Chính sách việc làm cho lao động là người khuyết tật ở ở huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 48

LỜI MỞ ĐẦU
Việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn
cầu, là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia. Việt Nam trong thời gian qua đã đạt
được những kết quả nhất định, tốc độ tăng trưởng kinh tế caco trong nhiều năm,
tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức to lớn trong quá trình
phát triển, một trong những thách thức đó là tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu việc làm
đang tạo nên sức ép to lớn đối với nền kinh tế, nhất là việc làm cho người khuyết
tật(NKT). nhận thức được điều này, nhà nước đã ban hành một số chính sách việc
làm để giải quyết những khó khăn cho người dân, đặc biệt là lao động khuyết tật.
Tuy nhiên, tác động của các chính sách này trong thời gian qua vẫn chưa hoạt động
một cách hiệu quả nhất, người khuyết tật thất nghiệp còn nhiều, tỉnh Hải Dương là
một trong những nơi có số lượng người khuyết tật cũng như tình trạng thiếu việc
làm đang diễn ra gay gắt, các chính sách cho người lao động khuyết tật còn hạn
chế. Điều này gây ra nhiều khó khăn đối với cuộc sống người khuyết tật cũng như
sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương nói riêng và việt nam nói chung.
Xuất phát từ thực tiễn đó, em chọn đề tài “Chính Sách Việc Làm Cho lao động là
Người Khuyết Tật ở ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài tiểu
luận cho môn học quản lý lý nhà nước về lao động.

NỘI DUNG
1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
LÀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Một số khái niệm
 Người khuyết tật là gì
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt,
học tập gặp khó khăn
 Việc làm cho người khuyết tật
Dưới góc độ kinh tế- xã hội: Việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích,
thu nhập cho NLĐ được xã hội thừa nhận. Dưới góc độ pháp lí: Việc làm là mọi

Phân loại NKT
- Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ,
chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
- Khuyết tật nghe, nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả
nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp,
trao đổi thông tin bằng lời nói.
- Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh
sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình
thường.


- Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc,
kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất
thường.
- Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu
hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải
quyết sự việc.
- Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến
cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các
trường hợp được quy định các dạng khuyết tật trên.
1.3.

Vai trò chính sách việc làm cho lao động là người khuyết tật

- Nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm của người khuyết tật, đồng thời tạo cơ hội
việc làm cho người khuyết tật, từ đó góp phần bảo vệ, chăm sóc và giúp đỡ người
khuyết tật sống độc lập, hòa nhập cộng đồng, tham gia bình đẳng vào các hoạt
động xã hội.
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp của người khuyết tật từ đó, hướng đến giảm tỷ lệ thất
nghiệp chung

trọng, là vốn quý giá của quốc gia, cần phải được sử dụng một cách tối ưu, tránh
lãng phí nguồn lực của xã hội và giảm bớt gánh nặng, sức ép cho những gia đình
có NKT
(Xem phụ lục 2)
Theo số liệu điều tra của 100 NKT, trong đó tuổi từ 16 – 19 tuổi có số lượng lao
động khuyết tật tương đối nhiều, có tới 32 người chiếm 32% số người khuyết tật
được điều tra.

Về trình độ học vấn
(Xem phụ lục 3)
Theo kết quả điều tra của phòng LĐ,TB –XH của huyện Phú Lộc vào tháng
6/2017, điều tra 100 năm, nữ thì số lượng LĐ NKT mù chữ vẫn còn cao, trong 100
người được điều tra có tới 25 người thất học, chiếm 22% tổng số 100 người khuyết
tật. số LĐ NKT có trình độ tốt nghiệp THPT chiếm tỷ lệ cao nhất 34%, song vẫn
còn thấp so với mặt bằng LĐ chung, điều đó cho thấy trình độ lao động người
khuyết tật của huyện phú lộc còn thấp, gây khó khăn trong việc tiếp thu các ứng
dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, làm năng suấ, chất lượng và thu nhập của
người khuyết tật thấp, đây là những con số rất khiêm tốn, không đáp ứng được nhu
cầu lao động hiện nay.
2.1.2.
Việc làm của người khuyết tật
( Xem phụ lục 4)
Qua số liệu trên cho thấy, có 37/100 lao động người khuyết tật chưa tìm được
việc làm chiếm 37%, điều này cho thấy tỷ lệ thiếu việc làm của người khuyết tật
đang còn cao, đây là một thực tế đang buồn, hầu hết lao động người khuyết tật
chưa tìm được việc làm hoặc chỉ làm những công việc tạm thời, không ổn định.
Nguyên nhân lao động người khuyết tật chưa có việc làm:
( Xem phụ lục 5)
Qua điều tra 100 lao động người khuyết tật ở huyện phú lộc, có 63/100 người có
việc làm và 37 người chưa có việc làm. Nguyên nhân chủ yếu khiến lao động

