Hoàn thiện công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan tại cục hải quan TP hải phòng - Pdf 48

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.

Hải Phòng, ngày 08 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuỳ Linh

i


LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn
thạc sỹ Quản lý kinh tế với đề tài “Hoàn thiện công tác xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải quan TP Hải Phòng”. Tôi xin trân
trọng gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo của Trường Đại học Hàng Hải
Việt Nam, những người đã tận tình dạy bảo giúp đỡ và định hướng cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu. Xin gửi lời cám ơn trân trọng tới Ban Giám hiệu,
Viện Đào tạo sau đại học Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tạo điều kiện cho
tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS. Dương Văn Bạo,
người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã hợp tác chia sẻ
thông tin, cung cấp cho tôi nguồn tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

ii


Cục Hải quan TP Hải Phòng” là một việc làm cần thiết, bởi nó phục vụ thiết thực
cho hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi
hành và áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại đơn vị Cục Hải quan.
2. Mục đích nghiên cứu
Khoá luận tốt nghiệp có mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, trên
cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ khái niệm, bản chất, đặc điểm đặc trưng của vi
phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải quan, thực trạng vi phạm hành chính
1


trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải quan TP Hải Phòng, từ đó đề xuất giải pháp
chủ yếu hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở
Việt Nam hiện nay, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thi hành và áp
dụng pháp luật hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống vi phạm
hành chính, ổn định trật tự quản lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong
lĩnh vực hải quan cũng như khắc phục tình trạng vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan tại Cục Hải quan TP Hải Phòng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với khuôn khổ của một Khoá luận tốt nghiệp, với thời gian và khả năng
nghiên cứu còn giới hạn của bản thân, tôi xin tập trung chủ yếu vào việc nghiên
cứu về một số vấn đề mang tính chất lý luận về vi phạm luật hành chính, thực trạng
xử phạt vi phạm hành chính và giải pháp nhằm khắc phục vi phạm hành chính
cũng như hoàn thiện công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
tại Cục Hải quan TP Hải Phòng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi và khả năng cho phép, tôi cố gắng nghiên cứu một cách tổng
quát về những vấn đề cơ bản thuộc nội dung của pháp luật hành chính trong xử
phạt vi phạm hành chính về hải quan dưới góc độ lý luận và thực tiễn ban hành, áp
dụng và thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính thời gian qua dựa trên một số

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
1.1. Lý luận chung về vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
1.1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính
Để xã hội có thể ổn định và phát triển được theo đúng định hướng đã đề ra,
Nhà nước luôn phải tác động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống các quy tắc
quản lý nhà nước được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Trên thực
tế, trong đời sống xã hội luôn xảy ra tình trạng vi phạm các quy tắc quản lý nhà
nước. Các vi phạm diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội, từ những hành vi vi
phạm nhỏ như vứt rác không đúng nơi quy định đến những hành vi vi phạm có tính
chất, mức độ lớn hơn có quy định về quản lý nhà nước như điều khiển mô tô, xe
máy đi vào đường ngược chiều, vượt đèn đỏ, gây tai nạn hoặc những vi phạm
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh như tiến hành kinh doanh mà không đăng ký
theo quy định, trốn thuế, thay đổi trụ sở của doanh nghiệp mà không thông báo,
hay những hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như vận chuyển và
xử lý chất thải, các chất gây ô nhiễm môi trường không theo đúng quy định về bảo
vệ môi trường... Tóm lại, những hành vi vi phạm quy định quản lý nhà nước được
nêu trên đây thể hiện rất đa dạng, phong phú và xảy ra trong hầu hết các lĩnh vực
quản lý nhà nước, nhưng tựu trung lại chúng có một số đặc điểm chung sau đây:
- Những hành vi này đều là những hành vi xâm hại đến trật tự quản lý nhà
nước, phá vỡ trật tự quản lý hành chính đang được duy trì, làm ảnh hưởng đến hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói chung. Tuy nhiên, do tính chất và mức độ xâm
hại của hành vi chưa đến mức nguy hiểm cho xã hội để trở thành tội phạm hình sự
nên những hành vi này không phải là tội phạm hình sự theo quy định của pháp luật
hiện hành.

