BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ NHƯ TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 – 2009 ĐẾN
CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ NHƯ TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 – 2009 ĐẾN
CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
1.2.3. Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo
tài chính.........................................................................................................
16
1.2.4. Đo lường chất lượng kiểm toán...............................................18
1.3. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008 –2009….. 32
1.3.1. Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009.........32
1.3.2. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới Việt Nam
34
CHƯƠNG 2. GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........38
2.1. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU...................................................................38
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................39
2.2.1. Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu...................................39
2.2.2. Đo lường chất lượng kiểm toán.....................................................41
2.2.3. Mô hình nghiên cứu.......................................................................45
CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ..........................51
3.1. PHÂN TÍCH...............................................................................................51
3.1.1. Tính toán các biến.........................................................................51
3.1.2. Kết quả phân tích...........................................................................56
3.2. KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU..............................................67
3.2.1. Kiểm định giả thuyết.....................................................................67
3.2.2. Kiểm tra các điều kiện vận dụng mô hình.....................................69
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM..................................................72
4.1. KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU..................................................72
4.2. CÁC KIẾN NGHỊ......................................................................................77
KPMG, PricewaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche
Tohmatsu (D&T), Ernst and Young (E&Y)
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
Bảng 2.1
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Tên bảng
Trang
Bảng tổng hợp các biến trong mô hình
Bảng gán giá trị các biến giả trong mô hình
Tổng hợp dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của
48
52
Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang
Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình
nghiệp hay không.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 là cuộc
khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể từ cuộc đại khủng
hoảng (Friedman & Friedman, 2009) [21]. Cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ
năm 2007 với cuộc khủng hoảng nhà đất tại Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, tác
động nghiêm trọng tới mọi tổ chức, doanh nghiệp, định chế tài chính, kinh tế
khác nhau, gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. GFC cùng với sự đổ
vỡ của các công ty dẫn đến khủng hoảng đã làm gia tăng mức độ chỉ trích
chất lượng kiểm toán và gia tăng áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán
(Holm & Zaman, 2012) [23]. Các hoạt động kiểm toán bị đặt dấu hỏi nghiêm
trọng (Sikka 2009), ví dụ: Kiểm toán viên kiểm toán cho ngân hàng Mỹ
Lehman Brother đã thất bại trong việc đưa ra ý kiến chính xác về tình hình tài
chính cũng như khả năng hoạt động liên tục của ngân hàng này với việc đưa
2
ra ý kiến đồng ý trong báo cáo kiểm toán quý của ngân hàng này hai tháng
trước khi vụ phá sản lớn nhất nước Mỹ của Lehman Brother được công bố
[30]. Giá trị lớn của lệ phí kiểm toán cũng nêu lên dấu hỏi về sự độc lập của
kiểm toán viên và khả năng mà kiểm toán viên đứng về phía lợi ích của nhà
quản lý được nêu ra; đồng thời câu hỏi cũng được nêu ra rằng liệu kiểm toán
viên có thực hiện được một cuộc kiểm toán chính xác và hiểu được các công
cụ tài chính phức tạp, hiện đại trong bối cảnh hiện nay (Sikka, 2009) [30].
Việt Nam với đặc thù là một nền kinh tế non trẻ, đang phát triển và hội
nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới đã chịu những ảnh hưởng nặng nề của
khủng hoảng tài chính đối với mọi mặt của nền kinh tế. Giai đoạn 2002 –
2007, Việt Nam luôn được coi là một trong những đầu tàu tăng trưởng của
nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt 7.8%,
đã suy giảm xuống mức 6.18% vào năm 2008 và 5.32 % vào năm 2009. Xuất
khẩu vốn là động lực của nền kinh tế Việt Nam chịu thiệt hại nghiêm trọng
hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mục tiêu khác của nghiên cứu liên quan đến vấn đề đại diện đó là nghiên
cứu nhằm làm rõ xem liệu kiểm toán có thực hiện được vai trò của mình trong
việc giải quyết vấn đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu
hay không. Hoạt động kiểm toán bằng việc giải quyết hay không giải quyết
được vấn đề đại diện góp phần ảnh hưởng tới việc phân bổ nguồn lực kinh tế
xã hội một cách hiệu quả trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đã nêu dẫn đến câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: “
Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng như thế nào bởi cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu?”
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với kiểm toán báo cáo
tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (ngoại
trừ các công ty thuộc nhóm tài chính – ngân hàng) .
+ Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện dựa trên báo cáo tài chính đã
được kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
trong giai đoạn 2005 – 2009.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đi theo hướng tiếp cận thực chứng bằng cách sử dụng mô hình
hồi quy tuyến tính đa biến nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu. Nghiên
cứu đầu tiên được thực hiện bằng việc đưa ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó
7. Tổng quan tài liệu
Nghiên cứu về chất lượng kiểm toán là một trong những đề tài nghiên
cứu còn hết sức mới mẻ tại Việt Nam và nghiên cứu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính tại
Việt Nam là một chủ đề hoàn toàn mới và chưa từng có nghiên cứu chính thức
và có đầu tư nào về chủ đề này từng được thực hiện tại Việt Nam. Do đó,
tham khảo cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về chất lượng kiểm toán,
đặc biệt là chất lượng kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng đã được thực
hiện trên thế giới là hết sức cần thiết trong thực hiện các nghiên cứu tại Việt
Nam.
Các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính được thực
hiện bởi nhiều tác giả bao gồm: DeAngelo, Denfond và Zhang, Francis,
Svanstrom, Choi … Các tác giả này tập trung vào nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng kiểm toán và cách thức đo lường chất lượng kiểm toán.
6
Một số yếu tố được phát hiện ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán qua các
nghiên cứu của các tác giả trên bao gồm: Tính độc lập của kiểm toán viên,
nhóm Big 4( DeAngelo, 1981), dịch vụ phi kiểm toán (Svanstrom, 2013), chi
phí kiểm toán (Blankley, 2012), quy mô khách hàng kiểm toán (Reynolds và
Francis, 2001) [10], [16], [29], [31], … Còn nhiều những ý kiến chưa đồng
nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán trong các nghiên cứu
này và tương tự vậy, còn nhiều khác biệt không thống nhất về cách thức đo
lường chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Nhiều nghiên cứu sử dụng các
phép đo khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán; bao gồm: Sai sót trọng
yếu, ý kiến kiểm toán, đánh giá của người sử dụng thông tin và phép đo được
nhiều nghiên cứu chia sẽ, đồng thuận và được sử dụng trong nghiên cứu này
đó là phép đo dựa trên đo lường chất lượng lợi nhuận theo biến kế toán dồn
tích. Phép đo này được ủng hộ bởi Defond và Zhang (2013) khi cho rằng chất
Thị Uyên Phương (2014) [4], [5]…. Những giới hạn về thời gian và mức độ
nghiên cứu của tác giả trong nghiên cứu này là tương ứng với các nghiên cứu
trước đó mà tác giả đã đề cập và nhận định rằng mô hình Friedlan (1994) vẫn
đảm bảo việc đo lường DA với kết quả được kiểm chứng qua các nghiên cứu
trên, tác giả quyết định sử dụng mô hình Friedlan (1994) là mô hình để tính
toán DA trong nghiên cứu này.
Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến chất lượng kiểm
toán báo cáo tài chính còn là một đề tài nghiên cứu mới trên thế giới. Nghiên
cứu chính mà tác giả lấy làm cơ sở để tham khảo và phát triển nghiên cứu của
mình là nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) [32]; với đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến chất lượng
kiểm toán”. Nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano (2014) với mục đích
tìm hiểu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng
kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Thụy Điển trong và sau
8
giai đoạn khủng hoảng [32]. Sotheara Riel và Carl Tano đã sử dụng biến kế
toán dồn tích có thể điều chỉnh DA để đo lường cho chất lượng kiểm toán
[32]. Các quan sát trong nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano bao gồm:
Biến khủng hoảng, quy mô khách hàng kiểm toán, hiệu quả hoạt động kinh
doanh (ROA), nhóm công ty kiểm toán BIG 4, tăng trưởng tài sản … Kết quả
nghiên cứu cho thấy mối quan hệ thuận giữa chất lượng kiểm toán và giai
đoạn khủng hoảng hay chất lượng kiểm toán tăng lên trong giai đoạn khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Sotheara Riel và Carl Tano (2014) cho rằng trong
giai đoạn khủng hoảng chất lượng kiểm toán tăng lên bởi sự thận trọng của
các kiểm toán viên khi đối phó với các rủi ro từ khủng hoảng tài chính [32].
Tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu của Sotheara Riel và Carl Tano không
thể áp dụng để đưa ra kết luận tương tự tại Việt Nam vì nghiên cứu của
Sotheara Riel và Carl Tano dựa vào cơ sở dữ liệu tại Thụy Điển là một nước
là: “Hệ thống quy trình khách quan nhằm thu thu thập và đánh giá các bằng
chứng của các cơ sở dẫn liệu liên quan đến các sự kiện và hoạt động kinh tế;
xác định mức độ phù hợp của các cơ sở dẫn liệu này với các chuẩn mực, tiêu
chuẩn thiết lập và công bố kết quả hoạt động đến người quan tâm” (Eilifsen,
2010, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32].
Có nhiều đối tượng sử dụng thông tin, do đó kiểm toán nhằm phục vụ
cho các loại đối tượng này cũng được chia thành nhiều loại khác nhau.