các chính sách việc làm cho người khuyết tật
Ngân sách nhà nước bố trí từ dự toán chi tiêu thường xuyên hàng năm của các
bộ, ngành, cơ quan trung ương và các địa phương, các chương trình mục tiêu quốc
gia, các chương trình, đề án liên quan khác để thực hiện các hoạt động của đề án
theo phân cấp của pháp luật về ngân sách nhà nước
Ở huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế, bộ máy thực hiện chinh sách việc làm
cho người khuyết tật được lấy từ ngân sách địa phương, mở thêm những lớp dạy
nghề, hỗ trợ kinh phí cho người khuyết tật, phân phối tới các phòng, hội, cụ thể là:
+ Phòng Lao Động Thương Binh và Xã Hội: phụ trách triển khai kế hoạch, cùng
phối hợp với các hội đồng thành viên của các xã thị trấn để kịp giải quyết kịp thời
chế độ về việc làm cho người khuyết tật.
+ Hội người khuyết tật huyện Phú Lộc: là cơ quan quản lý, theo dõi, nắm bắt
thường xuyên tình hình về số lượng, hoạt động, đời sống vật chất, tinh thần, tình


hình việc làm, thu nhập của NKT, để kịp thời chỉ đạo, kháo sát và giúp đỡ gia đình
cũng như bản thân NKT

Tổ chức và các điều kiện thực thi chính sách
Các chính sách giải quyết việc làm cho lao động người khuyết tật ở huyện Phú
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Thứ nhất, chính sách đối với LĐ NKT học nghề
Thực hiện tốt các chinh sách đào tạo nghề cho NKT theo quy định của luật NKT,
huyện Phú Lộc đã đưa ra một số chính sách đối với người lao động khuyết tật học
nghề như sau:
+ LĐ NKT thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi hỗ trợ chi phí học nghề
ngắn hạn (trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu
đồng/người/khóa học, hỗ trợ tiền ăn với mức 15.00 đồng/ngày/người, hỗ trợ tiền đi
lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000
đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15km trở lên.

mức độ khuyết tật của người khuyết tật
- Tổ chức tiếp nhận, thụ lý và tham mưu UBND huyện giải quyết chế độ cho
người khuyết tật
- Giải quyết kinh phí chi trả hàng tháng và thực hiện các chế độ cho người
khuyết tật
 Hoạt động của hội người khuyết tật
Hội người khuyết tật của huyện Phú Lộc là cơ quan quản lý, theo dõi, nắm bắt
thường xuyên tình hình về số lượng, hoạt động, đời sống vật chất, tinh thần, tình
hình việc làm, thu nhập của người khuyết tật, để kịp thời chỉ đạo, khảo sát và giúp
đỡ gia đình cũng như bản thân người khuyết tật.
 Hoạt động của hội người mù
Hội người mù huyện Phú Lộc đến nay đã thành lập được 19 năm với 4 nhiệm
kỳ, hội hoạt động chủ yếu theo ngành dọc, chia làm hai mảng sản xuất: sản xuất
trực tiêps và gián tiếp, để nhằm khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận
lợi của người mù, giúp họ hòa nhập với cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống.
+ Về cơ sở sản xuất tập trung: Duy trì phát triển cơ sở sản xuất tăm tre, chổi
đót, hương trầm giải quyết và thu hút nhiều người mù trong độ tuổi lao động có
việc làm thường xuyên 10 tháng/năm, thu nhập bình quân 600.000 đồng –
7.000.000 đồng/người/tháng, tiếp cận thị trường tiêu thụ, thay đổi mẫu mã đảm bảo
chất lượng đến với người tiêu dùng.
+ Về công tác chăm sóc: Ban chấp hành hội người mù trực tiếp làm việc với
phòng LĐ,TB&XH huyện Phú Lộc để 22 người mù còn lại được hưởng chế độ bảo
trợ xã hội theo quy định nhà nước. Tổ chức viếng thăm, tặng quà cho da đình thuộc
diện chính sách nhân ngày Thương Binh Liệt Sĩ 27/7.
 Hoạt động của cơ sở bảo trợ nước ngọt
Cơ sở bảo trợ nước ngọt là một tổ chức công giáo, được thành lập từ năm 1927,
hiện nay tại cơ sở đã chăm sóc, nuôi dạy 68 em khuyết tật và 222 người được tư
vấn, hỗ trợ chăm sóc tại cộng đồng với đội ngũ 21 cộng tác viên tại cộng đồng,
hoạt động tại 16 thôn của hai xã Lộc Thủy và Lộc Tiến.


