Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông hồng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay (TT) - Pdf 48

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐÀO THANH LƯỠNG

CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG
VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Mã số: 62 31 02 03

HÀ NỘI - 2018


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS TRẦN KHẮC VIỆT
2. PGS, TS NGUYỄN VŨ TIẾN

Phản biện 1:………………………………………..

Phản biện 2:………………………………………..

Phản biện 3:………………………………………..

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
Họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi

Đảng và Nhà nước ta xác định xây dựng nông thôn mới (NTM) là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước ta hiện nay.
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một vùng đồng bằng lớn nhất ở
phía Bắc nước ta, gồm 02 thành phố (Hà Nội, Hải Phòng) và 09 tỉnh trực
thuộc Trung ương (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương,
Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình). Đây là vùng lãnh thổ có vị
trí, vai trò đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, QP, AN
của cả nước. Đây cũng là một trong những đồng bằng, vựa lúa lớn của cả
nước, là trung tâm của nền văn hóa Việt và là một trong những trọng điểm
Đảng, Nhà nước đang triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
NTM. Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH là nhân tố quan trọng hàng
đầu, quyết định sự nghiệp xây dựng NTM ở từng trong vùng. Thực hiện các
nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và các quyết định của Chính phủ
về xây dựng NTM, những năm qua, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đã sớm thành
lập ban chỉ đạo và tiến hành chọn các xã điểm (riêng tỉnh Quảng Ninh chỉ
đạo và tiến hành đồng loạt ở tất cả các xã) trong tỉnh triển khai xây dựng mô
hình NTM giai đoạn 2010-2020. Qua 6 năm triển khai thực hiện chương
trình, bước đầu các tỉnh đã thu được kết quả quan trọng về nhiều mặt. Sự
lãnh đạo của các tỉnh ủy ngày càng đi vào chiều sâu, đem lại hiệu quả tích
cực. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đối với sự nghiệp
xây dựng NTM còn nhiều hạn chế. Một số nhiệm vụ của chương trình xây
dựng NTM được cấp ủy, chính quyền các tỉnh ở vùng ĐBSH triển khai


chậm, nhất là công tác quy hoạch xã NTM, công tác giải ngân vốn… Lãnh
đạo xây dựng quy hoạch xây dựng NTM chậm, quy hoạch chưa thật khoa
học và hợp lý. Chưa huy động được các nguồn lực, chưa phát huy tốt tiềm
năng, thế mạnh của địa phương trong xây dựng NTM. Lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp chưa hiệu quả, chậm cải thiện mức thu nhập của

- Đánh giá đúng thực trạng xây dựng NTM và thực trạng các tỉnh
ủy vùng ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM, rút ra nguyên nhân, đúc kết
những kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH.
2


- Dự báo những nhân tố tác động, xác định mục tiêu, phương
hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường lãnh đạo xây dựng
NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh
đạo xây dựng NTM giai đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: vùng ĐBSH gồm 11 tỉnh, thành phố, luận án
chỉ nghiên cứu 9 tỉnh, gồm Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải
Dương, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình.
Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu sự lãnh đạo của các tỉnh ủy
vùng ĐBSH đối với xây dựng NTM từ năm 2008 đến nay; phương hướng,
giải pháp luận án đề xuất có giá trị đến năm 2025.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương hiện nay của Đảng Cộng sản
Việt Nam về sự lãnh đạo, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng.
4.1. Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của luận án là thực trạng xây dựng NTM và thực trang
các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2008 đến nay.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ


4


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn
đề vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp CNH, HĐH; vai trò lãnh
đạo của các cấp ủy đảng đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; nông
thôn mới, xây dựng NTM; nội dung, phương thức các cấp ủy đảng lãnh đạo
xây dựng NTM… Đó là các sách của Nguyễn Trung Quế (1995), “Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng”; GS, TS Lương
Xuân Quỳ (1996), “Những biện pháp kinh tế tổ chức và quản lý để phát
triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn
Bắc bộ”; TS Nguyễn Văn Bích - KS Chu Tiến Quang (1996), “Chính sách
kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam”; Vũ Thị Ngọc Trân (1997), “Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất
hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng”; TS Nguyễn Văn Trung (1998),
“Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn, để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông thôn, nông nghiệp nước ta”; GS, TS Lưu Văn Sùng (2004), “Một
số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghiệp theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”; PGS, TS Vũ Năng Dũng (2004), “Cơ sở khoa
học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế, chính sách trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”; GS, TS Hoàng Chí Bảo
(2005), "Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”; TS Đặng
Kim Sơn (2008), “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam hôm nay
và mai sau”; PGS, TS Ngô Huy Tiếp (2010), “Đảng lãnh đạo xây dựng

