Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay nhu cầu nuôi chó làm cảnh ngày càng phát triển, bên cạnh đó chó không chỉ
là vật nuôi mà còn là người bạn thân thiết, gần gũi và trung thành của con người chính
vì thế việc chăm sóc nuôi dưỡng và ngăn ngừa các bệnh thường gặp cho chó là rất quan
trọng.
Ngày nay, cùng với sự gia tăng về số lượng cũng như chủng loài, thì tình hình dịch
bệnh trên chó cũng ngày càng phổ biến, đa dạng và phức tạp hơn. Như chúng ta đã
biết, hệ tiêu hóa là một hệ thống mở hoàn toàn từ miệng đến trực tràng, và đây cũng là
con đường mầm bệnh dễ dàng tấn công. Trong các loại bệnh thường xảy ra trên chó
thì bệnh tiêu hóa thường xảy ra nhất và chiếm tỷ lệ cao. Do vậy, việc chẩn đoán và
điều trị bệnh đường tiêu hóa trên chó ở bệnh xá thú y rất phổ biến và quan trọng.
Đi từ thực tiển nói trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “kết quả chẩn đoán lâm sàngvà
điều trị các bệnh tiêu hóa của chó tại bệnh xá thú y trường Đại học Cần Thơ”.
Đề tài được thực hiện với mục đích:
Thu thập sơ bộ các biểu hiện của chó bệnh đường tiêu hóa, từ đó làm cơ sở để chẩn
đoán xác định bệnh tiêu hóa xảy ra trên chó.
Thông qua kết quả chẩn đoán lâm sàn trên chó để phân loại bệnh đường tiêu hóa.
Xác định hiệu quả điều trị bệnh đường tiêu hóa trên chó tại bệnh xá thú y trường Đại
học cần thơ thông qua các phác đồ điều trị bệnh.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
1
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
nhà rất giỏi, tiếng sủa lớn và dài, dám lăn xả vào kẻ thù mà cắn xé, chó Fox không kén
ăn lại ăn rất ít nên được nhiều người yêu thích.
2.1.2.2. Chó Bắc Kinh
Đây là giống chó rất quí hiếm , được nhiều người trên thế giới yêu thích.
Chó có đầu khá to, dẹp có bộ lông dài phủ kín nên trông giống đầu sư tử nên còn được
gọi là “chó sư tử”. Giống chó này mũi gãy, mõm rất ngắn, hàm rộng, mắt to và lồi tạo
nên cho chó một vẻ rất riêng ngộ nghĩnh đáng yêu. Giống chó này rất hiền, dễ dạy
mến chủ tuy nhiên chúng có nhược điểm là nuôi con kém.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
2
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
2.1.2.3. Chó Nhật
Theo Việt Chương và Phan Thi (2005). Pediree - cẩm nang nuôi dạy chó, (số 3) thì
chó Nhật có thân hình nhỏ nhắn, mảnh mai xinh xắn, bộ lông dài và mượt không xoăn
và trông có vẻ sạch sẽ nên được nhiều người thích nuôi. Chó Nhật có chân nhỏ, đầu
nhỏ, tai hình tam giác hơi nghiêng ra phía trước và rủ xuống, mũi gãy nhưng mõm dài
tương đối nên mặt trông xinh xắn dễ coi.
Giống chó này rất nhanh nhẹn vui tính và dễ dạy, chó Nhật sinh sản khá tốt và nuôi con
giỏi.
2.1.2.4. Chó Chihuahua
Ở nước ta, chó còn được gọi là chó “Fox hươu” vì chó trông nhỏ nhưng có hình dáng
giống như con hươu thu nhỏ, Chihuahua được nưôi từ rất lâu ở nước ta làm cảnh.
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm, đầu, ngực va bốn chân có màu vàng
sẫm. Đầu hình nêm, mũi phân thuỳ, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen răng to,
khớp răng cắn khít. Cổ chắc, xiên đến vạch lưng, ngực nở hình ôvan, u vai lồi đến
vạch lưng, lưng chắc, rộng, có độ dốc về phía sau, bụng thon hẳn, đuôi dài hình lưỡi
kiếm.
Các chi có cơ gân chắc khoẻ, chân trước thẳng đứng, chân sau hơi choãi về phía sau.
