LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý
thầy cô giáo đang công tác tại Khoa Hành chính học - Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong suốt 4 năm học tập tại trường đại học. Đặc
biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giảng viên, Thạc sĩ Lê Thị Lý đã
quan tâm hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cô chú, anh chị đang
công tác tại Phòng Tư pháp, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã tạo mọi
điều kiện tốt nhất, cung cấp các số liệu cần thiết góp phần giúp tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện
cho em hoàn thành bài khóa luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tìm tài liệu
nhưng do kiến thức còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót,
kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
BẢNG TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................1
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu..............................................................2
3. Mục tiêu nghiên cứu...............................................................................2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................................2
5. Lịch sử nghiên cứu..................................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................4
7. Kết cấu của đề tài....................................................................................4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỨNG THỰC VÀ QUẢN LÝ
UBND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang..........................................40
2.3.1. Đội ngũ nhân sự làm công tác chứng thực tại UBND huyện Chiêm
Hóa, tỉnh Tuyên Quang.............................................................................40
2.3.2. Thực trạng chứng thực bản sao từ bản chính..................................42
2.3.3. Thực trạng chứng thực các văn bản, hợp đồng giao dịch...............44
2.3.4. Thực trạng chứng thực chữ ký........................................................47
2.4. Đánh giá công tác QLNN về công tác chứng thực tại UBND huyện
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang...............................................................48
2.4.1. Những thành tựu đạt được..............................................................48
2.4.2. Những hạn chế, bất cập...................................................................50
2.4.3. Đánh giá nguyên nhân của những thành tựu đạt được và những bất
cập, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về chứng thực tại UBND
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.......................................................51
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC TẠI
UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG54
3.1. Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về
công tác chứng thực tại UBND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang....54
3.1.1 Giải pháp chung...............................................................................54
3.1.2. Giải pháp cụ thể..............................................................................58
3.2. Một số kiến nghị chung......................................................................61
3.2.1. Về phía Đảng, nhà nước..................................................................61
3.2.2. Về phía UBND huyện.....................................................................61
3.2.3. Về phía người dân...........................................................................62
KẾT LUẬN....................................................................................................64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................65
PHỤ LỤC
do dân, vì dân” trong đó lĩnh vực tư pháp đang được quan tâm xây dựng và
triển khai một cách đồng bộ với những mục tiêu, yêu cầu, nội dung cụ thể.
Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”, thì vai trò của chứng thực càng được khẳng định, nhất là trong điều
tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để sự phát triển nhanh, nóng,
dẫn tới những hệ lụy khó lường cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v.
Trong sự tồn tại và phát triển của hoạt động chứng thực thì quản lý nhà
nước về chứng thực đóng vai trò rất quan trọng. Công tác này được Đảng và
Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, cụ thể là đã có những văn bản pháp quy quy
định đầy đủ, chi tiết về những quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà
nước trong việc quản lý nhà nước về chứng thực. Như Nghị định số
79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính,
chứng thực chữ kí, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành
ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính,
chứng thực chữ kí và chứng thực hợp đồng giao dịch.
Vì vậy, với mong muốn phản ánh chính xác và thực tế nhất quá trình
thực hiện hoạt động này tại Ủy ban nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên
Quang nên tôi đã chọn đề tài : “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
công tác chứng thực tại Uỷ ban nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên
Quang” làm đề tài khóa luận của mình. Để làm rõ hơn những mặt làm được
và chưa làm được tại UBND huyện Chiêm Hóa khi thực hiện Nghị định
23/2015/NĐ-CP của Chính phủ về công tác chứng thực; đồng thời từ hoạt
động thực tế tại cơ quan thấy được vai trò của công tác QLNN về hoạt động
chứng thực và đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều
1
kiện đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc
Trên cơ sở thực trạng, đánh giá ưu điểm và hạn chế trong công tác
chứng thực và quản lý nhà nước về chứng thực tư đó đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện chứng thực và quản lý nhà nước về
chứng thực trên địa bàn huyện Chiêm Hóa hiện nay.
5. Lịch sử nghiên cứu
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực chứng thực như:
Đặng Văn Khanh (2000), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc
xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng, chứng thực và giá trị pháp lý
của văn bản công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay”, Luận văn Tiến sỹ.