(2013), “Tỉnh ủy Nghệ An lãnh đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện
nay”; các bài viết trên các báo, tạp chí của GS, TS Lê Hữu Nghĩa (2008),
“Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam - những vấn đề đặt ra và giải pháp”;
Hồ Xuân Hùng (2011), “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng
lâu dài của Đảng và nhân dân ta”; PGS, TS Vũ Văn Phúc (2011), Báo cáo
đề dẫn Hội thảo khoa học “Xây dựng nông thôn mới - những vấn vấn đề lý
luận và thực tiễn”; PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc (2012), “Chương trình xây
dựng nông thôn mới sau hai năm thí điểm”; Tuấn Anh (2012), “Kinh
nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới”; Trương Tấn
Sang (2012), “Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới những kết quả bước đầu và một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn”; Nguyễn
Văn Tạo (2012), “Đưa trí thức trẻ về nông thôn - một hướng đi mới góp
phần xóa đói, giảm nghèo bền vững”; Vũ Văn Ninh (2014), “Nhìn lại hơn
3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới:
kết quả và một số bài học kinh nghiệm”; Hoàng Phó Dân (2014), “Phát
huy vai trò của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trong xây
dựng nông thôn mới”
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƯỚC NGOÀI

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu về vấn đề nông
nghiệp, nông thôn, nông dân, xây dựng nông thôn mới, ứng dụng công
nghệ thông tin vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp… của Trung Quốc: Dang
6


Guoying (2006), “Agriculture, rural areas and farmers in China (Nông
nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc)”; Trác Vệ Hoa (2008), “Lý
luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung Quốc 30 năm”; Cát
Chí Hoa (2009), “Từ nông thôn mới đến đất nước, con người”; Chu Chí
Hòa (2010), “Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn”; của Cộng
hòa Dân chủ nhân dân Lào: Phêngphavăn Đaophoncharơn (2005), “Về vấn đề

quan trọng của xây dựng NTM ở vùng ĐBSH và phương thức xây dựng
NTM ở vùng này. Hai là, làm rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo xây
7


dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH. Ba là, xác lập và luận giải khái
niệm, nội dung, phương thức, những vấn đề có tính nguyên tắc và quy trình lãnh
đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH. Bốn là, đánh giá đúng thực
trạng NTM và thực trạng các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH lãnh đạo xây dựng
NTM; làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan của thực trạng, rút ra
những kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng
ĐBSH. Năm là, dự báo những thuận lợi, khó khăn, xác định mục tiêu,
phương hướng và đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh
đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đến năm 2025.
Chương 2
CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY –
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG
HỒNG HIỆN NAY

2.1.1. Khái quát về các tỉnh ở vùng đồng bằng sông Hồng
Luận án đã trình bày khái quát về đặc điểm địa lý, tự nhiên, đặc điểm
kinh tế, đặc điểm chính trị, đặc điểm văn hóa, xã hội, đặc điểm QP, AN của 9
tỉnh ĐBSH.
2.1.2. Các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng - chức năng,
nhiệm vụ, đặc điểm và vai trò
2.1.2.1. Chức năng của tỉnh ủy
Tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội

