BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VI THỊ YẾN QUỲNH
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VI THỊ YẾN QUỲNH
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỊA BẢN TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS.TRẦN QUANG HUY
Luật Đất đai
TCĐĐ
Tranh chấp đất đai
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
UBND
Uỷ ban nhân dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu ..............................................................................................2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..............................................................................3
4. Mục tiêu nghiên cứu ...............................................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ...........................................................5
7. Bố cục của luận văn ................................................................................................5
Chương 1. CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA ....................................7
1.1. Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp .....7
1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai, tranh chấp quyền sử dụng đất nông
nghiệp ............................................................................................................ 7
SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ............................................. 68
3.1. Đánh giá chung về tình hình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nông
nghiệp trong thời gian qua ........................................................................................68
3.2. Những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền
sử dụng đất nông nghiệp ...........................................................................................69
3.2.1. Về lãnh đạo, chỉ đạo ........................................................................... 69
3.2.2. Bất cập trong quy định của pháp luật .................................................. 69
3.2.3. Việc hòa giải còn mang tính hình thức................................................ 72
3.2.4. Vướng mắc trong cơ chế phối hợp giữa các cơ quan........................... 73
3.2.5. Khó khăn trong việc tổ chức thực hiện ............................................... 74
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất nông nghiệp................................................................................................79
3.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử ... 79
3.3.2. Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nông
nghiệp………………………………………………………………………..79
3.3.3. Tăng cường bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thực
hiện công tác giải quyết tranh chấp đất đai ................................................... 82
3.3.4. Tổ chức tuyên truyền pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng
dất nông nghiệp ............................................................................................ 86
3.3.5. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan .......................................... 87
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 89
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thực tiễn xã hội ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trên
các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, tất yếu cũng nảy sinh nhiều sự vụ,
không chỉ là tài sản có giá trị cao mà còn là tư liệu sản xuất quan trọng.
Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề này, và đã có nhiều dành nhiều thời
gian chỉ đạo, xem xét, giải quyết và giải quyết dứt điểm được nhiều vụ việc
tranh chấp đất đai. Tuy nhiên trên thực tế vẫn tồn tại bất cập trong quá trình
giải quyết tranh chấp làm cho vụ việc tranh chấp trở nên phức tạp, khó khăn,
bị dây dưa, kéo dài trong nhiều tháng, nhiều năm vụ việc không giải quyết dứt
điểm làm ảnh hưởng nhiều đến hiệu lực quản lý nhà nước và quyền lợi ích
hợp pháp chính đáng của công dân bị tổn thương, xâm hại.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết liên
quan đến đề tài tranh chấp đất đai dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, mục
đích nghiên cứu khác nhau và dẫn đến quan điểm khác nhau, kết quả nghiên
cứu khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề. Có
rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tranh chấp đất đai như:
Các luận văn, luận án: “Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất theo
Luật Đất đai năm 2003 và Bộ luật Dân sự năm 2005”, Luận văn thạc sỹ luật
học của Nguyễn Văn Phước (2007), Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.
Luận án tiến sĩ của Mai Thị Tú Oanh với đề tài “Tranh chấp đất đai và giải
quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án ở nước ta” năm 2013.
Các bài báo cáo tham luận: Bài viết “Các giải pháp nhằm hạn chế tranh
chấp phát sinh khi thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa hiện nay” của tác giả Lê Đức Thịnh. Báo cáo tham luận “Tranh
chấp đất đai và khiếu kiện kéo dài: Những nguyên nhân có tính lịch sử” của
TS. Nguyễn Quang Tuyến tại hội thảo “Tình trạng tranh chấp và khiếu kiện
đất đai kéo dài.
Các bài đăng trên tạp chí: Bài viết “Bàn về khái niệm tranh chấp đất đai
trong Luật đất đai 2003” đăng trên Tạp chí Khoa học pháp luật số 2 (33) năm
2006 của Lưu Quốc Thái, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.
2
chấp về quyền sử dụng đất nông nghiệp, các loại tranh chấp đất đai khác sẽ
3
không được đề cập đến trong luận văn, tuy nhiên cũng có sự so sánh giữa
tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp với các loại tranh chấp khác để
làm nổi bật đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp.