Chu Thị Tuyết Lan,“Quản lý nhà nước về chứng thực, thực trạng và
phương hướng đổi mới”, Luận văn Thạc sỹ.
Nguyễn Văn Hợi (2006),“Xây dựng nội dung cơ quản quản lý nhà
nước đối với hoạt động công chứng, chứng thực từ thực tiễn tỉnh Bình
Phước”, Luận văn Thạc sỹ.
Ths. Đặng Văn Trường (2010),“Quản lý nhà nước về công chứng,
chứng thực ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra”.
Tạp chí Quản lý Nhà nước, 2010, Số 168; Ngô Sỹ Trung (2010).
Nghị định 79/2007/NĐ-CP - Một bước tiến trong cải cách hoạt động
chứng thực nước ta”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, 2010, Số 3; Ngoài ra, còn
một số bài nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí
tổ chức Nhà nước, Tạp chí Thanh tra. Các công trình nghiên cứu, luận văn,
bài viết trên đã đưa ra một cách đầy đủ nhất về cơ sở lý luận về hoạt động
chứng thực cũng như hoạt động quản lý nhà nước về chứng thực. Tuy nhiên
chưa có công trình nghiên cứu, luận văn, bài viết nào đã công bố về quản lý
nhà nước về chứng thực thông qua trong bối cảnh nước ta đang thực hiện.
Với đề tài “Nâng cao hiệu quả Quản lý nhà nước về công tác chứng
thực tại UBND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” được coi là công trình
đầu tiên nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nước về chứng thực tại UBND
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỨNG THỰC VÀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm chứng thực
Chứng thực là một thuật ngữ khá phức tạp, cần được tìm hiểu dưới góc
độ ngôn ngữ học và dưới góc độ khoa học pháp lý và quản lý. Do vậy, cần
phải so sánh, tìm hiểu các quan niệm khác nhau về chứng thực ở trong nước
cũng như những khái niệm tương ứng của khoa học pháp lý nước ngoài.
Về khía cạnh ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ,
Nxb Đà Nẵng năm 1997 có một số định nghĩa có liên quan đến chứng thực,
sao: “Sao. chép lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng bản gốc (thường nói về
giấy tờ hành chính). sao đúng nguyên văn một tài liệu. sao y bản chính. bản
sao”. Còn về xác nhận được giải thích : “Xác nhận thừa nhận đúng sự thật
chữ kí, xác nhận lời khai”. Về chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để
làm bằng là đúng sự thật. Chứng thực lời khai. Xác nhận là đúng. Thực tiễn
đã chứng thực điều đó”. Như vậy, nghĩa của từ chứng thực xét về góc độ
ngôn ngữ còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.
Về khía cạnh pháp lý, khái niệm chứng thực hoàn toàn không dễ định
nghĩa, để hiểu rõ hơn khái niệm này, cần hiểu về các định nghĩa khác nhau
của khoa học pháp lý nước ta qua các thời kỳ, cũng như cách định nghĩa khác
nhau của khoa học pháp lý nước ngoài.
- Quan niệm của khoa học pháp lý nước ngoài:
Từ góc độ luật học, qua tham khảo một số tài liệu pháp lý nước ngoài
có thể thấy, trong khoa học pháp lý một số nước cũng có những khái niệm
tương đương với khái niệm chứng thực trong tiếng Việt.
5
- Quan niệm về chứng thực trong các văn bản pháp luật trước năm
2015:
+ Trong Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 của Chính phủ lâm thời
Việt Nam dân chủ cộng hòa ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ, Hồ Chủ
tịch không dùng thuật ngữ “chứng thực” mà sử dụng thuật ngữ “thị thực”:
Các Ủy ban có quyền thị thực tất cả các giấy má trong địa phương mình, bất
kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về quốc tịch nào. Tuy nhiên, Ủy ban
thị thực phải là Ủy ban ở trú quán một bên đương sự lập ước và về việc bất
động sản phải là Ủy ban ở nơi sở tại bất động sản.