và ủy ban kiểm tra các cấp. Thứ chín, chuẩn bị và triệu tập đại hội nhiệm kỳ,
đại hội bất thường (nếu có); thảo luận và thông qua các văn kiện trình hội nghị;
giới thiệu đại hội về nhân sự ứng cử, đề cử vào tỉnh ủy, đoàn chủ tịch, đoàn thư
ký và ban thẩm tra tư cách đại biểu đại hội và đoàn đại biểu đảng bộ tỉnh dự
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng.
2.1.2.3. Đặc điểm tổ chức và hoạt động của các tỉnh ủy ở vùng
đồng bằng sông Hồng
Một là, số lượng, cơ cấu tỉnh ủy viên và tổ chức bộ máy tham mưu,
giúp việc của tỉnh ủy thường xuyên được củng cố, kiện toàn đáp ứng yêu
cầu lãnh đạo toàn diện HTCT cấp tỉnh và các lĩnh vực trọng yếu của đời
sống chính trị trên địa bàn tỉnh. Hai là, các tỉnh ủy vùng ĐBSH phải lãnh
đạo thực hiện việc thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng với quy mô lớn
phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng, các khu công nghiệp. Ba là, các tỉnh ủy
ở vùng ĐBSH hoạt động trong điều kiện vừa có thuận lợi cơ bản, vừa có
những khó khăn, thách thức. Bốn là, chất lượng đội ngũ tỉnh ủy viên của
các tỉnh ở vùng ĐBSH ngày một nâng cao, tạo thuận lợi cho hoạt động lãnh
đạo CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng NTM. Năm là, qua hơn
30 năm đổi mới, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH trưởng thành nhanh chóng, tích
lũy được những kinh nghiệm lãnh đạo quan trọng.

2.1.2.4. Vai trò của các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng
Một là, tỉnh ủy có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thành công
của sự nghiệp đổi mới, phát triển KT-XH, đẩy mạnh CNH, HĐH trên
địa bàn các tỉnh vùng ĐBSH. Hai là, tỉnh ủy là cầu nối giữa Trung ương
9


với cấp huyện, cấp cơ sở, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, thông
suốt từ Trung ương đến cơ sở. Ba là, tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo, chăm lo
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tỉnh, chịu trách nhiệm cao nhất

đời sống nhân dân; bốn là, xây dựng môi trường văn hóa, bảo vệ môi
trường; năm là, xây dựng HTCT vững mạnh; giữ vững an ninh trật tự, an
toàn xã hội ở nông thôn. Các nội dung nêu trên có mối quan hệ mật thiết
với nhau, cần được thực hiện một cách đồng bộ, không thể coi nhẹ nội
dung nào.
10


2.1.3.2. Đặc điểm và vai trò của xây dựng nông thôn mới ở các
tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng
* Đặc điểm xây dựng NTM ở các tỉnh vùng ĐBSH
Một là, xây dựng NTM ở các tỉnh vùng ĐBSH được thực hiện
trên cơ sở huy động các nguồn lực tiềm năng, tính sáng tạo của mỗi hộ
gia đình, mỗi cộng đồng thôn, xóm, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước,
chính quyền địa phương để tạo ra những thay đổi, chuyển biến lớn nhằm
phát triển nông thôn tại mỗi địa phương. Hai là, đẩy mạnh phát triển công
nghiệp, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, phát huy vai trò của đô
thị trong xây dựng NTM. Ba là, mỗi tỉnh có con đường, phương thức xây
dựng NTM riêng phù hợp. Bốn là, so với các địa phương khác trong cả
nước, nông thôn các tỉnh ở vùng ĐBSH có điều kiện cơ sở vật chất khá hơn
được hình thành từ thời kỳ xây dựng nông thôn trên miền Bắc XHCN trước
đây. Năm là, quá trình xây dựng NTM diễn ra trong điều kiện chính trị - xã
hội (CT-XH) ổn định.
* Vai trò của xây dựng NTM ở các tỉnh vùng ĐBSH
Một là, xây dựng NTM ở các tỉnh vùng ĐBSH góp phần thay đổi cơ
bản diện mạo của nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân nông thôn; nâng cao vị thế của giai cấp nông dân; rút ngắn khoảng cách
giữa thành thị và nông thôn. Hai là, xây dựng NTM ở các tỉnh vùng ĐBSH
góp phần thực hiện thắng lợi quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn;