4


5


quy trình thủ tục hành chính đặc biệt gọi là thủ tục hải quan nhằm hợp thức hoá
cho hàng hoá, hành lý, phương tiện vận tải khi qua lại biên giới, đồng thời thực
hiện các quyền kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo các chế độ quản lý của nhà nước
đối với các đối tượng nói trên cũng như các quy trình thủ tục được đảm bảo tuân
thủ. Điều 12 Luật Hải quan quy định: “Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện
kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận
chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối
với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến nghị chủ
trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu” [9].
Tất cả các quan hệ như vậy trong lĩnh vực hải quan được điều chỉnh bởi các
quy phạm pháp luật quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau, lập nên tổng thể các quy phạm pháp luật đặc
biệt điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, tức
là điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các biện pháp
quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và xuất cảnh, nhập cảnh.
Tổng thể các quy phạm pháp luật đó có thể coi là các quy phạm pháp luật về hải
quan. Các quy phạm pháp luật về hải quan quy định cho các bên tham gia các quan
hệ xã hội nói trên các quyền và nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm của các bên nếu
không thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã nêu hoặc vi phạm quyền của bên kia.
Do các quy phạm pháp luật về hải quan là các quy tắc chung bảo vệ chế độ kiểm
tra, giám sát hải quan, là một trong những chế độ quản lý nhà nước nên có tính
chất bắt buộc thực hiện đối với mọi đối tượng cá nhân, tổ chức liên quan. Như vậy,
có thể nói đặc điểm chung nhất của các quy phạm pháp luật về hải quan là tính
chất bắt buộc thực hiện đối với các quy định, các chế độ về hải quan do Nhà nước

153 và 154 Bộ Luật Hình sự số 15/1999/QH10), nhưng đa số bị xử phạt theo các
quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tóm lại, từ các phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan như sau: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là
7


hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới
các quy định quản lý nhà nước về hải quan mà chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự và phải chịu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật.
Vi phạm các quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan được quy
định cụ thể tại Điều 1 Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính
phủ bao gồm:
“- Vi phạm các quy định của pháp luật về thủ tục hải quan;
- Vi phạm các quy định của pháp luật về kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải
quan;
- Vi phạm các quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu (sau đây gọi tắt là thuế);
- Vi phạm các quy định pháp luật khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh” [5].
1.1.2. Cơ sở phát sinh vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
1.1.2.1. Các quy định quản lý Nhà nước về hải quan
a) Sự xuất hiện của hoạt động hải quan trong lịch sử
Để có thể hiểu được sâu xa nguồn gốc phát sinh vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hải quan thì chúng ta phải đi từ sự xuất hiện của hoạt động hải quan trong
lịch sử và bản chất của hải quan.
C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.L.Lê nin trong các tác phẩm của mình khi phân tích
về nguồn gốc của sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, về sự hình thành và phát triển
của các quan hệ sản xuất từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến đến tư bản chủ nghĩa, đã

làm thủ tục hải quan và thực hiện kiểm tra, giám sát hải quan, cơ quan hải quan
cũng có nghĩa vụ đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập
cảnh, quá cảnh theo đúng các quy định của Nhà nước: các chế độ về giấy phép và
hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh,
phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; các chế độ về thuế và nghĩa vụ
tài chính khác; chế độ xuất khẩu, nhập khẩu tiền Việt Nam; các quy định về tiêu
chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; các quy định về tiêu chuẩn