Trong điều kiện Việt Nam chó đực có thể phối giống khi 24 tháng tuổi, chó cái có thể
sinh sản 18-20 tháng tuổi. Chó cái sinh sản mỗi năm 2 lứa, mỗi lứa 4-8 con nhưng
thướng là 6 con. Chó trưởng thành thông minh và tinh khôn, đánh hơi giỏi,dũng cảm
và trung thành.
2.2. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ TIÊU HOÁ CỦA CHÓ
Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Trương Chí Sơn (2000).
2.2.1. Cơ Quan tiêu Hoá
Cơ quan tiêu hoá của chó gồm:
Các Cơ Quan
Miệng
Cấu Tạo
Gồm lưỡi và răng
Nhiệm Vụ
Lưỡi có nhiều niêm mạc, nhiều tế
bào thần kinh vị giác, răng dùng để
cắn xé và nhai thức ăn.
.
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
dạ dày theo thực quản. Nước bọt có các muối vô cơ, các chất hữu cơ, các men tiêu hoá
( enzyme) như amylaze thuỷ phân tinh bột.
2.2.2.2. Tiêu Hoá Ở Dạ Dày
Ở dạ dày thức ăn được tiêu hoá theo hai quá trình sinh học và cơ học.
Tiêu hoá bằng hóa học chủ yếu là tác động của dịch vị. Dịch vị có chất vô cơ HCL (
acid chlohydric ), các chất hữu cơ, chất nhầy muxi, nguyên men Pepsinogen, men
Prezura, men Lipaza.
Pepsinogen nhờ có HCL xúc tác biến thành Pepsin hoạt động, phân huỷ các chất protit
thức ăn thành polypeptit.
Prezura thường thấy ở dạ dày con vật còn đang bú sữa, có tác dụng tiêu hoá đạm của
sữa.
Lipaza phân huỷ những hạt mỡ đã nhũ tương hoá thành glycerol vá acid béo.
HCL có tác dụng biến Pepsinogen thành pepsin hoạt động, ngăn thức ăn khỏi lên men
thối trong dạ dày, điều khiển sự đống mở van hạ vị, gián tiếp kích thích tuỵ tạng tiết
dịch tuỵ.
Kết quả thức ăn váo dạ dày chó, biến thành chất nhuyễn gọi là dưỡng chất. Dưỡng
chất gồm có những chất bột đã chín tiêu hoá dở tiếp tục tiêu hoả ở dạ dày thành đường
Maltose.
Chất protit vào dạ dày được thuỷ phân thành Polypeptic và một số acid amin. Cũng ở
dạ dày một số rất ít Lipit đựơc tiêu hoá.
2.2.2.3. Tiêu hoá ở ruột non
Niêm mạc ruột non có 2 loại tuyến có nhiêm vụ tiết dịch ruột: Tuyến Brunner,
Liberkiihe.
Dich ruột mang tính kiềm (pH=7,4-7,7) gồm có các chất vô cơ và chất hữu cơ ( chất
nhầy, men maltaza lactaza, saccharaza, amylaza…)
Tham gia tiêu hoá ở ruột non có gan và tuỵ tạng, tuỵ tạng tiết dịch tuỵ gồm các chất vô
cơ và chất hữu cơ như: amylapsin nguyên men trysinogen men lipaza và maltaza.
Phân gồm những chất cặn bã của quá trình tiêu hoá thức ăn, các biểu mô của niêm mạc
bong ra, các muối và vi sinh vật,….
2.3. KHÁI NIỆM VỀ TIÊU CHẢY VÀ NÔN
Vũ Triệu An (1991)
Tiêu chảy
Tiêu chảy là tình trạng tăng số lần đại tiện với tăng thể tích và khối lượng phân, tăng
mất nước và chất điện giải theo phân do tổn thương khả năng hấp thu nước của ruột.
tiêu chảy xảy ra khi:
Tăng quá nhiều chất hấp thu, làm áp lực thẩm thấu trong ruột cao hơn trong máu và tổ
chức, sẽ kéo nước ra ngoài lòng ruột. Xảy ra khi có viêm ở ruột do các nguyên nhân
khác gây nên như nhiễm khuẩn, ngộ độc. Khi này tiết dịch nhày của ruột với nước có
thể tăng gấp 80 lần bình thường.