kinh tế hoạt động trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và giai cấp nông
dân, đều là đối tượng lãnh đạo của tỉnh ủy, đồng thời họ cũng là lực lượng
tham gia vào quá trình lãnh đạo đó. Hai là, mục tiêu lãnh đạo xây dựng NTM
của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH là bảo đảm cho đường lối, chủ trương của Đảng,
Nhà nước và của tỉnh ủy về xây dựng NTM được thực hiện thắng lợi ở địa
phương, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng NTM ở các tỉnh trong vùng.
Ba là, nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng NTM của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH trong
lãnh đạo xây dựng NTM là: căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà
nước về xây dựng NTM và đặc điểm của từng địa phương, tỉnh ủy ban hành
nghị quyết, chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, kế hoạch xây dựng
NTM trên địa bàn tỉnh; lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên,
đặc biệt là chính quyền các cấp, thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy; kiểm tra, giám
sát các tổ chức đảng và đảng viên, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh thực hiện
nghị quyết, kịp thời tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, hình thành quan điểm phục
vụ quá trình lãnh đạo; lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền và các đoàn thể nhân dân,
các lực lượng xã hội tổ chức thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy bằng các phương
thức thích hợp. Bốn là, quy trình lãnh đạo của các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH trong
xây dựng NTM là: ra nghị quyết xác định phương hướng, nhiệm vụ, chủ trương,
giải pháp lớn thực hiện các nội dung xây dựng NTM theo đúng quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tổ chức thực hiện
nghị quyết; kiểm tra, giám sát thực hiện nghị quyết đó; sơ kết, tổng kết việc lãnh
đạo xây dựng NTM.
2.2.2. Nội dung lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của các tỉnh
ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng
Thứ nhất, xác định quan điểm, chủ trương, mục tiêu chung, mục
tiêu cụ thể, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, các biện pháp tổ chức thực hiện
xây dựng NTM ở từng tỉnh.
Thứ hai, lãnh đạo xây dựng quy hoạch tổng thể mô hình NTM phù
hợp với điều kiện cụ thể và đặc thù của từng địa phương.
12

trương của tỉnh ủy về xây dựng NTM.
Chương 3
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở VÙNG ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
3.1. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC TỈNH
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Với sự cố gắng của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương,
mức đạt các tiêu chí NTM những năm gần đây ở các tỉnh ĐBSH đã tăng lên rõ
13


rệt. Đến tháng 12-2016 đã có 704 xã đạt chuẩn NTM, 07 huyện đạt chuẩn
huyện NTM.
3.1.1. Những ưu điểm
Một là, các tỉnh đã xây dựng quy hoạch và cơ bản thực hiện
đúng quy hoạch phát triển nông thôn. Hai là, kết cấu hạ tầng nông thôn ở
các tỉnh tiếp tục được nâng cấp và hoàn thiện, tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển, bộ mặt nông thôn khởi sắc. Ba là, các tỉnh đã tích cực đổi mới và
xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ phù hợp, có hiệu quả ở
nông thôn. Bốn là, ở các tỉnh vùng ĐBSH, tỷ lệ các xã đạt nhóm tiêu chí về
văn hóa, xã hội, môi trường khá cao. Năm là, HTCT các tỉnh ở vùng ĐBSH
tiếp tục được củng cố vững mạnh, an ninh trật tự xã hội được giữ vững.
3.1.2. Những hạn chế, yếu kém
Một là, quy hoạch xây dựng và phát triển nông thôn còn hình thức,
thực hiện quy hoạch chưa nghiêm. Hai là, phát triển kết cấu hạ tầng cấp xã
còn chưa đồng bộ và chưa đồng đều giữa các tỉnh trong vùng ĐBSH. Ba là,
tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế ở các tỉnh ở ĐBSH chưa đồng đều, một
số mô hình sản xuất kinh doanh không phát huy hiệu quả KT-XH. Bốn là,
hoạt động triển khai xây dựng NTM về nhóm tiêu chí văn hóa, xã hội, môi