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về tranh chấp quyền sử
dụng đất nông nghiệp trên cơ sở nền tảng lý luận về tranh chấp đất đai đã có
và các công trình nghiên cứu có liên quan.
Luận văn nghiên cứu các quy định về tranh chấp quyền sử dụng đất
nông nghiệp trong Luật đất đai qua các thời kỳ, văn bản hướng dẫn thi hành
Luật đất đai qua các thời kỳ. Bên cạnh đó, Bộ Luật dân sự và Bộ luật tố tụng
dân sự cũng được nghiên cứu để giải quyết những mục tiêu của luận văn.
Thực trạng giải quyết tranh chấp quyền dụng đất nông nghiệp sẽ được
xem xét và nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
4. Mục tiêu nghiên cứu
- Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ khái niệm tranh chấp đất đai, tranh chấp
quyền sử dụng đất nông nghiệp và giải quyết tranh chấp về QSDĐ nông
nghiệp cũng như các khái niệm khác có liên quan, để từ đó phân tích đặc điểm
của tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp, nguyên nhân và hậu quả của
tranh chấp đất đai và xác định vai trò giải quyết tranh chấp của các cơ quan.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp, tranh
chấp QSDĐ và cơ chế giải quyết tranh chấp.
- Thứ hai, nghiên cứu các yếu tố chi phối việc giải quyết tranh chấp
QSDĐ nông nghiệp, căn cứ đánh giá hiệu quả và các yếu tố quyết định hiệu
quả của việc giải quyết tranh chấp đất đai tại toà án.
- Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh
chấp QSDĐ nông nghiệp hiện nay. Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn áp dụng
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp quyền sử dụng đất nông
nghiêp và pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn
5
Chương 3: Những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh
chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp
6
Chương 1. CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
1.1. Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp quyền sử dụng đất
nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai, tranh chấp quyền sử dụng đất
nông nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
TCĐĐ là một hiện tượng mâu thuẫn, xung đột nhau về quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt về đất đai trong đời sống xã hội. Tuỳ
thuộc vào bản chất của xã hội ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau mà TCĐĐ giữa
các chủ thể cũng khác nhau. Trong xã hội tồn tại lợi ích giai cấp đối kháng thì
nữa, các tranh chấp có liên quan đến QSDĐ của NSDĐ (gồm tranh chấp tài
sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng giao dịch QSDĐ) cũng đã từng
được định danh cụ thể trong một số văn bản hướng dẫn về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp liên quan đến đất đai với tên gọi là “tranh chấp liên quan đến
QSDĐ”, chứ không phải là TCĐĐ một cách chung chung1.
Quan điểm cho rằng TCĐĐ là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ
đất đai bao gồm tranh chấp về QSDĐ, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất,
tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính, mục đích sử dụng đất... Quan
điểm này được nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết chấp nhận, vì quan
điểm nay phù hợp với các quy định về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh
chấp đất đai ở nước ta hiện nay2.
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội thì:
“Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về
quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất
đai”. Theo Sổ tay Thuật ngữ Pháp lý thông dụng: “Tranh chấp đất đai:
Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về
quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai”. Như vậy, xét
1
Lưu Quốc Thái (2006), “Bàn về khái niệm tranh chấp đất đai trong Luật đất đai năm 2003”, Tạp chí Khoa
học pháp luật (4), tr.33.
2
Trương Thế Côn (2012), “Những bất cập trong quy định của pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh
chấp đất đai”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (3), tr.46.
8
về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu nước ta quan niệm TCĐĐ là những bất
đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất trong quá trình sử dụng
đất giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân
này. Việc quy định thiếu cụ thể như vậy khiến nhiều trường hợp nhầm lẫn
giữa tranh chấp với khiếu nại, tố cáo đất đai.
Để phân biệt rõ TCĐĐ với khiếu nại, tố cáo về đất đai, có thể định
nghĩa: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi
ích, về quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa các chủ thể tham quan hệ pháp
luật đất đai.