Giảm hấp thu do rối loạn tiêu hóa. Như trên đã thấy, lượng nước tiết dịch mỗi ngày
trong toàn bộ ống tiêu hóa có thể tăng lên đến 10 lít mà phần lớn được tái hấp thu tại
ruột. Vậy chỉ cần khả năng hấp thu của ruột giảm đi một phần thì lượng chất lỏng có
trong ruột cũng rất lớn.
Tăng co bóp ruột do tăng các chất phải hấp thu hay do giảm hấp thu nên lượng các chất
có trong lòng ruột quá nhiều, sẽ kích thích ruột tăng co bóp nhanh chóng đẩy các chất
ra ngoài, gây nên tiêu chảy. Nhưng cũng có trường hợp hoàn toàn do rối loạn co bóp
của ruột như khi bị kích thích do viêm phúc mạc, u manh tràng hay do rối loạn thần
kinh như cường phó giao cảm. Khi nảy tình trạng tăng co bóp có thể tăng tiết dịch,
giảm hấp thu dẫn đến tiêu chảy.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
6
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
ẩm cao.
Nguyên nhân
Vương Đức Chất – Lê Thị Tài (2004).
Bệnh do virus có nhân RNA thuộc nhóm Paramyxo gây nên. Tất cả các giống chó đều
mắc bệnh. Bệnh thường xảy ra ở chó 2-12 tháng tuổi, đặc biệt chó con 3-4 tháng tuổi
dễ nhiễm bệnh hơn và tỷ lệ chết 90-100%, tuy nhiên chó đang bú mẹ ít gặp bệnh
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
7
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Carre, vì chó con thu được miễn dịch thụ động qua sữa mẹ. Chó mẹ có miễn dịch do
tiêm phòng hoặc tiếp xúc với mầm bệnh trong tự nhiên.
Chó bệnh là nguồn lây lan chủ yếu, chó thải virus ra ngoài qua dịch mũi, nước mắt,
nước bọt, nước tiểu và phân, thức ăn, nước uống là nguồn tàng trữ virus. Người, chuột
và động vật khác là môi giới trung gian truyền bệnh. Chó trưởng thành nhiễm virus
nhưng không phát bệnh, mà trở thành nguồn tàng trữ virus nguy hiểm nhất.
Triệu chứng
Biểu hiện bệnh canine distemper rất đa dạng, tùy thuộc vào tuổi chó, giống chó, tình
trạng sức khỏe, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và độc lực của mầm bệnh.
Thời gian nung bệnh của chó từ 4-6 ngày.
Đầu tiên ở chó xuất hiện các triệu chứng chung: Chó buồn bã, ủ rũ, ăn ít, không thích
vận động, gan bàn chân bị chai.
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Nếu bệnh kéo dài chó biểu hiện triệu chứng thần kinh: Chó co giật, điên loạn, quay
cuồng, sùi bọt mép, đâm sầm vào tường. Chó chết nhanh với tỷ lệ cao.
Bệnh tích
Phạm Sỹ Lăng và ctv (2006). Phạm Ngọc Thạch (2006).
Xác chết thường gầy, hố mắt trũng sâu, niêm mạc mũi, miệng viêm cata, đỏ mọng,
sưng dầy lên, có nhiều chất nhớt, lỏng hay hơi đặc.
Mổ khám chó bệnh thấy: Các niêm mạc đường hô hấp xung huyết và xuất huyết, não bị
xung huyết, phổi xưng, bên trong có mủ lẫn máu và dịch nhầy. Niêm mạc ruột, dạ dày
có nhiều điểm xuất huyết, có khi bị bào mỏng, trong ruột chứa máu màu cà phê. Thành
ruột có những điểm loét màu nâu sẫm. Lách sưng có nhồi huyết ở rìa. Gan sưng, xuất
huyết, có khi xuất huyết thành vệt hoặc thành những điểm bằng hạt đậu, hạt ngô. Tim
nhão, lớp vỏ vành tim đôi khi bị xuất huyết. Niêm mạc bàng quang đôi khi bị xuất
huyết.
