1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu máu ruột do tắc-hẹp mạch mạc treo là tình trạng tưới máu không
đủ cho quá trình chuyển hóa và hoạt động của ruột non và toàn bộ khung đại
tràng [1]. Thiếu máu ruột có thể được phân nhóm nguyên nhân như thiếu máu
cấp tính ruột do tắc mạch máu (hay tắc mạch mạc treo) và thiếu máu ruột
không có tắc nghẽn. Theo thống kê tắc mạch mạc treo ruột chiếm 0,1- 0,9%
số trường hợp nhập viện vì đau bụng [2], [3], [4].
Tắc mạch mạc treo ruột đòi hỏi được chẩn đoán sớm và chính xác trước
khi ruột hoại tử sẽ giúp hạ thấp tỉ lệ tử vong sau mổ cho bệnh nhân [1], [5].
Từ trước đến nay mặc dù đã có nhiều phương pháp chẩn đoán được áp dụng
như chụp động mạch, siêu âm doppler, chụp cắt lớp vi tính khảo sát mạch
mạc treo… nhưng do triệu chứng lâm sàng không điển hình và các xét
nghiệm thường quy không đặc hiệu nên tỉ lệ hoại tử ruột và tử vong do tắc
mạch mạc treo vẫn còn cao [1], [3], [6], [7].
Ở Việt Nam, việc chẩn đoán và điều trị tắc mạch mạch mạc treo còn
gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ mổ muộn cao. Theo nghiên cứu của Trịnh Hồng
Sơn và cộng sự (2009) có 67% số bệnh nhân bị hoại tử ruột [1], nghiên cứu
của Văn Tần và Hoàng Danh Tấn (2011) là 91,7% [8]. Còn nghiên cứu của
Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tấn Cường và cộng sự thì tỉ lệ này chiếm 95,2% [9].
Trong những năm gần đây đã có một số báo cáo về bệnh lý tắc mạch
mạc treo nhưng số lượng còn ít và chưa đầy đủ [9], [10]. Từ thực tế trên
2
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật tắc mạch mạc treo ruột tại bệnh viện
hữu nghị Việt Đức’’ nhằm hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của tắc mạch mạc treo ruột
tràng phải và hai phần ba bên phải của đại tràng ngang. Các nhánh ĐM nhỏ
xuất phát từ ĐM MTTT và ĐM đại tràng giữa tạo thành một mạng lưới thông
nối với các mạch máu xuất phát từ ĐM MTTD [11].
4
1.1.3. Động mạch mạc treo tràng dưới
Có kích thước nhỏ hơn, xuất phát từ ĐM chủ dưới thận, dưới vị trí khởi
nguồn của ĐM MTTT khoảng từ 5 đến 8 cm. ĐM này cung cấp máu cho
phần xa của đại tràng ngang, đại tràng trái và trực tràng. Có một mạng tuần
hoàn bàng hệ giữa ĐM MTTD và các nhánh của ĐM chậu trong góp phần
cung cấp máu đến trực tràng và có thể đến đại tràng khi ĐM MTTD bị hẹp
nặng hoặc bị tắc nghẽn.
Hình 1.1. Giải phẫu động mạch mạc treo ruột [12]
1.1.4. Tĩnh mạch cửa
Là nơi nhận hầu hết máu từ ruột và các tạng thuộc hệ tiêu hóa như tụy,
gan và lách. TM cửa được hợp bởi TM MTTT và TM lách. Riêng TM lách
còn nhận thêm một nhánh lớn là TM MTTD. Ngoài ra, TM cửa còn nhận các
5
nhánh như TM túi mật, các TM cạnh rốn, TM vị trái, TM vị phải, TM trước
môn vị. TM cửa chạy chếch sang phải nghiêng ra trước vào mạc nối nhỏ cùng
ĐM gan riêng và ống mật chủ tạo nên cuống gan. Đến cửa gan, TM cửa chia
hai nhánh phải và trái để chạy vào nửa gan phải và trái. Nhánh trái còn nhận
thêm hai TM là TM rốn đã tắc tạo thành dây chằng tròn gan, và ống TM đã
tắc tạo thành dây chằng TM.