+ Thông tư số 858/QLTPK là văn bản đầu tiên xuất hiện thuật ngữ
“chứng thực”: Tất cả các đơn từ, giấy tờ khác có nội dung không trái pháp
luật và đạo đức xã hội chủ nghĩa, thì có thể được công chứng viên chứng thực
chữ ký của người lập ra chúng. Khi chứng nhận chữ ký, công chứng viên
không phải kiểm tra, xác nhận nội dung của việc trong đơn từ, giấy tờ, mà chỉ
cần xem nội dung các văn bản đó có trái pháp luật và các quy định hiện hành
hay không? Nếu thấy nội dung và các sự việc nêu trong đơn từ, giấy tờ có thể
có hại cho người ký, thì công chứng viên giải thích cho đương sự hiểu hậu quả
pháp lý của nó. Sau khi đã kiểm tra chữ ký của đương sự, công chứng viên phải
yêu cầu đương sự ký vào đơn từ, giấy tờ và ghi chứng thực theo mẫu.
+ Nghị định số 31/CP đã giao cho UBND thực hiện việc chứng thực:
Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp
luật quy định và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc được
quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 của Nghị định này Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn chứng thực việc từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc và
các việc khác do pháp luật quy định.
+ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm
“chứng thực” là gì: Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã
xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các
đó. Tuy nhiên, phân tích từ các khái niệm nêu trên thì có thể đưa ra một khái
niệm chung nhất: Chứng thực là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
8
chứng thực xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản,
chữ ký của cá nhân, các sự kiện pháp lý, thông tin cá nhân để phục vụ trong
các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính…
1.1.2. Phân loại chứng thực
Về phân loại có 02 cách phân loại hoạt động chứng thực:
* Cách thứ nhất: Nếu căn cứ theo thẩm quyền thực hiện thì hoạt động
chứng thực bao gồm:
- Chứng thực thực hiện tại UBND cấp huyện gồm: chứng thực bản sao
từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký
của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt
hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy
tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài.
- Chứng thực thực hiện tại UBND cấp xã: có thẩm quyền chứng thực
bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt, chứng thực chữ ký
trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.
- Chứng thực được thực hiện tại cơ quan đại diện của Việt Nam tại
nước ngoài: có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn
bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ,
văn bản bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài; chữ ký người dịch trong các
bản dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng
nước ngoài.
* Cách thứ hai: Căn cứ theo nội dung có thể phân chia hoạt động
chứng thực gồm:
- Chứng thực sao y bản chính: là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài;
d) Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản;
đ) Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận
di sản mà di sản là động sản.
Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp thực hiện chứng thực các
việc theo quy định, ký chứng thực và đóng dấu của Phòng Tư pháp.
10
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy
ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:
a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận;
b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản, trừ việc chứng thực
chữ ký người dịch;
c) Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản;
d) Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền
của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;
đ) Chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật
Nhà ở;
e) Chứng thực di chúc;
g) Chứng thực văn bản từ chối nhận di sản;
h) Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận
di sản mà di sản là tài sản quy định tại các Điểm c, d và đ Khoản này.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện ký chứng
thực và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan
khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài
(sau đây gọi chung là Cơ quan đại diện) có thẩm quyền và trách nhiệm chứng
phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực ở cấp độ thông
tư, nghị định.
Các văn bản điều chỉnh hoạt động chứng thực giai đoạn này bao gồm:
Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công
tác công chứng nhà nước; Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về công
chứng Nhà nước của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Nghị định số
31/CP ngày 18/5/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước; Nghị
định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 về công chứng, chứng thực. Giai
đoạn này, do đặc điểm tình hình của nước ta trong thời kỳ đầu đổi mới, số
lượng các Phòng Công chứng và công chứng viên còn hạn chế, (trên cả nước
chỉ có hơn 100 Phòng Công chứng và hơn 300 công chứng viên), chưa đủ để
12
đáp ứng nhu cầu của người dân. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho người
dân có thể thực hiện các yêu cầu công chứng ở những nơi chưa có Phòng
Công chứng hoặc có nhưng việc đi lại còn khó khăn, Ủy ban nhân dân cấp
huyện, cấp xã đã được giao nhiệm vụ chứng thực (trong đó có việc mà bản
chất thuộc về hoạt động công chứng, đó là chứng thực hợp đồng, giao dịch)
và những công việc chứng thực mà Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực
hiện trong giai đoạn này cũng được gọi là việc “công chứng” , VD: chứng
nhận hợp đồng, giao dịch, bản sao, chữ ký… Thời kỳ này, người thực hiện
chứng thực tại UBND các cấp cũng được gọi là công chứng viên. Có thể nói,
thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực còn bị lẫn lộn về nhiều
mặt: về tên gọi, về chủ thể, về nội dung, về phạm vi thực hiện… và luôn được
điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật. Các Phòng
công chứng bên cạnh việc công chứng hợp đồng, giao dịch vẫn được giao
thực hiện công việc chứng nhận bản sao (có tính chất giản đơn hơn), còn Ủy
ban nhân dân cấp xã lại không có thẩm quyền chứng thực bản sao. Thời kỳ
phục vụ dân. Mặt khác, sự pha trộn đó cũng biến hoạt động công chứng thành
hoạt động mang tính chất hành chính khô cứng, quan liêu.