Chẩn đoán
Vương Đức Chất – Lê Thị Tài (2004).
Nếu bệnh phát ra điển hình, đặc biệt ở chó chưa tiêm phòng, chó con, có đủ hội chứng
tiêu hóa, hô hấp và mụn loét ở da…thì dễ nhận biết bệnh. Qui luật sốt là một trong
những chỉ tiêu quan trọng của bệnh canine distemper. Cần chẩn đoán phân biệt với các
bệnh sau đây:
Bệnh viêm phổi: Chó thường mắc khi thời tiết thay đổi, gió mùa đông lạnh, mắc ở tất
cà các lứa tuổi, chó sốt cao, khó thở, khò khè. Điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu với
bệnh hô hấp trong thời gian 5-7 ngày điều trị chó sẽ trở lại bình thường.
Bệnh tiêu chảy: Tiêu chảy do nhiễm khuẩn hoặc do thức ăn không vệ sinh, chó có thể
có sốt hoặc không sốt, tiêu chảy phân loãng nhưng không có máu. Điều trị bằng kháng
sinh đặc hiệu kết hợp với dung dịch điện giải, bệnh thuyên giảm dần và sau 5-10 ngày
điều trị chó sẽ trở lại bình thường.
Bệnh tiêu chảy do virus parvo: Nếu chỉ bằng triêu chứng lâm sàn rất khó nhận biết là
cảnh và chó nghiệp vụ. Hai loại vaccine mới nhập từ CH Tchec là Biocan DHHi
phòng năm bệnh cho chó: bệnh canine distemper, bệnh viêm phổi do Adenovirus, bệnh
viêm gan do virus, bệnh ỉa chảy do parvvirus, bệnh cúm do virus và Biocan puppy
phòng hai bệnh: Bệnh canine distemper và bệnh ỉa chảy do Parvovirus đã được sử
dụng có hiệu quả. Sau khi tiêm 15 ngày, chó có miễn dịch kéo dài 12 tháng với các
bệnh trên. Tuy nhiên vacine chưa được sử dụng rộng rãi cho chó do giá thành cao.
Thực hiện vệ sinh thú y
Khi phát hiện chó bị bệnh canine distemper thì phải cách ly triệt để, điều trị kịp thời
bằng kháng huyết thanh hoặc xử lý nếu không chữa được để tránh lây sang chó khỏe.
Chó chết do bệnh canine distemper không giết thịt, phải chôn sâu và rắc vôi bột vào hố
chôn.
Chuồng trại và môi trường nuôi thả phải được vệ sinh định kỳ, hạn chế môi giới truyền
bệnh và tránh ô nhiễm bằng phun thuốc sát trùng VIM.IODIN hoặc HAN.IODIN – 5%,
nước vôi 10%
2.4.2. Bệnh ỉa chảy do Parvovirus (canine parvovirus)
Phạm Sỹ Lăng và ctv (2006).
Parvovirus là nhóm virus có kích thước nhỏ, hây bệnh cho nhiều loài thú (chó, mèo,
chuột, lợn, trâu, bò). Parvovirus ở mỗi loài động vật khác nhau có kháng nguyên khác
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
10
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Chẩn đoán
Rất khó phân biệt giữa bệnh carre và parvovirus, bởi vì cả hai bệnh này đều xảy ra ở
chó con và ỉa chảy ra máu, nhưng hai bệnh này có một số đặc điểm khác nhau:
Trong bệnh carre phân thường có máu cà phê, còn bệnh parvovirus phân có máu hồng.
Bệnh carre có dấu hiệu thần kinh và các mụn mủ ở da.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
11
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Điều trị
Bổ sung nước và chất điện giải cho cơ thể: Truyền nước sinh lý hay sinh lý mặn ngọt,
hoặc dung dịch ringer lactate để chống hiện tượng suy sụp do ỉa chảy, trợ sức bằng
vitamin B1.
Dùng thuốc chống nôn bằng Atropin sunfal 0,1%.
Dùng thuốc nâng cao sức đề kháng cho cơ thể và bền vững thành mạch để chống chảy
máu: tiêm canxi clorua 10% và votamin C, kết hợp tiêm vitamin K.