9


vệ sinh, môi trường, an toàn thực phẩm, sức khoẻ người tiêu dùng...; các quy định
về xuất xứ hàng hoá, về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ...
Những chế độ quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà
cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra, giám sát nhằm đảm
bảo việc tuân thủ pháp luật hiện nay được quy định tại Nghị định 187/2013/NĐ-CP
ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương
mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia
công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.
Như vậy, các quy định, các chế độ quản lý của nhà nước cũng là cơ sở phát
sinh của các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng
trong hoạt động hải quan.
1.1.2.2. Thủ tục hải quan
Tương tự như các hoạt động hành chính khác, cơ quan hải quan thực hiện
quyền kiểm tra, giám sát nhà nước về hải quan chủ yếu thông qua hệ thống các thủ
tục hành chính đặc biệt, đó là thủ tục hải quan. Thủ tục hải quan là các công việc
mà người khai hải quan (bao gồm: chủ hàng hoá, chủ phương tiện vận tải hoặc
người được chủ hàng, chủ phương tiện vận tải uỷ quyền) và công chức hải quan
phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá, hành lý xuất khẩu,
nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh. Thủ tục

sổ sách, chứng từ kế toán liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được
thông quan trong thời hạn phải lưu trữ theo quy định của pháp luật; Không xuất
trình hàng hoá đang lưu giữ là đối tượng kiểm tra sau thông quan theo yêu cầu của
cơ quan hải quan; Không bố trí người, phương tiện phục vụ việc kiểm tra thực tế
hàng hoá, phương tiện vận tải khi cơ quan hải quan yêu cầu mà không có lý do xác
đáng.
Hành vi vi phạm trong lĩnh vực giám sát hải quan bao gồm các hành vi
không thực hiện các nghĩa vụ của người khai hải quan gây cản trở cho công tác
đảm bảo tuân thủ pháp luật; các hành vi đó bao gồm: không bảo quản nguyên vẹn
niêm phong hải quan kho hàng hoá, hàng hoá, phương tiện vận tải đang chịu sự
kiểm tra, giám sát hải quan mà không có lý do xác đáng; di chuyển phương tiện
vận tải, hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan không đúng quy định; tự ý thay
11


đổi bao bì, hình thức, kiểu dáng công nghiệp, xuất xứ, nhãn, mác hàng hoá đang
chịu sự giám sát hải quan; tự ý thay đổi chủng loại, số lượng, chất lượng, trọng
lượng hàng hoá đang chịu sự giám sát hải quan; Tự ý tiêu thụ hàng hoá đang chịu
sự giám sát hải quan.
Trong hoạt động kiểm soát của cơ quan hải quan, các hành vi vi phạm hành
chính chủ yếu bao gồm: Lên, xuống phương tiện vận tải chở hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu đang chịu sự kiểm tra hải quan khi chưa được phép của cơ quan hải
quan; không dừng phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đúng địa
điểm quy định để làm thủ tục hải quan; không thực hiện đúng quy định về quản lý
hải quan khi đưa tàu biển vận chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu vào Việt
Nam không đúng cảng quy định; tự ý cặp mạn tàu, thuyền chở hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu đang làm thủ tục hải quan; không chấp hành hiệu lệnh của công chức
hải quan theo quy định khi di chuyển phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động
hải quan; Không thực hiện yêu cầu mở nơi cất giữ hàng hoá theo quy định để công
chức hải quan kiểm tra; đưa vào địa bàn hoạt động hải quan hàng hoá xuất khẩu,

quan ngoài các tổ chức, cá nhân trong nước thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá
cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải, còn có các tổ
chức, cá nhân nước ngoài. Đây là đặc điểm có tác động rất lớn đến việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan do các tổ chức, cá nhân vi phạm có thể là
tổ chức hoặc công dân nước ngoài, cư trú tại nước ngoài; các đối tượng nói trên
cũng có thể vận dụng các quy định của luật pháp nước ngoài, các thông lệ quốc tế
trong hoạt động xuất, nhập khẩu và xuất, nhập cảnh để tác động đến quá trình xử lý
vi phạm.
Thứ hai, vi phạm hành chính hải quan có thể do nhiều cơ quan cùng tham
gia xử lý. Theo quy định của Luật hải quan về địa bàn hoạt động hải quan thì trong
phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh để chủ
động phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, chống
gian lận thương mại; và ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hoạt động hải quan nếu
cơ quan hữu quan phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì theo thẩm quyền, cơ
quan đó thực hiện việc kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
13