10% cung lượng tim trong các tình huống quan trọng, như cơ thể phản ứng
với sự căng thẳng (Stress) [15].
Khi áp lực tưới máu ruột giảm thì có sự co mạch khu trú để bảo đảm sự
cung cấp máu trong một khoảng thời gian vài giờ [2], [6], [16]. Nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy mạch máu tạng chứa một lượng máu dự trữ khá lớn.
Ngoài ra, còn có hai cơ chế tự điều chỉnh quan trọng khác là tái phân bố của
dòng máu đến niêm mạc ruột và gia tăng lấy ô-xy từ máu. Lưu lượng máu của
ruột được điều hòa bởi nhiều cơ chế khác nhau, bao gồm hệ thống thần kinh
tự chủ, các yếu tố thần kinh-nội tiết như là gastrin, glucagon, và secretin, cũng
như các peptide vận mạch khác như là bradykinin, serotonin, histamine, và
prostaglandins [17]. Do đó, khi có suy tuần hoàn thì co mạch mạc treo xảy ra
như là một đáp ứng sinh lý và dòng máu vào mạch máu mạc treo có thể giảm
đi một nửa trước khi các dấu hiệu thiếu máu ruột xuất hiện [6], [18].
Việc giảm cung cấp máu đột ngột cho ruột là khởi đầu của những thay
đổi liên quan đến thiếu máu ruột nói chung và đặc biệt làm tổn thương chức
năng hàng rào bảo vệ của lớp niêm mạc. Quan sát những thay đổi về mô bệnh
học các cấu trúc của ruột trong mô hình thực nghiệm ở chó đã cho thấy rằng,
những thay đổi về siêu cấu trúc xảy ra sớm nhất ở trong lớp niêm mạc. Các
thay đổi này được thấy khoảng 10 phút ngay sau khi mạch máu bị tổn thương
[2], [19]. Những thay đổi mô học theo sau là sự thấm nhập của tế bào viêm,
tiếp theo là phù nề thành ruột do mất đi tính toàn vẹn của mao mạch. Khi
hàng rào bảo vệ tự nhiên này không còn nữa, thì xảy ra sự xâm nhập của vi
7
khuẩn, thúc đẩy nội độc tố đi vào máu, cũng như thoát dịch vào trong lòng
ruột, mạc treo và ổ bụng [20].
Trong khi sự gián đoạn của dòng máu mạc treo khởi đầu cho tổn thương
mô và tổn thương hệ thống, thì sự tái tưới máu cũng có thể dẫn đến các hậu
của sự thuyên tắc là không thể xác định được.
Hình 1.2. Sơ đồ trình bày các vị trí thuyên tắc và huyết khối ĐMMTTT
thường gặp.[17]
Cục thuyên tắc thường nằm trong ĐM MTTT ở những vị trí vừa chia ra
các nhánh chính nơi mà mạch máu ở phía xa có xu hướng nhỏ dần đi một ít.
Vị trí thường gặp là ngay phía dưới chỗ xuất phát của ĐM đại tràng giữa,
chiếm gần 50% các trường hợp. Khoảng 15% trường hợp tắc tại nguyên ủy
của ĐM MTTT, và 25% tường hợp tắc ở thân ĐM MTTT từ vị trí phân nhánh
ĐM đại tràng phải đến ĐM hồi - đại tràng. Các cục thuyên tắc này được gọi là
cục thuyên tắc lớn.Cục thuyên tắc nằm trong các nhánh của ĐM MTTT, hoặc
trên ĐM MTTT sau chỗ xuất phát của ĐM hồi - đại tràng chiếm từ 10% đến
15% trường hợp, được gọi là cục thuyên tắc nhỏ. Lòng ĐM có thể bị bít tắc
hoàn toàn bởi cục thuyên tắc, nhưng thường hơn là các mạch máu bị bít tắc
một phần [3].