Thụt rữa ruột bằng thuốc tím loãng (0,1%) để thải chất độc ra ngoài.
Chống vi khuẩn bội nhiễm bằng kháng sinh như: Streptomycin, Kanamycin….
Phòng bệnh
Dùng vaccine phòng bệnh parvovirus tiêm cho chó. Cần lưu ý là khác với nhiều loại
vaccine khác, vaccine parvovirus không có hiệu lực cao. Vì vậy để nâng cao hiệu lực
của vaccine, cần chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đặc biệt là chế độ vệ sinh ăn uống.
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Sự phát triển của Ancylostoma trong ruột chó đến giai đoạn trưởng thành kéo dài 14 –
16 ngày. Thời gian sống của chúng trong cơ thể là từ 8 – 20 tháng.
Đặc điểm
Phạm Ngọc Thạch (2006).
Bệnh giun móc là một trong những bệnh về giun tròn gây thiệt hại nhiều nhất cho chó.
Chó nhiễm bệnh giun móc biểu hiện các triệu chứng lâm sàng đặc trưng: thiếu máu,
viêm ruột cấp và mãn tính có kèm theo chảy máu ruột.
Đặt biệt chó non từ 2-4 tháng tuổi. Khi mắc bệnh thì chó chết với tỷ lệ cao (50 – 80%).
Bệnh giun móc xảy ra quanh năm ở chó, nhưng thường gặp bệnh nhiều nhất vào cuối
mùa xuân và mùa thu ở nước ta, là thời gian có mưa nhiều, ẩm ướt, thời tiết ấm áp.
Nguyên nhân
Ancylostoma caninum là một trong những giun tròn có sức gây bệnh mạnh do hai yếu
tố cơ bản: Tác dụng cơ học và ảnh hưởng của độc tố.
Ký sinh vật có bao miệng phát triển lại được trang bị bởi các mảnh kitin, nhờ vậy mà
giun có thể bám chắc vào miêm mạc ruột và gây chảy máu mao mạch. Khi bám vào
ruột để hút máu, giun móc còn tiết ra một chất kháng đông, làm cho hiện tượng chảy
máu kéo dài và chầm trọng hơn.
Ấu trùng giun móc khi xâm nhập qua da sẽ phá hủy các mô của cơ thể chó, có thể đưa
đến hiện tượng nhiễm khuẩn và phát sinh các bệnh truyền nhiễm khác nhau ở chó.
Trong quá trình ký sinh, giun móc tiết ra độc tố và độc tố được hấp thu vào máu gây ra
một số biến đổi về bệnh lý; Thể hiện: viêm ruột cấp và mãn tính; bần huyết kéo dài và
suy nhược cơ thể, dẫn đến tình trạng giảm khả năng sinh sản và làm việc.
Triệu chứng
Chó bị bệnh giun móc ở hai thể: cấp tính và mãn tính
Thể cấp tính:
Thường thấy ở chó non khi cảm nhiễm nặng. thể này làm cho chó chết với tỷ lệ cao.
Đặc biệt chó dưới 4 tháng tuổi có thể chết 60 – 100%. Chó bị bệnh có những thể hiện:
tính thì bệnh tích lại tập trung ở những nơi ký sinh của Ancylostoma caninum trưởng
thành.
Chẩn đoán
Phương pháp chẩn đoán chủ yếu là soi kính tìm trứng giun móc trong phân. Có thể
kiểm tra phân trực tiếp và kiểm tra phân theo phương pháp phù nổi Fiilleborn để phát
hiện trứng giun móc. Trứng giun móc có hình bầu dục, trong trứng có 6 – 8 phôi màu
xám.
Ở những chó chết nghi bị bệnh giun móc, có thể mổ khám tìm giun ký sinh ở ruột non:
phần tá tràng, không tràng và kết tràng.
Điều trị
Thể bệnh cấp tính
Nguyên tắc điêu trị: Phải tẩy giun móc cho chó bệnh kết hợp với biện pháp trợ sức,
điều trị viêm ruột.
Tẩy giun móc: Dùng Mebenvet với liều 0,6 – 1g/kg thể trọng của chó, hoặc
Mebendazol dạng viên theo liều: 60mg/1kg thể trọng.