Các dạng TCĐĐ hiện nay rất phong phú, đa dạng, nhiều khi đan xen
lẫn nhau. TCĐĐ có thể chia làm hai loại lớn là đất đang có tranh chấp cần xác
định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp và TCĐĐ trong đó người sử
dụng đất đã sử dụng hợp pháp, tranh chấp phát sinh trong quá trình người đó
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Nhưng trong thực tế thì ngoài việc
tranh chấp phát sinh từ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất còn có cả
các tranh chấp phát sinh từ các tài sản gắn liền với đất, tranh chấp hợp đồng,
giao dịch khác về QSDĐ, tranh chấp về mục đích sử dụng đất, tranh chấp về
địa giới hành chính. Nhìn chung, có thể hiểu TCĐĐ ở nước ta gồm tranh chấp
QSDĐ và các tranh chấp tài sản liên quan đến QSDĐ. Hiện nay ngành tòa án
nước ta vẫn thống kê các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất vào mục
TCĐĐ nói chung.
1.1.1.2. Khái niệm tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp
TCĐĐ gồm tranh chấp QSDĐ và tranh chấp tài sản liên quan đến
QSDĐ. Tuy nhiên, trong Luật Đất đai năm 2013 lại không có khái niệm hay
định nghĩa nào về tranh chấp về QSDĐ, cho nên thế nào là tranh chấp về
QSDĐ là hoàn toàn phụ thuộc vào cách hiểu của các bên có liên quan và đặc
biệt là của cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trước hết, để có thể hiểu rõ về nội hàm của khái niệm tranh chấp
QSDĐ cần biết được QSDĐ là gì và được pháp luật quy định như thế nào? Ở
nước ta, Luật Đất đai năm 2013 khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước đại diện và thống nhất quản lý. Nguyên tắc đất đai
thực cho mình. Để đảm bảo các quyền trên của NSDĐ được thực hiện trên
4
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
tr. 59.
11
thực tế, pháp luật nước ta cũng xác lập tiền đề và điều kiện để QSDĐ của mỗi
người dân được đảm bảo.
Nhìn chung, có thể hiểu QSDĐ là chỉ những khả năng của một chủ thể
được thực hiện hoặc được hưởng những quyền nhất định khi khai thác và sử
dụng đất để phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của đời sống xã hội. Những
quyền đó được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế. Luật Đất
đai 2013 có ghi nhận các quyền của người sử dụng đất trong đó có những
quyền chung và quyền riêng, cụ thể:
Tại Điều 166, Luật Đất đai 2013 quy định những quyền chung của
người sử dụng đất, theo đó thì người có QSDĐ hợp pháp có quyền khai thác
công dụng và hiệu quả của đất. Họ được hưởng thành quả lao động, kết quả
đầu tư trên đất được Nhà nước hỗ trợ (thông qua việc hưởng lợi từ các công
trình Nhà nước); Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất;
đồng thời được Nhà nước bảo hộ QSDĐ khi bị người khác xâm phạm đến
quyền sử dụng đất hợp pháp của mình. Điều 167, Luật Đất đai 2013 quy định
về những quyền cụ thể người sử dụng đất có thể có được, đó là quyền chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền
thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ; được quyền bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất. Như vậy, khi có tranh chấp về những quyền nêu trên thì đó
là tranh chấp về QSDĐ.
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê
lại QSDĐ và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ;
- Tranh chấp về thừa kế QSDĐ;
- Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất.
Như vậy theo suy luận logic thì tranh chấp về QSDĐ sẽ bao gồm ba
loại:
- Tranh chấp về việc ai là người có QSDĐ (thực chất là tranh chấp
QSDĐ hay cụ thể hơn là kiện đòi đất đang bị người khác chiếm giữ, tranh
chấp mốc giới);
5
Tưởng Duy Lượng (2007), “Giải quyết ở cơ sở khi có tranh chấp quyền sử dụng đấp theo Luật đất đai năm
2003”, Tạp chí Tòa án nhân dân (4), tr.23-26
13
- Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê
lại QSDĐ và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị QSDĐ;
- Tranh chấp thừa kế QSDĐ.