Thứ sáu, các tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo xây dựng HTCT cơ sở nông
thôn vững mạnh, giữ vững QP, AN, trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn.
* Về phương thức lãnh đạo
Một là, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đã xây dựng và sử dụng các nghị
quyết, chủ trương, định hướng mục tiêu, giải pháp, chương trình tổng thể
xây dựng NTM để lãnh đạo xây dựng NTM trong tỉnh.
Hai là, các tỉnh ủy tăng cường công tác tuyên truyền, thuyết phục,
vận động các tổ chức khác trong HTCT, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp
nhân dân thực hiện tốt các nghị quyết, chủ trương của tỉnh ủy về xây dựng
NTM.
Ba là, các tỉnh ủy đã thành lập và phát huy vai trò của ban chỉ đạo
chương trình xây dựng NTM của tỉnh và các cấp ủy, tổ chức đảng trong
HTCT, các cấp, các ngành trong tỉnh, đặc biệt là chính quyền tỉnh.
Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống các tổ
chức đảng thuộc đảng bộ tỉnh.
Năm là, các tỉnh ủy đều xây dựng các mô hình thí điểm, điển hình
NTM, sơ kết, tổng kết nhân rộng điển hình tiên tiến.
Sáu là, các tỉnh ủy đã bố trí đúng cán bộ, phát huy tốt vai trò tiên
phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên trong các tổ chức đảng, cơ quan
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức CT-XH trong xây
dựng NTM.
Bảy là, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đẩy mạnh công tác kiểm tra,
giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong thực hiện các nghị quyết, chủ
trương của Đảng, Nhà nước và tỉnh ủy về xây dựng NTM.
3.2.1.2. Hạn chế
* Về nội dung lãnh đạo
Một là, lãnh đạo thực hiện một số nhiệm vụ của chương trình xây
dựng NTM còn chậm, nhất là công tác quy hoạch xã NTM, công tác giải
ngân vốn…
Hai là, lãnh đạo xây dựng quy hoạch xây dựng NTM chậm, quy

3.2.2. Nguyên nhân và những kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới của các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng
3.2.2.1. Nguyên nhân
* Nguyên nhân của ưu điểm
Một là, các tỉnh ủy ở vùng ĐBSH đã nhận thức đúng, phát huy được
vai trò, trách nhiệm của mình trong lãnh đạo xây dựng NTM. Hai là, các tỉnh
ủy thường xuyên tiến hành công tác tư tưởng, tạo sự thống nhất, đồng thuận
xã hội về xây dựng NTM. Ba là, các tỉnh ủy phát huy vai trò, trách nhiệm
của các cấp chính quyền, MTTQ và các tổ chức CT-XH trong xây dựng
NTM. Bốn là, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
NTM trên địa bàn cả nước, trong đó có các tỉnh ở vùng ĐBSH.
* Nguyên nhân của các hạn chế
Một là, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM đề ra hệ
thống tiêu chí khá cao, nhiều tiêu chí khó đạt được, khó duy trì. Hai là, một
số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc vai trò, sự cần thiết và
16


trách nhiệm của mình trong lãnh đạo xây dựng NTM. Ba là, chưa phát huy
được tiềm năng, sức mạnh của người dân trong xây dựng NTM. Bốn là,
năng lực tổ chức triển khai chủ trương về xây dựng NTM của một số
cán bộ, công chức chính quyền, nhất là cấp xã, còn yếu; sự phối hợp
giữa các ngành chức năng trong Ban chỉ đạo chương trình xây dựng
NTM triển khai thực hiện thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ.
3.2.2.2. Những kinh nghiệm
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy, thực hiện tốt công tác cán bộ
trong xây dựng NTM. Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị
quyết, chủ trương xây dựng NTM. Ba là, lãnh đạo phát huy vai trò chủ thể của
nông dân trong phong trào xây dựng NTM. Bốn là, chú trọng lãnh đạo phát triển
các mô hình tổ chức sản xuất hiệu quả, phát huy vai trò của các làng nghề trong