9
Vì đa số trường hợp cục thuyên tắc nằm sau chỗ xuất phát của ĐM đại
tràng giữa, do đó phần gần của ĐM MTTT và các nhánh ĐM nuôi phần đầu
hỗng tràng vẫn được tưới máu gần như bình thường. Điều này được thấy rõ
trong khi mổ, với sự phân định ranh giới giữa các quai hỗng tràng đầu tiên
còn sống và phần ruột còn lại bị tổn thương. Những cục thuyên tắc nhỏ hơn
có thể gây tắc nghẽn các tiểu ĐM ở phần xa, dẫn đến sự xuất hiện những
mảng tổn thương loang lổ trên một đoạn ruột. [2], [22].
Hình 1.3. Hoại tử ruột do thiếu máu nhưng có đoạn hỗng tràng và đại
tràng trái còn sống. Dấu hiệu điển hình này gợi ý thuyên tắc ĐM MTTT.[23]
11
có thể dẫn đến huyết khối ĐM mạc treo. Khác với huyết khối TM mạc treo,
huyết khối ĐM thường xảy ra ở bệnh nhân không hoặc ít có liên quan đến rối
loạn tăng đông máu [17].
Hình 1.4. Thiếu máu ruột cấp tính có hoại tử ruột.Toàn bộ ruột non và đại
tràng phải bị ảnh hưởng, biểu thị của huyết khối ĐM MTTT [23]
1.3.3. Huyết khối tĩnh mạch mạc treo
Sự hiện diện của huyết khối trong hệ thống TM cửa và TM MTTT có
thể gây ra thiếu máu ruột, đe dọa khả năng sống của ruột bị ảnh hưởng. Bệnh
được phân loại theo thời gian có triệu chứng, gọi là huyết khối TM mạc treo
cấp tính khi bệnh nhân có triệu chứng dưới 4 tuần, các bệnh nhân có triệu
chứng kéo dài hơn hoặc những bệnh nhân không có triệu chứng được cho là
huyết khối TM mạc treo mạn tính [24]. Ngoài ra, có thể phân loại huyết khối
TM mạc treo theo nguyên nhân của nó. Huyết khối TM mạc treo nguyên phát
được chẩn đoán khi không thể xác định được yếu tố thúc đẩy nào. Huyết khối
TM mạc treo thứ phát thường liên quan đến các tình trạng tăng đông bẩm sinh
hay mắc phải, tăng áp lực TM cửa, mất nước hoặc viêm mạc treo, chấn
thương mạc treo, và nhiễm khuẩn trong ổ bụng.Vì tuần hoàn bàng hệ TM mạc
treo rất phong phú, nên phần lớn các trường hợp có huyết khối TM mạc treo
12
không dẫn đến thiếu máu mạc treo nặng. Tuy nhiên, nhồi máu ruột do huyết
khối TM mạc treo chiếm 5% đến 10% thiếu máu mạc treo cấp tính. Nhồi máu
ruột xảy ra khi tuần hoàn bàng hệ không đủ và hồi lưu TM từ đoạn ruột liên
bạch cầu đa nhân trung tính tràn vào vùng tổn thương. Tùy vào phạm vi và
mức độ của tổn thương, các thay đổi của lớp niêm mạc có thể hồi phục trở
lại bình thường nếu nguyên nhân gây thiếu máu được giải quyết kịp thời.
Nếu mức độ tổn thương của thiếu máu sâu hơn vào thành ruột dẫn đến hoại
tử lớp dưới niêm và lớp cơ thì sự lành mô có thể đưa đến xơ hóa và tạo
thành chỗ hẹp. Khi thiếu máu tiếp tục tiến triển đến tổn thương xuyên
thành (nhồi máu ruột) thường không thể hồi phục được, đòi hỏi phải can
thiệp phẫu thuật cắt bỏ ngay.
Vì huyết khối có thể hình thành nhanh chóng như là một phản ứng của
sự ứ trệ và sung huyết nên việc đánh giá huyết khối trong mạch máu mạc treo
có thể gây nhầm lẫn. Huyết khối thật sự có ý nghĩa lâm sàng khi thấy có dấu
hiệu tổ chức hóa, gợi ý rằng huyết khối đã hiện diện trong một khoảng thời
gian đáng kể [26].