Trình độ văn hòa của NKT ngày càng được nâng cao. Nếu trước đây, NKT ít
được tới trường, chỉ được nuôi dạy ở gia đình, tỷ lệ mù chữ chiếm 40% thì hiện
nay, tỷ lệ mù chữ giảm còn 25% có tới 22% NKT học hết tiểu học, 19% học hết
trung học cơ sở, 34% học hết trung học phổ thông.
Cho đến nay, thu nhập của người lao động khuyết tật đã từng bước được cải
thiện, với mức thu nhập trước đây bèo bọt từ 500.000 -700.000 đồng/tháng thì hiện


nay thu nhập của người lao động khuyết tật đã lên mức từ 2.000.000 – 3000.000
đồng/tháng, vì vậy họ có thể đảm bảo hơn về đời sống vật chất cũng như đời sống
tinh thần của mình.
2.3. đánh giá
2.3.1.
thành tựu
Theo quy định hiện hành, các cơ sở dạy nghề dành riêng cho NKT được ưu tiên
cấp địa điểm thuận lợi, được hỗ trợ vốn, cấp kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế,
được vay vốn với lãi suất ưu đãi. Đối với các cơ sở dạy nghề khác, khi nhận
NKT vào học nghề, nâng cao trình độ tay nghề thì sẽ được ưu tiên đầu tư, bảo
đảm định mức kinh phí đào tạo... Nhờ đó, số cơ sở dạy nghề ở nước ta đã tăng
cả về số lượng, quy mô và chất lượng đào tạo. Tính đến nay, cả nước có trên
1.000 cơ sở tham gia dạy nghề cho NKT. NKT tham gia học nghề được xem xét
cấp học bổng và trợ cấp xã hội, được miễn, giảm học phí căn cứ vào mức độ
khuyết tật và mức suy giảm khả năng lao động.
- Ngoài các chính sách hỗ trợ nêu trên, Nhà nước đã có nhiều biện pháp xúc
tiến việc làm cho NKT như ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh
nghiệp sử dụng lao động là NKT, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT,
thành lập quỹ quốc gia về việc làm. Đặc biệt, từ năm 2006, ngành Lao động Thương binh và Xã hội thường xuyên tổ chức các hội chợ việc làm, trong đó có
khu vực dành riêng cho NKT với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, cơ sở dạy
nghề. Do vậy, NKT có nhiều cơ hội việc làm hơn, số lượng người có việc làm đã
tăng lên hằng năm.

chiếm số lượng lớn, trình độ học vấn vẫn còn thấp. số người khuyết tật sau khi
qua đào tạo nghề chưa có việc làm vẫn còn cao, đây là một trong những thất
thức lớn đối với nhà quản lý, người thực hiện cách chính sách giải quyết việc
làm cho người lao động khuyết tật.
- Việc cấp vốn cho người khuyết tật phát triển sản xuất, kinh doanh còn gặp
nhiều khó khăn. Các thủ tục vay vốn còn nhiều rờm rà, gây khó khăn cho những
người khuyết tật khi đi vay vốn.
- Bản thân người khuyết tật chưa tiếp cận được các chính sách, các quyền lợi
liên quan đến mình, những quyền lợi mình được hưởng.