Phân loại theo mục đích kiểm toán thì kiểm toán được chia thành:
+ Kiểm toán hoạt động.
+ Kiểm toán tuân thủ.
+ Kiểm toán báo cáo tài chính.
Phân loại theo chủ thể kiểm toán thì kiểm toán được chia thành:
+ Kiểm toán nội bộ.
+ Kiểm toán Nhà nước.
+ Kiểm toán độc lập.
Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng chính đó là kiểm toán báo cáo
tài chính được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập.
1.2. CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
1.2.1. Định nghĩa chất lượng kiểm toán
Chất lượng kiểm toán và các yếu tố cấu thành chất lượng kiểm toán luôn
là một đề tài được tranh cải rộng rãi. Francis (2011) chia sẻ quan điểm rằng
11
không phải dễ dàng để định nghĩa chất lượng kiểm toán bởi vì nó là một khái
niệm phức tạp và một định nghĩa đơn giản là không đủ [19].
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực
Kiểm toán Quốc tế số 220 (IAS 220): “Chất lượng kiểm toán là mức độ thỏa
mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối
tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thỏa mãn về mong muốn có
Chi phí kiểm toán có phải là mối đe dọa đến chất lượng kiểm toán? Antle
(2006) trong một nghiên cứu được thực hiện tại Anh và Mỹ đã tìm thấy rằng
phí kiểm toán cao dẫn đến một sự chấp nhận cao hơn bình thường mức độ
dồn tích kế toán [7]. Eshleman và Guo (2014) cho rằng chi phí kiểm toán cao
hơn so với mức hợp lý theo khối lượng công việc của kiểm toán có thể là
nguyên nhân khiến các kiểm toán viên đánh mất tính độc lập và chấp nhận
các vấn đề kế toán tại doanh nghiệp [18]. Trompeter (1994, trích dẫn bởi
Eshleman và Guo, 2014) cho rằng các cam kết kiểm toán được thực hiện bởi
các thành viên trong nhóm kiểm toán chứ không phải là các công ty kiểm
toán, các thành viên trong nhóm kiểm toán được hưởng phần lớn các khoản
thu bổ sung từ các khách hàng và chấp nhận rủi ro bằng cách thuận theo
khách hàng bất kể các rủi ro danh tiếng cho công ty kiểm toán [18]. Các kết
quả nghiên cứu dẫn đến cơ sở rằng tồn tại khả năng phí kiểm toán cao gây
ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán .
b. Dịch vụ phi kiểm toán
Vấn đề mối quan hệ giữa dịch vụ phi kiểm toán và chất lượng kiểm toán
được thảo luận nghiêm túc từ sự kiện sụp đổ của Enron. Đây là bằng chứng
thực tế cho mối quan hệ giữa việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và chất
lượng kiểm toán. Solomon (2010) cho rằng sự yếu kém trong thực hiện kiểm
toán Enron của Arthur Anderson dẫn đến sự sụp đổ của cả hai công ty một
phần do sự độc lập của kiểm toán viên bị tổn hại vì họ đồng thời cung cấp
dịch vụ phi kiểm toán cho Enron và điều đó có ý nghĩa rằng các kiểm toán
13
viên có một động cơ tài chính to lớn để đứng về phía lợi ích của nhà quản lý
và che dấu các thông tin tài chính trọng yếu liên quan đến trách nhiệm pháp lý
bổ sung và không đề cập chúng trong các báo cáo thường niên [33]. Tuy
nhiên các nghiên cứu của Svanstrom (2013) lại cho thấy sự gia tăng chất
lượng kiểm toán khi gia tăng thực hiện các dịch vụ phi kiểm toán cho khách
nghi hơn (Shockley, 1982, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014)
[32]. Trong khi đó, các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính trung gian coi việc
tăng nhiệm kỳ kiểm toán là hướng đến việc cải thiện chất lượng kiểm toán
(Ghosh & Moon, 2005, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014) [32].
f. Nhiệm kỳ đối tác kiểm toán
Carey và Simnett (2006, trích dẫn bởi Sotheara Riel và Carl Tano, 2014)
thực hiện nghiên cứu tại Úc và kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có một mối
liên hệ giữa nhiệm kỳ đối tác kiểm toán và chất lượng kiểm toán [32]. Theo
nghiên cứu này thì việc tăng nhiệm kỳ đối tác kiểm toán đi liền với xu hướng
giảm phát hành báo cáo kiểm toán với lưu ý về khả năng hoạt động liên tục;
như một dấu hiệu của việc suy giảm chất lượng kiểm toán. Tuy nhiên một
nghiên cứu được thực hiện bởi Chi và Huang (2005) cho thấy rằng việc gia
tăng nhiệm kỳ đối tác kiểm toán giúp cải thiện chất lượng kiểm toán [13].