Điều trị viêm ruột: Có thể dùng một trong những kháng sinh như: Tetraxylin,
Neomycin, Kanamycin, Norfloxaxin, Enrofloxaxin.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
14
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Điều trị thiếu máu: Dùng vitamin K, Pamba, Rutin C.
Trợ sức trợ lực: Truyền nước sinh lý mặn ngọt; cho uống dung dịch Oresol; tiêm
15
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Nguyên nhân
Toxocara canis: Đây là loài giun đũa lớn.
Giun đực dài 50 – 90mm. Giun cái 50 – 170mm. Mõm đầu của giun có ba lá môi:
không có lá môi giữa. Ở khe ba là môi chính, có màng cánh cổ. Phía sau thực quản có
đoạn phình to ra rỏ nét kiểu một dạ dày nhỏ. Cuối đuôi con đực hình thành dạng mũi
khoan.
Giun cái: âm hộ ở vào khoảng ¼ phía trước thân 2 tử cung. Trên vỏ trứng có những
nếp nhăn nhỏ mịn.
Vòng đời: Trứng phát dục tới giai đoạn ấu trùng cảm nhiễm ở môi trường tự nhiên.
Khi chó con nuốt phải trứng có ấu trùng vào cơ thể thì ấu trùng phá vỡ vỏ chui ra, tiếp
tục phát triển ở niên mạc ruột non chó con và trở thành giun trưởng thành gây bệnh cho
chó, ấu trùng của giun còn đi vào hệ tuần hoàn của chó mẹ khi chó chửa mà chuyển
vào bào thai. Do đó chó con sau khi sinh đã mang sẵn mầm bệnh trong cơ thể. Đến 21
ngày tuổi giun đã gây thành bệnh nặng cho chó con.
Một điểm quan trọng nữa là trứng giun đũa cảm nhiễm dễ gây bệnh sang người. Vì
vậy cần chú ý giữ gìn vệ sinh trong ăn uống, chăm sóc chơi đùa vuốt ve trên thân mình
chó.
Toxascaris leonina: Đây là loài giun đũa nhỏ.
Con đực dài 20 – 70mm. Giun cái dài 22 – 80mm.
Mõm đầu của T.leonina cũng giống như mõm đầu của T.canis.
ruột nổi cục lên, nhu động. Sờ tay nắm vào đây thấy có cảm giác cứng. Đó là đoạn
ruột bị nhiều giun lèn chặt. Phân thải ra ngoài sền sệt màu xám trắng, thối khẳn. Xung
quanh lỗ hậu môn, phân bị dính bết phân. Bệnh giun đũa ở chó con thường biến chứng
thành các thể bệnh khác phức tạp như:
Giun đũa nhiều gây tắc ruột, lồng ruột chó dẫn đến chết. Giun chui vào ống mật làm
cho chó bệnh đau đớn nôn khan, bỏ ăn, suy kiệt dần rồi chết.
Chó con phình bụng cóc, lớp tổ chức dưới da thủy thũng, thẩm dịch thành dạng keo
bùng nhùng, soi trên ánh sáng thấy trong như lòng trắng trứng gà. Chó con bị bệnh
giun đũa nặng, các ấu trùng do quá trình di hành trong cơ thể chó làm tổn thương các
tổ chức như: gan, thận, phổi rồi biến chứng gây thành bệnh báng nước (Ascite). Tuy
có cho chọc dò xoang bụng để hút nước ra, nhưng cũng không thể chữa khỏi bệnh, đa
số bị suy kiệt dần rồi chết.
Chẩn đoán
Kiểm tra phân theo phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun, hoặc mổ khám theo phương
pháp Srjabin tìm giun trong ruột chó.
Bảng liệt kê điểm khác nhau của hai loài trứng giun đũa chó
Đặc điểm
Toxascaris leonina
Toxocara canis
Kích thước
85 – 65
85 - 65
Hình dáng
17
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Điều trị
Sử dụng một trong các hóa dược sau đây để tẩy giun đũa cho chó;
Dùng Piperazin: Piperazin dùng liều 0,2g/kg trọng lượng của chó. Trộn thuốc vào
sữa, cháo hòa thêm ít nước đường cho riêng từng con uống hết liều. Dùng thuốc tẩy
liền hai buổi sáng, giun sẽ được tẩy sạch.