Giai đoạn này, các việc công chứng, chứng thực được thực hiện cũng
rất đơn giản và do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ
tục công chứng/chứng thực nên có thể nói hoạt động công chứng/chứng thực
chưa được diễn ra bài bản, chuyên nghiệp. Trình tự/thủ tục công chứng/chứng
thực giai đoạn này còn chưa hạn chế được sự tùy tiện.
Giai đoạn từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ - CP
cho đến trước thời điểm Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số
79/2007/NĐ-CP được ban hành
- Ngày 8/12/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000/NĐCP về công chứng, chứng thực. Giai đoạn này sự phát triển của hoạt động
công chứng/chứng thực đã được nâng lên một bước, quy củ và nền nếp hơn,
tuy nhiên chưa mang tính đột phá. Giai đoạn này, sự phân biệt giữa hoạt động
14
công chứng và chứng thực chưa có sự thay đổi đáng kể so với trước đây.
Điểm khác biệt lớn nhất là kể từ khi Nghị định này được ban hành thì khái
niệm “chứng thực” mới chính thức được ra đời, tồn tại song song, độc lập
bên cạnh khái niệm “công chứng”. Tại khoản 2 Điều 2 của Nghị định này đã
chỉ rõ: “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao
y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục
vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định
này”. Như vậy, Nghị định 75/2000/NĐ-CP đã chính thức khẳng định hoạt
động chứng thực là hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Từ
đây, những việc tuy có tính chất như công chứng nhưng do Ủy ban nhân dân
cấp huyện, cấp xã thực hiện thì được gọi là chứng thực.
Như vậy, ở giai đoạn này, hai hoạt động công chứng và chứng thực
chúc…) hoặc có những việc đơn giản như chứng thực bản sao vẫn được giao
cho Phòng Công chứng, trong khi các Phòng Công chứng giai đoạn này đều
đang quá tải. Nhiều chủng loại hợp đồng, giao dịch dân sự cùng được chứng
nhận tại cả Phòng Công chứng và tại UBND cấp huyện tùy theo địa hạt và tùy
theo giá trị tài sản ghi trong hợp đồng. Nguyên nhân của tình trạng này vẫn là
do số lượng các Phòng Công chứng chưa đủ để đáp ứng yêu cầu của người
dân (giai đoạn này số lượng các Phòng Công chứng trên cả nước đã tăng lên
nhưng cũng chỉ được khoảng hơn 300 Phòng; tại những tỉnh, thành phố lớn
như Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ có khoảng 4- 5 Phòng Công
chứng), dẫn đến Ủy ban nhân dân cấp huyện vẫn phải thực hiện nhiệm vụ của
Phòng Công chứng.
Tuy nhiên, cả về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy việc giao nhiệm
vụ chứng nhận một số hợp đồng dân sự cho Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng
như việc giao cho công chứng viên chứng nhận bản sao giấy tờ tài liệu còn có
một số mặt chưa thực sự phù hợp trong giai đoạn này, từ đó làm quá tải các
Phòng Công chứng, gây phiền hà cho công dân khi yêu cầu chứng nhận các
việc giản đơn và các công chứng viên không có thời gian để tập trung vào
nhiệm vụ chính là công chứng hợp đồng, giao dịch.
16
Thực tế này dẫn đến đòi hỏi khách quan, tất yếu là cần phải có thêm
nhiều phòng công chứng, nhiều công chứng viên để đảm nhiệm việc công
chứng các hợp đồng, giao dịch, tạo điều kiện để UBND cấp huyện, cấp xã
giảm dần việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch, tập trung thực hiện tốt
nhiệm vụ chính là quản lý nhà nước.