Một là, lao động và việc làm cho nông dân trở thành vấn đề nan
giải trong xây dựng NTM. Hai là, năng lực lãnh đạo của tỉnh ủy đối với sự
nghiệp xây dựng NTM chưa đáp ứng yêu cầu. Ba là, sự nghiệp xây dựng NTM
luôn tiềm ẩn những rủi ro từ biến đổi khí hậu và từ biến động xã hội. Bốn là, sự
nghiệp xây dựng NTM vẫn đang loay hoay với việc thu hút vốn đầu tư. Năm
là, trong bối cảnh thế giới và trong nước hiện nay, xây dựng NTM bền vững
thực sự là một thách thức lớn đối với các tỉnh ủy ở ĐBSH.
4.1.2. Mục tiêu
Các tỉnh ủy lãnh đạo để các xã, huyện đã đạt tiêu chí xã, huyện
NTM giữ vững các tiêu chí NTM; các huyện hiện đã có đa số xã đạt tiêu
chuẩn NTM lãnh đạo phấn đấu để sớm đạt huyện NTM; các xã còn thiếu
một số ít tiêu chí phải lãnh đạo phấn đấu sớm đạt đủ các tiêu chí. Đối với
những xã mới đạt dưới một nửa số tiêu chí phải lãnh đạo phấn đấu rất quyết
liệt để đến năm 2020 cơ bản đạt tiêu chuẩn NTM.
4.1.3. Phương hướng
* Phương hướng chung: Tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở
ĐBSH theo định hướng phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục
các hạn chế, tập trung lãnh đạo huy động sức mạnh tổng hợp của cả HTCT
trong sự nghiệp xây dựng NTM, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo
của tỉnh ủy nhằm đạt được các chỉ tiêu xây dựng NTM mà đại hội đại biểu
đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra.
* Phương hướng cụ thể:
Một là, tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận
động nhân dân tham gia xây dựng NTM. Hai là, tiếp tục phát huy sáng kiến,
xây dựng các mô hình sản xuất, kinh doanh hiệu quả để xây dựng NTM; hoàn
thiện cơ chế thu hút đầu tư của các doanh nghiệp về nông thôn. Ba là, tăng
cường lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, tháo gỡ những khó khăn lớn
trong xây dựng NTM. Bốn là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của các
cấp ủy và cơ chế điều hành của chính quyền các cấp, sự phối hợp giữa các tổ
chức trong HTCT trong xây dựng NTM. Năm là, lãnh đạo thúc đẩy phong trào

nhằm phát hiện và huy động các nguồn lực tiềm năng, tính sáng tạo dồi dào
của mỗi cộng đồng thôn, xóm cộng với sự hỗ trợ của Nhà nước để tạo ra
những thay đổi, chuyển biến lớn nhằm phát triển nông thôn tại mỗi địa
phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân sinh sống ở
nông thôn, nhất là của giai cấp nông dân.
Hình thức tuyên truyền, thuyết phục, vận động tùy theo từng đối
tượng. Đối với cấp ủy viên các cấp, chủ yếu thông qua các đợt sinh hoạt
chính trị, học tập nghị quyết và sinh hoạt cấp ủy. Đối với cán bộ, đảng viên,
ngoài việc học tập nghị quyết và sinh hoạt tổ chức đảng, có thể phát tài liệu
để cán bộ, đảng viên tự nghiên cứu, học tập. Đối với đoàn viên, hội viên
các tổ chức CT-XH, chủ yếu là thông qua các buổi sinh hoạt tổ chức CTXH và các phong trào thi đua do tổ chức phát động. Ngoài ra, các tỉnh ủy
sử dụng báo của đảng bộ tỉnh, đài phát thanh và truyền hình tỉnh để truyên
truyền, phổ biến các chủ trương của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, các điển
hình tiên tiến trong tỉnh về xây dựng NTM.
4.2.2. Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò tiền phong, gương
mẫu của đội ngũ đảng viên ở nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
Trước hết, lãnh đạo cụ thể hóa tiêu chuẩn đảng viên ở nông thôn
trong tình hình mới. Hai là, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác bồi dưỡng,
nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ đảng viên ở nông thôn. Ba là, thực
hiện tốt phân công nhiệm vụ và quản lý đảng viên ở nông thôn. Bốn là,
19


thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên mới ở nông thôn. Năm là, lãnh
đạo thực hiện tốt công tác phân loại, sàng lọc đảng viên trong toàn đảng bộ.
Sáu là, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên trong
thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM.
4.2.3. Lãnh đạo phát huy vai trò của nông dân trong xây dựng
nông thôn mới
Một là, cần nhận thức đầy đủ và quán triệt sâu sắc quan điểm,

phát triển KT-XH địa phương. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp
hội nông dân trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ khuyến nông, khuyến
20