3. Một số giải pháp
Những chính sách về giải quyết việc làm cho người khuyết tật ở huyện Phú Lộc,
tỉnh Thừa Thiên Huế đã tác động tích cực và đem lại hiểu quả cao trong việc giải
quyết việc làm cho người lao động khuyết tật của huyện, tuy nhiên vẫn còn một số
tồn tại cần có phương hướng, giải pháp cụ thể để khắc phục, đẩy mạnh hơn nữa
việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật trong thời gian tiếp theo. Sau đây là
một số đề xuất của bản thân em, đối với việc thực hiện các chính sách giải quyết
việc làm cho người lao động khuyết tật ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Huyên Phú Lộc trên cơ sở nguồn ngân sách địa phương, đồng thời tìm kiếm
vận động các nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế, các nhà hảo tâm trong nước và


tổ chức quốc tế để đầu tư, xây dựng thêm trường học, trung tâm đào tạo nghề cho
NKT, nâng cao trình độc và đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của công việc
- Xây dựng thêm các tổ chức giới thiệu việc làm để tư vấn học nghề, giới
thiệu việc làm cho NKT.
- Tiếp tục tăng cường hỗ trợ về cơ sở vật chất, tài chính, cơ chế cho những tập
trung tâm dạy nghề và tạo việc làm hiện có ở địa phương để những trung tâm này
có điều kiện được nâng cao chất lượng đào tạo, giúp những NKT sau khi được đào
tạo có năng lực đáp ứng được yêu cầu của công việc và có thể tìm kiếm được việc

Bên cạnh những thành quả trong việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật,
thì các chính sách vẫn cồn cồng kềnh về mặt hành chính, mặt thủ tục, nhiều chính
sách chưa phát huy được đầy đủ tác dụng và hiệu quả. Số người được đào tạo
nghề vẫn còn thấp, trình độ văn hóa của NKT ở tỉnh Hải Dương còn rất nhiều hạn
chế, những điều này cần được khắc phục trong thời gian tới.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Luật người khuyết tật, Hà Nội, năm 2010
2.
Luật lao động năm 2015 và các văn bản hưỡng dẫn thi hành
3.
Bài giảng môn quản lý nhà nước về lao động , thạc sỹ Bùi Thị Huế
4.
Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020
5.
Báo chí:
- Báo người lao động
- Báo điện tử của Tỉnh Hải Dương
6.
Sở lao động thương binh- xã hội tỉnh Hải Dương
7.
Một số trang web
- soldtbxh.haiduong.gov.vn/
8.
/>

PHỤ LỤC
Phụ lục 1:
Bảng 2.1: số lượng NKT trên toàn huyện Phú Lộc năm 2016


11

Xã Lộc Tiến

9

3

Xã Lộc An

31

12

Xã Lộc Vĩnh

9

4

Xã Lộc Điền

26

13

TT Lăng Cô

12


16

Xã Vinh

9

Giang
8

Xã Lộc Trì

23

17

Xã Vinh Mỹ

6

9

Xã Lộc Bình

18

18

Xã Vinh Hưng


Trình độ học vấn
Số lượng(người)
Tỷ lệ(%)
Mù chữ
25
25
Tiểu học
22
22
Trung học cơ sở
19
19
Trung học phổ thông
34
34
Tổng
100
100
( Nguồn: số liệu điều tra năm 2017 của phòng LĐ,TB – XH huyện Phú Lộc vào 6
tháng đầu năm 2017, mẫu 100 người).
Phụ lục 4:
Bảng 2.4. Tình trạng việc làm của LĐ người khuyết tật tại huyện Phú Lộc
năm 2017
Tình trạng
Không có việc làm
Có việc làm tạm thời
Có việc làm không ổn

Số lượng( người)
37

13,51
45,95
29,73
10,08


Tổng
37
100,0
( Nguồn: số liệu điều tra năm 2017 của phòng LĐ,TB – XH huyện Phú Lộc
vào 6 tháng đầu năm 2017, mẫu 100 người).




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status