐ bề mặt, điện đồ trong buồng tim được
ghi bởi 2 cực ở đầu dây. Mỗi dây điện cực thông thường có 4 cực sẽ ghi được 2
chuyển đạo trong buồng tim. Đặc biệt cực ngoài cùng ở đầu dây vừa có chức năng
ghi lại điện đồ, lại vừa có chức năng để kích thích tim vì nó tiếp xúc trực tiếp với
cơ tim. Dây điện cực đặt ở buồng tim nào sẽ ghi được điện đồ của buồng tim đó.
Nếu dây điện cực đặt ở vị trí giữa 2 buồng tim thì sẽ ghi được điện đồ của cả 2
buồng tim với kích thước gần như nhau ( ví dụ dây điện cực His sẽ ghi được điện
đồ của nhĩ phải (sóng A) và thất phải ( sóng V) với kích thước gần như nhau.).
Sóng của điện đồ càng nhỏ nếu dây điện cực càng đi xa khỏi buồng tim đó, hoặc
do dây điện cực tiếp xúc không tốt với cơ tim, hoặc do vùng cơ tim đó là tổ chức
sẹo.
Hình 1.4. Vị trí các dây điện cực đặt trong buồng tim khi thăm dò điện sinh lý
tim và hình ảnh điện đồ tương ứng ghi được từ dây điện cực đó
ECG: ĐTĐ bề mặt, HRA: điện đồ nhĩ phải, HBE: điện đồ bó His, CS prox, CS mid, CS distal:
điện đồ xoang vành ở các vị trí đầu gần, giữa và đầu xa.
(Nguồn: Từ bài giảng của GS.Jackman W.M)
Vị trí các dây điện cực đặt trong buồng tim thông thường bao gồm: dây điện
cực 4 cực đặt ở phần cao của tâm nhĩ phải ( HRA- High Right Atrium) hoặc tiểu
nhĩ phải ghi hoạt động điện của tâm nhĩ phải, dây điện cực thất phải ( RV- Right
Ventricle) được đặt ở mỏm thất phải để ghi lại hoạt động điện của thất phải, dây
điện cực His được đặt ở phía trước của vòng van ba lá để ghi điện đồ bó His và dây
điện cực xoang vành với 6, 8 hoặc 10 cực để ghi lại điện thế của nhĩ và thất
trái[26]. Điện đồ bó His rất có giá trị trong việc chẩn đoán xác định cũng như là vị

đồ, thường là phức bộ QRS trên ĐTĐ bề mặt.
- Khoảng HV biểu thị thời gian DT trong hệ thống His-Purkinje. Khoảng HV
bình thường là: 35-55ms. Khoảng HV ngắn trong trường hợp có hội chứng tiền
kích thích (Wolff-Parkinson-White) và dài trong bệnh lý của hệ thống His-
Purkinje.
1.5.1.5. Độ rộng QRS:
- Là thời gian khử cực của tâm thất.
- Bình thường: <100ms.
1.5.1.6. Khoảng QT:
- Khoảng QT biểu thị toàn bộ thời gian khử cực và tái cực của thất.
- Khoảng QT được đo trên ĐTĐ bề mặt, từ điểm bắt đầu của sóng Q đến hết
sóng T. Khoảng QT thay đổi phụ thuộc vào TS tim. Vì vậy để đánh giá chính xác
hơn cần dựa vào khoảng QT có điều chỉnh, hay gọi là khoảng QTc. Khoảng QTc
được tính theo công thức của Bazett:
QTc= QT/ √RR
- Bình thường: ở nam giới khoảng QTc trong khoảng 430-460ms, ở nữ giới
QTc từ 440-470ms.
- Khoảng QT được coi là ngắn nếu QTc < 360ms ở nam giới và < 370ms ở nữ
giới [28].
- Khoảng QT được coi là dài nếu: QTc>460ms với nam và >470ms với nữ.
Tuy nhiên được coi là có nguy cơ cao nếu QTc ≥500ms[30],[41]
Hình 1.5. Đo các khoảng dẫn truyền trong tim[115].
CL: chiều dài chu kỳ nhịp cơ bản. HBE: độ rộng điện thế His. Các khoảng dẫn truyền trong tim
khác: PA, AH, HV, QT.
1.5.2. Các phương pháp kích thích tim có chương trình.
1.5.2.1. Các loại kích thích tim[32], [33]:
- Kích thích với tần số tăng dần (incremental pacing): là phương pháp KT tim
với TS (tính theo ck/ph) hoặc TGCK (tính theo ms) cố định trong một khoảng thời
gian nhất định, thường từ vài giây đến 30 giây. Các xung KT này được gọi chung
là S1 ( Stimulation).