Việc hiểu và vận dụng thuật ngữ “tranh chấp về quyền sử dụng đất”
theo hướng này là hợp lý cả về vấn đề logic ngôn ngữ và thực tiễn. Tuy nhiên,
trên thực tế có thể thấy tranh chấp QSDĐ bao gồm những loại phổ biến sau:
- Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ: tranh chấp này
là loại tranh chấp phổ biến, có số lượng nhiều và phức tạp nhất. Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, thường là
do hợp đồng chuyển nhượng không được xây dựng chặt chẽ, đất không được
phép chuyển nhượng, một hoặc cả hai bên không thực hiện đúng các điều
khoản của hợp đồng.
- Thứ hai, tranh chấp về ranh giới giữa những thửa đất được phép quản
Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh
những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, TCĐĐ còn mang những
đặc trưng riêng khác với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp
kinh tế…Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện sở hữu.
Đối tượng của TCĐĐ là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát
sinh từ quá trình sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu
của các bên tranh chấp. Chủ thể của TCĐĐ chỉ có thể là chủ thể của quyền
quản lý và QSDĐ mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. QSDĐ
của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của
Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể
khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với diện
tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của TCĐĐ là các tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý hoặc sử dụng đất.
- Thứ hai, nội dung của TCĐĐ rất đa dạng và phức tạp. Hoạt động
quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong
phú với việc sử dụng đất và nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu
sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất
15
không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Đất đai
đã trở thành một loại hàng hóa đặc, biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến
động theo quy luật cung cầu trên thị trường nên việc quản lý và sử dụng nó
không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá
trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh QSDĐ). Tất nhiên, khi
nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu
thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay
gắt và trầm trọng hơn.
chấp đất đai việc hòa giải được ưu tiên và cũng đạt được tỉ lệ hòa giải cao do
áp dụng những tâp quán, đạo đức đó vào việc hòa giải6.
- Người sử dụng đất nông nghiệp có xu hướng lựa chọn giải quyết tranh
chấp ở cơ quan hành chính trước khi khiếu kiện ra Tòa án. Nguyên nhân một
phần là do việc khởi kiện ra Tòa án sẽ phải mất án phí, hoặc mất thêm chi phí
thuê luật sư. Việc chi một khoản tiền để giải quyết tranh chấp đất đai đối với
nhiều người nông dân là việc tương đối khó khăn, do đó người sử dụng đất
nông nghiệp thường có xu hướng lựa chọn cơ quan hành chính Nhà nước là
UBND để giải quyết tranh chấp để tránh mất nhiều chi phí, trong trường hợp
tranh chấp bắt buộc phải ra Tòa án, họ mới quyết định lựa chọn con đường tố
tụng.
- Tranh chấp QSDĐ nông nghiệp khó giải quyết do đa phần các tranh
chấp xảy ra là tranh chấp đòi lại đất cũ trước kia của ông cha. Sau cải cách
ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp.
Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản
xuất tập thể, quản lý tập trung. Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân
được tập trung vào hợp tác xã. Sau này, khi Hợp tác xã tan rã, người dân tranh
giành nhau lại đất đã góp vào hợp tác xã, do trải qua nhiều thời kỳ thực hiện
chính sách đất đai, hồ sơ tài liệu phân tán, hiện trạng đất thay đổi nên rất khó
để giải quyết tranh chấp thuộc dạng này. Bên cạnh đó, đất nông nghiệp ở
nông thôn thường hay đến mồ mả, nhà thờ dòng họ…do đó việc giải quyết
tranh chấp trở nên rất nhạy cảm, khó giải quyết và bị khiếu kiện nhiều lần.
6
Nguyễn Quang Quyến, Nguyễn Hải An, Nguyễn Thị Hường và các công sự (2013), Báo cáo nghiên cứu
Hòa giải tranh chấp đất đai tại Việt Nam phân tích pháp luật hiện hành, các thực tiễn và khuyến nghị cho cải
cách, tr.21.
17