lâm, khuyến ngư; tuyên truyền, vận động nông dân phát huy truyền thống
đoàn kết, hợp tác, tương trợ, thương yêu đùm bọc “lá lành đùm lá rách”,
giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, thoát nghèo,
tương trợ, giúp đỡ nhau huy động vốn, phương tiện kỹ thuật cho trồng lúa,
nuôi gia súc, gia cầm, nuôi, trồng, đánh bắt thủy, hải sản; phối hợp chặt chẽ
với các hợp tác xã, các chủ doanh nghiệp làm tốt công tác dịch vụ cung ứng
giống, vốn, vật tư, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, thức ăn gia súc, gia
cầm, thuốc bảo vệ động, thực vật; kiểm tra, giám sát hoạt động lãnh đạo
của cấp ủy đảng, hoạt động quản lý của chính quyền trong quá trình xây
dựng NTM; chủ động xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án nhằm
phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành xây dựng các chương trình đẩy mạnh
các hoạt động tư vấn, hỗ trợ, dịch vụ và dạy nghề cho nông dân; tham gia
giải quyết việc làm cho nông dân, dạy nghề cho nông dân để chuyển nghề,
xuất khẩu lao động và tích cực hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế
tập thể trong nông nghiệp, nông thôn.
4.2.5. Chú trọng lãnh đạo huy động các nguồn lực xã hội cho
xây dựng nông thôn mới
Một là, lãnh đạo vận dụng linh hoạt chính sách của Trung ương và đề
ra các cơ chế nhằm huy động các nguồn lực xã hội cho sự nghiệp xây dựng
NTM ở địa phương. Hai là, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phân chia nguồn vốn phù
hợp trong xây dựng NTM. Ba là, lãnh đạo huy động đa dạng mọi nguồn lực
cho xây dựng NTM, nhất là của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn.
4.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; coi trọng công
tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo xây dựng

giữa các cơ quan chức năng trong tham mưu giúp cấp ủy thực hiện nhiệm
vụ kiểm tra việc lãnh đạo xây dựng NTM; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa
ủy ban kiểm tra của cấp ủy các cấp với các sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ
quan trong lĩnh vực tư pháp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra; phối hợp giữa
kiểm tra của Đảng với hoạt động thanh tra của Nhà nước; giải quyết dứt
điểm những việc phát sinh phức tạp ở các địa phương, cơ sở.
Tỉnh ủy lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương tiến hành công
tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, rút ra kinh nghiệm cần thiết và phổ biến những
cách thức thực hiện, phương pháp đã sử dụng có hiệu quả cao trong xây dựng
NTM, đồng thời tìm ra những cách làm mới có hiệu quả để khái quát thành lý
luận và tiếp tục chỉ đạo thực tiễn. Việc sơ kết, tổng kết phải đánh giá, khẳng
định rõ những ưu điểm, kết quả, thành tựu và những hạn chế, khuyết điểm, yếu
kém trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và tổ chức xây dựng NTM; xác
định đúng những nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan; đúc kết
những kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý xây dựng NTM; xác định phương
hướng, giải pháp phát huy những thành tựu, ưu điểm, khắc phục những hạn
chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, tổ chức xây dựng NTM.
4.2.7. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương đối với
các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong xây dựng nông thôn mới
Một là, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo,
kiểm tra, giám sát các tỉnh thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng về
xây dựng NTM. Hai là, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương tăng cường
hướng dẫn, giúp đỡ sự nghiệp xây dựng NTM ở ĐBSH. Ba là, tranh thủ sự
giúp đỡ của Ban Dân vận Trung ương. Bốn là, phát huy vai trò của Ủy ban
Trung ương MTTQ Việt Nam, cơ quan Trung ương của tổ chức CT-XH trong
xây dựng NTM ở các tỉnh ĐBSH.
22


KẾT LUẬN

thành phong trào sâu rộng, lan tỏa; hợp tác giữa Việt Nam và các nước
trong lĩnh vực nông nghiệp được đẩy mạnh; sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học và công nghệ mở ra cơ hội ứng dụng các thành tựu mới trong
phong trào xây dựng NTM.
Bên cạnh nhiều yếu tố thuận lợi cơ bản, quá trình lãnh đạo xây
dựng NTM ở vùng ĐBSH cũng gặp những khó khăn, thách thức: lao động
và việc làm cho nông dân trở thành vấn đề nan giải trong xây dựng NTM;
năng lực lãnh đạo của tỉnh ủy đối với sự nghiệp xây dựng NTM chưa đáp
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status