g. Tính độc lập của kiểm toán viên
Mỗi kiểm toán viên đều phải thực hiện kiểm toán tuân thủ theo các
chuẩn mực kiểm toán và đó là yêu cầu tối thiểu để đảm bảo chất lượng kiểm
toán. DeAngelo (1981) sử dụng tính độc lập của kiểm toán viên như một
thước đo chất lượng kiểm toán [16]. Cô cho rằng các công ty kiểm toán lớn
độc lập tài chính hơn các công ty kiểm toán nhỏ vì họ không phụ thuộc vào
một nguồn tài chính duy nhất nào và họ có danh tiếng có thể bị mất đi và họ
phải duy trì sự độc lập để tránh đánh mất danh tiếng này hay dính vào các
15
cuộc kiện tụng [16]. Francis và Wilson (1988) cũng ủng hộ quan điểm của
DeAngelo với lập luận rằng các công ty kiểm toán lớn đã xây dựng được
thương hiệu trong thời gian dài vì vậy họ có xu hướng cung cấp chất lượng
kiểm toán cao hơn các công ty nhỏ [20].
h. Quy mô khách hàng
Reynolds và Francis (2001) cho rằng kiểm toán viên có thể thỏa hiệp
(trong nghiên cứu này tác giả ngầm định báo cáo tài chính là báo cáo tài chính
sau kiểm toán) vì chất lượng kiểm toán làm tăng chất lượng báo cáo tài chính
(Defond và Zhang, 2013) [17]. Tuy nhiên chất lượng kiểm toán không phải là
thành phần duy nhất của chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài
chính còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng báo cáo tài chính trước kiểm toán
được quyết định bởi hệ thống báo cáo tài chính hay hệ thống thông tin tài
chính của công ty. Mối quan hệ này được Defond và Zhang (2013) biểu diễn
quan công thức [17]:
FRQ = f(AQ,R,I)
Trong đó:
FRQ: Chất lượng báo cáo tài chính
AQ: Chất lượng kiểm toán
R: Hệ thống báo cáo tài chính
I: Đặc điểm nội tại của công ty
Chất lượng kiểm toán theo đó chỉ đảm bảo chất lượng báo cáo tài chính
phù hợp với với hệ thống báo cáo tài chính và đặc điểm nội tại của doanh
nghiệp.
Chất lượng kiểm toán có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chất
lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và gia
tăng tính thông tin của báo cáo tài chính (Jueming Bing, Chu, X.H , Anqui Li,
17
Xinyi Zhu, 2014) [24]. Balsam (2003, trích dẫn bởi Jueming Bing, Chu, X.H,
Anqui Li, Xinyi Zhu, 2014) cho rằng tồn tại mối quan hệ thuận giữa chất
lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính được đo lường bằng chất
lượng lợi nhuận [24]. Nếu chất lượng lợi nhuận là cao, tính thông tin và hữu
dụng của lợi nhuận sẽ mang tính phù hợp cao hơn. Các nghiên cứu gần đây
đồng ý rằng chất lượng kiểm toán là chất lượng lợi nhuận của báo cáo tài
chính đã được kiểm toán (Francis, 2011) [19]. Nhiều nghiên cứu sử dụng chất
logic để đo lường chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm toán [24].
Jueming Bing, Chu, X.H, Anqui Li, Xinyi Zhu (2014) cũng cho rằng quản trị
lợi nhuận liên quan chặt chẽ đến việc điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán hay
các nhà quản lý thường điều chỉnh mức độ dồn tích kế toán để đạt hay vượt
mục tiêu lợi nhuận đề ra [24].
1.2.4. Đo lường chất lượng kiểm toán
Các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán sử dụng nhiều biến
quan sát khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán. Chất lượng kiểm toán
là một khái niệm khó quan sát và định lượng cũng như việc người sử dụng
báo cáo tài chính không thể hoàn toàn nhìn thấy các mức độ bảo đảm được
cung cấp bởi các công ty kiểm toán (DeFond & Zhang, 2013) [17]. Phần dưới
đây trình bày các quan sát đại diện để đo lường chất lượng kiểm toán. Các
quan sát đại diện này được chia làm hai loại là đo lường dựa vào yếu tố đầu
vào và đo lường dựa vào yếu tố đầu ra.
a. Phép đo dựa vào yếu tố đầu vào
Đo lường dựa vào các yếu tố đầu vào được sử dụng cho các nghiên cứu
chú ý đến yếu tố đầu vào của kiểm toán. Nhưng vì đầu vào kiểm toán không
đảm bảo rằng chúng tương ứng với kết quả kiểm toán và do đó quan sát này
khá không ổn để do lường chất lượng kiểm toán (Defond & Zhang, 2013)
[17]. Dưới đây là các yếu tố đầu vào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán.
Đặc điểm kiểm toán