1.5. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA TẮC MẠCH MẠC TREO
Biểu hiện lâm sàng của tắc mạch mạc treo rất đa dạng, tùy thuộc vào
nguyên nhân và giai đoạn bệnh. Để chẩn đoán sớm tắc mạch mạc treo, đòi hỏi
các bác sĩ lâm sàng phải có một mức độ nghi ngờ cao đối với những bệnh
nhân có các yếu tố nguy cơ liên quan đến từng nguyên nhân của bệnh này.
Ở giai đoạn sớm của tắc động mạch mạc treo do thuyên tắc hay huyết
khối, bệnh nhân thường có đau giữa bụng khởi phát đột ngột, đau kiểu
quặn thắt liên tục kèm với nôn và/ hoặc đi ngoài phân lỏng ngay tức thì.
Triệu chứng đau thường không tương xứng với các dấu hiệu lâm sàng khi
thăm khám. Với các biểu hiện như huyết động ổn định, bụng mềm, không
có dấu hiệu của viêm phúc mạc, nhưng đôi khi khám thấy có bụng chướng
nhẹ và thăm trực tràng có thể có máu trong phân. Các trường hợp thuyên
tắc ĐM MTTT thường xảy ra ở BN có tiền sử thuyên tắc ĐM trước đây,
rung nhĩ, mới xảy ra nhồi máu cơ tim, có van tim nhân tạo, có can thiệp
qua mạch máu gần đây.
15
Trong giai đoạn sớm, hình ảnh trên X quang bụng đứng và siêu âm
thường là không đặc hiệu. Những phương tiện chẩn đoán hình ảnh cơ bản chỉ
chẩn đoán được thiếu máu mạc treo trong những trường hợp hiếm gặp, chủ
yếu là những dấu hiệu thay đổi của ruột trong giai đoạn muộn. Lúc này, trên
X quang bụng có mức nước-hơi trong ruột non hoặc đại tràng, các quai ruột
giãn, dịch ổ bụng, hơi trong thành ruột và tĩnh mạch cửa [6],[ 28].
1.6.2. Hình ảnh siêu âm
Trước đây, ống tiêu hoá được coi là phạm vi hạn chế của khám nghiệm
siêu âm, cho rằng siêu âm trên ruột ít có giá trị vì trong ruột có khí, ruột xếp
thành nhiều lớp, vị trí các quai ruột thay đổi theo nhu động.
Khám siêu âm có thuận lợi là không những cho phép khảo sát những biến
đổi hình thái của thành ruột mà còn khảo sát huyết động trong các mạch máu
mạc treo, động mạch chủ bụng:
- Biến đổi dày thành ruột, mất cấu trúc lớp gặp trong thiếu máu nguồn
gốc tĩnh mạch.
- Dịch ổ bụng thường gặp, nhất là trong giai đoạn muộn của bệnh do
tình trạng tăng tính thấm thành ruột và mạc treo bị thương tổn.
- Khí trong hệ thống tĩnh mạch cửa, khí hiện diện trong lòng mạch do
hệ quả của tình trạng hoại tử thành mạch sau thiếu máu trầm trọng.
- Trong trường hợp hoại tử ruột gây biến chứng thủng ruột có thể thấy
hình ảnh hơi tự do trong ổ bụng.
- Khảo sát siêu âm Doppler cho thấy bản chất của sự thiếu máu bởi
dấu hiệu giảm hẳn hoặc mất hoàn toàn tín hiệu Doppler trên thành ruột bị
thương tổn [29].