Mặt khác, giai đoạn này những hạn chế, tiêu cực của hoạt động công
chứng/chứng thực vẫn tồn tại như giai đoạn trước đây và có xu hướng ngày
càng tăng. Bên cạnh đó, hoạt động chứng thực chưa khẳng định được vị trí
trong xã hội, ngày 29/11/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật công chứng và
ngày 18/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp
bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Từ
đây, hoạt động công chứng và chứng thực đã tách bạch. Việc ban hành Luật
công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP là phù hợp trong giai đoạn này,
đặc biệt việc xã hội hóa hoạt động công chứng và giao việc chứng thực bản
sao cho UBND cấp xã thực hiện là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn
thiện pháp luật về công chứng, chứng thực, đưa hoạt động công chứng phát
triển theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế và gắn hoạt
động chứng thực với vai trò của chính quyền địa phương.
Từ thời điểm này, hoạt động công chứng và chứng thực đã có sự tách
bạch, nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứng thực đã được phân biệt
tương đối rạch ròi, phù hợp với tình hình thực tế của giai đoạn này. Theo đó,
tổ chức hành nghề công chứng được giao nhiệm vụ chính là công chứng hợp
đồng, giao dịch, không còn đảm nhận nhiệm vụ mang tính chất chứng thực là
chứng thực bản sao, chữ ký. Theo quy định của Luật Công chứng thì Phòng
công chứng và Văn phòng công chứng có nhiệm vụ là:“chứng nhận tính xác
thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy
định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu
công chứng”. Còn Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã theo quy định của
Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản
chính giấy tờ, văn bản và chứng thực chữ ký (giai đoạn này, UBND cấp xã đã
được chính thức giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính). Việc mở
18
rộng phân cấp thẩm quyền chứng thực cho Ủy ban nhân dân cấp xã đã đưa cơ
quan chứng thực đến gần dân hơn, tạo thuận lợi cho người dân. Đồng thời,
việc tổ chức hành nghề công chứng chấm dứt công chứng bản sao đã “buộc”
hành nghề công chứng duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động.
Còn với sự ra đời của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015
của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính,
chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, thì về cơ bản hoạt
động chứng thực vẫn được duy trì tại UBND cấp huyện, cấp xã, bên cạnh đó
là hoạt động chứng thực bản sao, chữ ký tại tổ chức hành nghề công chứng.
Tuy nhiên, để đảm bảo phù hợp với điều kiện, năng lực của đội ngũ cán bộ,
công chức làm công tác chứng thực, việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã
được đơn giản hóa, đặc biệt là giá trị pháp lý của hợp đồng, giao dịch được
chứng thực. Theo đó, hợp đồng, giao dịch được chứng thực chỉ có giá trị
“hình thức,” tức có giá trị pháp lý thấp hơn so với hợp đồng, giao dịch được
công chứng. Điều này là phù hợp với thực tế vì hiện nay, tại những tỉnh, thành
phố lớn nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển thì việc chứng thực hợp
đồng, giao dịch đã được chuyển giao cho các tổ chức hành nghề công chứng.
Chỉ tại những địa phương vùng sâu, vùng, xa, vùng kinh tế khó khăn... thì
UBND cấp huyện, cấp xã vẫn tiếp tục đảm đương nhiệm vụ chứng thực hợp
đồng, giao dịch.
Việc chứng thực hợp đồng, giao dịch theo quy định tại Nghị định
23/2015/NĐ-CP một mặt vừa làm giảm thủ tục cũng như lệ phí cho bà con
nơi đây, mặt khác vẫn đảm bảo yêu cầu của pháp luật trong trường hợp giao
dịch đó buộc phải có công chứng/chứng thực. Chỉ trong trường hợp phát sinh
tranh chấp thì do hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị pháp lý thấp
hơn nên độ an toàn không cao bằng hợp đồng, giao dịch được công chứng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy giao dịch diễn ra tại những địa phương này
thường là đơn giản, có giá trị nhỏ vì vậy khả năng phát sinh tranh chấp không
cao hoặc nếu có cũng không quá khó để giải quyết.
20