- Tạo ra các RLNT và phân tích cơ chế của RLNT đó.
- Can thiệp về mặt điện học đến chức năng của hệ thống DT, tâm nhĩ, tâm
thất, cũng như các RLNT và đánh giá hiệu quả của sự can thiệp đó.
- Đánh giá hiệu quả của thuốc.
1.5.2.2. Kích thích tim có chương trình:
Trong TDĐSL tim, hai phương pháp KT tim thường được sử dụng là KT tim
với TS tăng dần và KT tim với mức độ sớm dần. Các phương pháp KT này được
tiến hành ở những vị trí khác nhau trong buồng tim, nhưng thông thường ở nhĩ phải
và thất phải. KT thất phải thường được thực hiện ở một hoặc cả hai vị trí là mỏm
thất phải và đường ra thất phải. KT nhĩ phải được thực hiện ở một hoặc hai vị trí là
vùng cao nhĩ phải và tiểu nhĩ phải[42].
 Kích thích thất tần số tăng dần.
Mục đích:
- Đánh giá khả năng DT ngược từ thất lên nhĩ.
- Đánh giá đặc điểm ĐSL nút N-T theo chiều ngược.
- Đánh giá đặc điểm ĐSL đường dẫn truyền phụ (nếu có).
- Tạo nên các RLNT có trên lâm sàng và xác định cơ chế của RLNT đó.
Phương pháp:
- KT thất với TGCK ngắn hơn TGCK nhịp cơ sở của BN 10-20ms ( TS KT
nhanh hơn TS tim của BN). Mỗi lần KT 8-12 nhịp.
- Nếu không có DT ngược T-N có thể loại trừ sự tồn tại của đường DT phụ
ẩn.
- Nếu có DT ngược T-N thì tiếp tục giảm dần TGCKKT mỗi 10-20ms cho đến
khi xuất hiện blốc T-N kiểu chu kỳ Wenckebach, hay còn gọi điểm
Wenckebach chiều ngược. Dựa vào trình tự khử cực nhĩ để xác định đó là
kiểu DT đồng tâm hay lệch tâm.
- Nếu mục đích để tạo nên các rối loạn nhịp thất thì có thể tiếp tục giảm
TGCKKT. Nếu không gây được rối loạn nhịp thất, có thể tiếp tục KT thất ở
vị trí thứ 2, thường ở đường ra thất phải, với trình tự như trên.
 Kích thích thất với mức độ sớm dần.

Nếu thăm dò chức năng nút xoang thì thời gian mỗi lần KT nhĩ thường dài
hơn, từ 30-60 giây[17],[18],[19].
 Kích thích nhĩ mức độ sớm dần.
Mục đích:
- Đánh giá đặc điểm ĐSL của nút N-T chiều xuôi bao gồm: xác định TGTr
của nút N-T, tìm bằng chứng đường DT kép nút N-T, TGTr đường DT
chậm, đường DT nhanh.
- Xác định TGTr của đường DT phụ trong hội chứng WPW.
- Xác định TGTr của cơ nhĩ.
- Tạo ra các RLNT và xác định cơ chế của RLNT đó.
Phương pháp:
KT một chuỗi 8 nhịp với TGCK ngắn hơn TGCK nhịp cơ sở của BN (gọi là
S1), S1 thường có TGCK là: 600ms, hoặc 500ms, hoặc 400ms. Sau đó là một xung
KT đến sớm dần (S2). Khoảng ghép S1-S2 giảm dần mỗi 10-20ms cho đến khi trơ
cơ nhĩ. Lúc này trên ĐTĐ chỉ có xung KT mà không có điện thế nhĩ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status