1.6.3. Chụp cắt lớp vi tính
Hiện nay, CCLVT vùng bụng đóng vai trò quan trọng trong việc xác
Khí trong TM cửa-TM mạc treo có thể là những bóng hơi nhỏ nằm trong TM
17
mạc treo hoặc có thể trải rộng vào các nhánh TM cửa trong gan và thường
thấy là ở vùng ngoại vi của gan [2], [15]. Độ đặc hiệu của dấu hiệu khí trong
TM cửa và khí trong thành ruột đối với thiếu máu ruột cấp tính đã được báo
cáo thường lên đến 100%. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp
dương tính giả, vì khí trong thành ruột được tạo ra do bốn nguyên nhân chính
là hoại tử ruột, mất liên tục niêm mạc ruột, tăng tính thấm của niêm mạc ruột
và bệnh phổi. Ở bệnh nhân có thiếu máu ruột, hơi trong lòng ruột có áp lực
cao làm tách niêm mạc bị tổn thương để vào trong thành ruột và vi khuẩn sinh
hơi đi qua những chỗ rách của niêm mạc vào lớp dưới niêm mạc cũng tạo ra
khí trong thành ruột [2], [15].
Giãn quai ruột – Dấu hiệu giãn quai ruột và/ hoặc các mức hơi-dịch là
khá thường gặp trong nhồi máu ruột cấp tính, chiếm khoảng 56-91% các
trường hợp. Tuy nhiên, ở giai đoạn sớm, khi thiếu máu ruột còn có khả năng
hồi phục thì cả hai dấu hiệu này ít gặp hơn (khoảng 40% trường hợp), vì phản
xạ đầu tiên của thiếu máu ruột là co thắt ruột [15], [28], [35], [36]. Ngược lại,
ruột giãn có thể là do ruột ngừng nhu động vì phản xạ của ruột với tổn thương
thiếu máu, hoặc do nhồi máu xuyên thành ruột [15], [33], [34].
Giãn quai ruột và mức nước-hơi là các dấu hiệu thường gây nhầm lẫn
với liệt ruột hay giả tắc ruột ở bệnh nhân bị nhồi máu ruột do TMMT [2], [15].
Dấu hiệu trên mạch máu mạc treo – Trên hình ảnh CCLVT có tiêm
thuốc cản quang ở thì ĐM, cục thuyên tắc và huyết khối biểu hiện là những
chỗ khuyết thuốc trong ĐM MTTT và các nhánh của nó; ngoài ra, một dấu
hiệu gián tiếp có thể thấy là kích thước ĐM MTTT lớn hơn TM MTTT [34],
[37]. Khả năng phát hiện cục thuyên tắc hoặc huyết khối trong ĐM mạc treo
là từ 18% đến 88% [38], [39], [40], [41]. Huyết khối ĐM thường thấy tại
19
hiệu của phản ứng viêm hoặc do hoại tử ruột, và tất nhiên là không có tính
đặc hiệu [6], [44].
1.6.6. Nội soi ổ bụng
Với những bệnh nhân tắc mạch mạc treo nội soi ổ bụng có thể được sử
dụng khi việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn và các phương tiện chẩn đoán
đoán khác không xác định được. Một nhược điểm của nội soi là khi ruột
chướng nhiều dễ gặp phải tai biến và khó đánh giá được hết toàn bộ ruột và
càng khó đánh giá được mức độ đập của động mạch [6], [43], [45].
1.7. ĐIỀU TRỊ
1.7.1. Hồi sức tích cực
Điều trị thiếu máu mạc treo cấp tính phải được bắt đầu khi tiếp cận BN
có nghi ngờ trong chẩn đoán, khởi đầu là điều chỉnh các yếu tố thuận lợi, yếu
tố thúc đẩy của bệnh, bao gồm làm nhẹ tình trạng suy tim sung huyết, điều
chỉnh tình trạng tụt huyết áp, giảm thể tích tuần hoàn và rối loạn nhịp tim
trước khi tiến hành các bước xác định chẩn đoán. Cần theo dõi và điều chỉnh
cân bằng điện giải, đặc biệt chú trọng tình trạng tăng kali máu, điều chỉnh
ngay tình trạng toan chuyển hóa khi phát hiện được [2], [3], [42].