Thứ ba, vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, do có bao gồm cả các
vi phạm về chế độ quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá, hành lý,
ngoại hối, vàng, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hoá phẩm, bưu
phẩm, vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và các tài
sản khác (gọi chung là hàng hoá); các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
phương tiện vận tải, nên có liên quan đến nhiều văn bản Luật hoặc các quy định
chuyên ngành. Trong một số trường hợp, việc phân biệt rõ ràng giữa vi phạm hành
chính hải quan và vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác là tương đối khó
khăn. Chẳng hạn, phân biệt hành vi khai sai mã số, thuế suất, khai sai trị giá tính
thuế của hàng hóa vừa có thể xử phạt theo hành vi vi phạm hành chính hải quan,
vừa có thể xử phạt theo hành vi vi phạm Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tùy

hành chính trong lĩnh vực hải quan là việc áp dụng “hình thức xử phạt chính (cảnh
cáo; phạt tiền), hình thức xử phạt bổ sung (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi hành chính), các
biện pháp khắc phục hậu quả (buộc tiêu huỷ tang vật vi phạm là văn hoá phẩm độc
hại, hàng hoá gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng; buộc đưa ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, phương tiện vi phạm tại cửa
khẩu nhập; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm đã tiêu
thụ, tẩu tán, tiêu huỷ trái với quy định của pháp luật) đối với hành vi vi phạm hành
chính” [5]. Việc áp dụng các hình thức xử phạt, mức phạt, các biện pháp khắc phục
hậu quả khi xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào các văn bản quy phạm
pháp luật cụ thể (Luật Xử lý vi phạm hành chính của Quốc hội, Nghị định của
Chính phủ) quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực
quản lý nhà nước.
Nghiên cứu những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hải quan là vấn đề có ý nghĩa rất lớn, góp phần quan trọng trong
việc ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm hành chính, tăng cường
trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước về hải quan, khắc phục hậu quả do vi
phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan gây ra.
1.2.1.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
15


Xuất phát từ bản chất của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan là áp dụng các chế tài hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm
trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan theo trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định nên xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có một số đặc
điểm riêng, thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan căn cứ
vào các văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan ban hành: Quốc hội ban

chính trong lĩnh vực hải quan và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về tổ
chức hoạt động, về chức năng nhiệm vụ của cơ quan hải quan và người có thẩm
quyền. Khi tiến hành các hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm
quyền phải thực hiện mục đích, nội dung và yêu cầu của văn bản pháp luật cụ thể
quy định xử phạt vi phạm hành chính.
Thứ ba, trong lĩnh vực hải quan, người có thẩm quyền xử phạt vi vi phạm
hành chính chỉ được thực hiện quyền xử phạt vi phạm hành chính của mình trong
phạm vi thẩm quyền đã được xác định. Những trường hợp ra quyết định xử phạt
hoặc quyết định áp dụng biện pháp hành chính khác vượt thẩm quyền quy định cho
phép là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý.
Thứ tư, trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ
Tài chính có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực hải quan để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống vi
phạm pháp luật hành chính (bên cạnh Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc
hội ban hành theo thẩm quyền và các văn bản quy phạm pháp luật quy định hành vi
vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng
hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan do Chính
phủ ban hành).
1.2.2. Cơ sở pháp lý thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hải quan.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là một loại vi phạm pháp luật,
xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về hải quan và diễn ra phổ biến trong hoạt
động hải quan. Trong lĩnh vực hải quan, vi phạm pháp luật hải quan diễn ra ở hầu
hết các khâu nghiệp vụ của quá trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan. Vì
17


vậy, để giữ vững trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, giữ
vững trật tự pháp luật và đấu tranh có hiệu quả đối với những hành vi vi phạm
hành chính nói chung và về hải quan nói riêng thì việc xử phạt các hành vi vi phạm