Các thuốc vận mạch có thể làm trầm trọng thêm sự co thắt của các
mạch máu tạng, làm xấu hơn tình trạng thiếu máu ruột; do đó, trước khi bắt
đầu sử dụng bất kỳ thuốc vận mạch nào, phải đảm bảo là đã bù đủ thể tích
tuần hoàn. Mục tiêu cơ bản của việc hồi sức là đảm bảo bù đủ thể tích tuần
hoàn để giảm dần và ngừng hẳn các thuốc có tác dụng co mạch như
norepinephrine và phenylephrine (Neo-Synephrine). Khi cần thiết, nên cân
nhắc sử dụng các thuốc vận mạch như dobutamine, dopamine liều thấp, và đôi
khi là epinephrine. Riêng digitalis nên ngưng sử dụng khi có thể vì đã được
21
dưới thận kiểu tận – bên; hoặc thực hiện bắc cầu động mạch chủ bụng – động
mạch mạc treo; hoặc động mạch chậu – động mạch mạc treo, hơn là cố gắng
thực hiện lấy huyết khối của phần chít hẹp gần động mạch chủ một cách khó
khăn. Thông thường là dùng mảnh ghép nhân tạo, nhưng trong trường hợp có
hoại tử hoặc thủng ruột cần phải cắt ruột thì mảnh ghép được khuyên dùng là
tĩnh mạch hiển lớn của bệnh nhân [43], [45].
Batellier và cộng sự hồi cứu 82 bệnh nhân thiếu máu mạc treo cấp bởi
thuyên tắc động mạch mạc treo, có 34 bệnh nhân chỉ cần mổ lấy huyết khối,
20 bệnh nhân phải lấy huyết khối và cắt ruột. Những bệnh nhân chỉ lấy huyết
khối tỉ lệ tử vong sau mổ là 35%, những bệnh nhân lấy huyết khối và cắt ruột
tỉ lệ tử vong sau mổ là 68%. Các tác giả kết luận rằng, việc chẩn đoán sớm và
phẫu thuật lấy huyết khối được xem như có kết quả tốt hơn bởi vì tránh được
việc cắt đoạn ruột [6], [47].
c. Huyết khối tĩnh mạch mạc treo
Khi huyết khối TM mạc treo được khẳng định trong lúc phẫu thuật thì
nên cố gắng lấy huyết khối, mặc dù việc điều trị chủ yếu đối với tình trạng
này vẫn là dùng thuốc kháng đông. TM MTTT được kiểm soát ngay phía
dưới tụy, mở TM theo đường ngang. Sử dụng catheter Fogarty để lấy huyết
khối từ TM cửa và các nhánh lớn của hệ TM mạc treo, còn đối với huyết khối
ở các nhánh TM ngoại biên thì nên làm nhuyễn huyết khối để lấy được càng
nhiều càng tốt. Sau khi kết thúc lấy huyết khối, TM được đóng lại bằng chỉ
polypropylene 6-0 hoặc 7-0, khâu liên tục [48].
1.7.2.2. Cắt đoạn ruột thiếu máu không hồi phục hoặc hoại tử
Để tránh xảy ra biến chứng hoại tử ruột thêm, sau khi dã mở bụng thăm
dò và tái tạo lưu thông mạch máu mạc treo, chúng ta cần phải đánh giá chính
xác khả năng sống của ruột trong lúc mổ bằng cách đánh giá màu sắc của
23
nguy cơ chảy máu tiêu hóa. Ở bệnh nhân huyết khối TM mạc treo, kháng
đông heparin nên được bắt đầu tại thời điểm xác lập chẩn đoán và tiếp tục
ngay cả sau khi lấy huyết khối thành công. Tương tự, bệnh nhân thuyên tắc
ĐM mạc treo có nguy cơ bị thuyên tắc tái diễn mạch máu mạc treo, mạch máu
não, và mạch máu ngoại biên nên sử dụng heparin, trong hầu hết các trường
hợp. Ngược lại, bệnh nhân có huyết khối ĐM cấp tính đã trải qua phẫu thuật
tái lập lưu thông mạch máu thành công thì thuốc kháng đông thường là không
cần thiết. Hầu hết các bệnh nhân này, sau khi tái lưu thông mạch máu mạc
treo, có thể xuất hiện một tình trạng giảm đông máu thứ phát do rối loạn chức
năng gan, và việc bổ sung các yếu tố đông máu là cần thiết để điều trị chảy
máu đường tiêu hóa [48], [49].