dẫn thực hiện một số nội dung về quản lý, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính;
Trong lĩnh vực hải quan, do vi phạm hành chính được xác lập ở nhiều văn
bản quy phạm pháp luật khác nhau, có thẩm quyền xử phạt của cơ quan hải quan
nên nguyên tắc ưu tiên áp dụng văn bản pháp luật được áp dụng thường xuyên
trong xử phạt, mặc dù nguyên tắc này không được quy định trong Luật Xử lý vi
phạm hành chính, cụ thể:
- Trong trường hợp Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải
quan và văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định khác nhau về cùng một vấn
đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
- Trường hợp Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
và các văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định khác nhau về cùng một vấn
đề, do cùng một cơ quan ban hành thì áp dụng văn bản được ban hành sau cùng.
- Trường hợp Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan
hoặc văn bản quy phạm pháp luật liên quan mới được ban hành không quy định
trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi
xảy ra trước ngày văn bản mới có hiệu lực mà thời điểm phát hiện hành vi sau
ngày văn bản mới có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới theo hướng có lợi cho cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan bản chất cũng giống
như xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, nên cùng chịu ảnh hưởng
của các yếu tố sau:
1.2.3.1. Chất lượng của pháp luật
Như đã phân tích ở trên, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực hải quan với các nguyên tắc của nó đã thể hiện vị trí và vai trò quan trọng
trong đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình đổi
19


20


yếu tố vật chất tác động vào thực tế đời sống nhằm bảo đảm cho pháp luật được
tôn trọng và thực hiện nghiêm minh. Chính vì vậy, hoạt động tổ chức thực hiện
pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ tuân thủ pháp luật trong xã hội.
Để việc tổ chức thực hiện pháp luật đạt hiệu quả cao thì hoạt động tuyên
truyền và giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân là hết
sức quan trọng và cần thiết. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước, các cấp, các
ngành cần thường xuyên kiện toàn, củng cố các tổ chức pháp chế để tạo điều kiện
nắm vững và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Ngoài ra, cần bảo đảm cho tất cả
các quy định của pháp luật về các nghĩa vụ pháp lý phải được thực hiện nghiêm
túc. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật phải thực
hiện quyền áp dụng pháp luật của mình trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn được
pháp luật quy định. Tất cả các biểu hiện của sự lạm quyền, trốn tránh trách nhiệm
hoặc sách nhiễu trong hoạt động áp dụng pháp luật phải bị xử lý nghiêm khắc.
1.2.3.3. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý
nghiêm minh những vi phạm pháp luật
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý nghiêm minh những vi
phạm pháp luật là hoạt động không thể thiếu nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của
luật pháp. Chất lượng hoạt động của công tác này ảnh hưởng lớn đến tình trạng
thực thi pháp luật.
Trước tiên, có thể nói kiểm tra, giám sát nhằm mục đích uốn nắn, chấn chỉnh
hoạt động chấp hành và thực thi pháp luật, kịp thời có những biện pháp để bảo đảm
cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, chính xác trong thực tế. Bên cạnh đó,
kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật còn để kịp thời phát hiện những vi phạm
pháp luật để xử lý nghiêm minh, bảo đảm nguyên tắc: mọi vi phạm pháp luật phải
được phát hiện và xử lý kịp thời; thực hiện mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật. Nếu công tác này không được chú trọng thường xuyên, không được tổ chức
và tiến hành có hiệu quả thì vai trò của pháp luật sẽ bị suy giảm, tình trạng coi

vấn đề này, nhất là ở vùng sâu, vùng xa hoặc đồng bào dân tộc, những nơi mà trình
độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau như công tác
tuyên truyền còn nhiều hạn chế, tập tục lạc hậu còn tồn tại... Bên cạnh vấn đề hiểu
biết về luật pháp thì ý thức chấp hành luật pháp, tôn trọng luật pháp, “sống và làm
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status