1.8. Tiên lượng
Tỉ lệ tử vong liên quan đến độ lan rộng của nhồi máu. Sự tắc nghẽn do
huyết khối thường xảy ra ở đoạn gần của động mạch mạc treo tràng trên hơn là
tắc nghẽn do thuyên tắc và thường có nhồi máu ruột lan rộng hơn. Tỉ lệ tử vong
của tắc mạch mạc treo đã được báo cáo rất thay đổi, nó phản ánh tính không
đồng nhất của các mẫu nghiên cứu. Những bệnh nhân có tắc động mạch do
huyết khối dường như có một tiên lượng xấu hơn những bệnh nhân có tắc động
mạch do thuyên tắc. Tỉ lệ tử vong sau mổ là khoảng 70 – 90% [6], [27], [50].
Klempnauer và cộng sự báo cáo kết quả điều trị của thiếu máu mạc treo
cấp do nguyên nhân tắc nghẽn động mạch hoặc tĩnh mạch mạc treo thì có
66% trường hợp tử vong sau mổ và trong những trường hợp còn sống có 50%
trường hợp tử vong sau 5 năm và 20% trường hợp có hội chứng ruột ngắn mà
không cần nuôi ăn bằng đường tĩnh mạch [50].
Năm 1973, Ribet đã thực hiện phẫu thuật bắc cầu ĐM chủ bụng-ĐM
mạc treo thành công lần đầu tiên trong cấp cứu để điều trị huyết khối ĐM
MTTT cấp tính [51].
Năm 1979, Jamieson lần đầu tiên đã thực hiện truyền thuốc làm tiêu
huyết khối vào ĐM MTTT, với sự phối hợp streptokinase và heparin để điều
trị thuyên tắc ĐM MTTT và BN này được xuất viện mà không cần phải mổ [51].
1.9.2. Các nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, cho đến nay, có ít công trình nghiên cứu về chẩn đoán và điều
trị tắc mạch mạc treo được công bố.
Trong năm 2008, Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tấn Cường đã tiến hành
nghiên về chẩn đoán tắc mạch mạc treo cấp tính [54]. Trong nghiên cứu này,
tác giả tổng kết 21 trường hợp có chẩn đoán ra viện là tắc mạch mạc treo cấp
tính được điều trị phẫu thuật tại bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian 2 năm để
mô tả biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của tắc mạch mạc treo. Bên cạnh đó,
tác giả cũng thực hiện nghiên cứu kết quả bước đầu sử dụng CCLVT trong
chẩn đoán tắc mạch mạc treo cấp tính [55]. Võ Tấn Long và cộng sự cũng đã
tổng kết 25 trường hợp tắc mạch mạc treo cấp tính được CCLVT trước mổ.
Các tác giả cũng tập trung vào việc phát hiện các dấu hiệu của CCLVT và tỉ
lệ chẩn đoán đúng bằng CCLVT [56]. Nguyễn Văn Việt và cộng sự [57] đã
tổng kết 44 trường hợp thiếu máu mạc treo cấp tính được CCLVT có tiêm
thuốc cản quang TM. Năm 2010, Nguyễn Tuấn, Nguyễn Tấn Cường đã tiến
hành nghiên cứu CCLVT có cản quang trong chẩn đoán tắc mạch mạc treo và
cũng đã thực hiện nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa tắc mạch mạc treo
trên 21 bệnh nhân [58]. Vũ Hữu Vĩnh có nêu khái quát tình hình điều trị phẫu
thuật tắc mạch mạc treo tại bệnh viện Chợ Rẫy, qua đó cũng nhấn mạnh vai
trò của can thiệp mạch máu trong tắc mạch mạc treo [59]. Nguyễn Văn Khôi