Piperazin để tẩy phòng cho chó con:
Chó con từ 1 tuần tuổi đến 21 ngày tuổi tẩy lần đầu.
Chó con 1 tháng tuổi tẩy lần 2.
Chó con 2 tháng tuổi tẩy lần 3.
Sau đó cứ 4 tháng tẩy 1 lần.
Chó lớn trên 1 năm tuổi, cứ 6 tháng tẩy giun 1 lần.
Dùng vermox ( Mebendazole ): Viên nén 100mg. Liều từ 50 – 100mg/kg thể trọng,
tùy theo tầm vóc chó, cho uống sáng chiều hai lần, liệu trình 3 ngày.
Dùng Velamisol: Liều 7mg/kg thể trọng, cho uống 1 liều duy nhất.
Dùng Ivermectin ( Hanmectin ): Tiêm cho chó theo liều 0,2 – 0,3mg/kg thể trọng;
dùng một liều
Phòng bệnh
Phác đồ chữa bệnh cho chó bệnh ở thể nặng:
Dùng thuốc tẩy giun.
Dùng thuốc trợ sức, trợ lực (thuốc trợ tim kết hợp với Vitamin B1 và Vitamin B12)
Truyền dung dịch sinh lý mặn ngọt hoặc dung dịch Ringerlactat cho chó
thành giáp mô và nha bào. Đa số các loài Samonella điếu có khả năng di động do có từ
7 – 12 lông xung quanh thân, vi khuẩn dễ nhuộm với các thuốc nhuộm thông thường,
Gram âm, khi nhuộm vi khuẩn bắt màu đều toàn thân hoặc hơi đậm ở hai đầu.
Sức đề kháng: Salmonella khó sinh sản ở trong nước nhưng có thể tồn tại một tuần,
trong nước đá có thể sống 2 – 3 tháng. Trong xác động vật chết chôn ở bùn, cát có thể
sống từ 2- 3 tháng.
Với nhiệt độ vi khuẩn có sức đế kháng yếu; 500C bị diệt sau 1 giờ; 700C trong 20 phút,
đun sôi trong 5 phút, khử khuẩn theo phương pháp Pasteur cũng bị tiêu diệt.
Ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp diệt vi khuẩn sau 5 giờ ở nước trong và 9 giờ ở nước
đục.
Các chất sát trùng thông thường cũng dễ phá hủy vi khuẩn hoàn toàn.
Độc tố: Salmonella có hai loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố
Nội độc tố của Salmonella rất mạnh, với liều thích hợp tiêm tỉnh mạch, vi khuẩn giết
chết chuột bạch, chuột lang trong vòng 48 giờ với bệnh tích đặc trưng ruột non xung
huyết, mảng payer phù nề, đôi khi hoại tử. Độc tố ở ruột gây độc thần kinh, gây hôn
mê, co giật, nội độc tố có hai loại: Loại xuung huyết và loại mụn loét.
Ngoại độc tố chỉ hình thành trong điều kiện invivo và trong nuôi cấy kỵ khí.
Ngoại độc tố tác động vào thần kinh và ruột, ngoại độc tố có thể chế thành giải độc tố
bằng cách trộn thêm 5 % focmon để ở 370C trong 20 ngày.
Tính gây bệnh: Salmonella gây cho gia súc bệnh phó thương hàn. Bình thường có
thể phát hiện Salmonella trong ruột của bò, vịt, lợn và một số động vật khỏe mạnh.
Nhưng nếu điều kiện chăm sóc quản lý không được tốt làm cho sức đề kháng của con
vật sút kém thì Samonella xâm nhập vào nội tạng và gây bệnh.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
19
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trimethoxazol 24% liều 1ml/con, tiêm bắp liên tục 7 ngày.
Chữa triệu chứng:
Atropin sulfate 0,1%: chống nôn, liều 1ml con, tiêm bắp.
Vitamin K 0,5%: 1 – 2ml/con, tiêm bắp 2 lần/ngày.
Truyền sinh lý mặn ngọt 40 – 50ml/kg thể trọng.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
20
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
2.4.6. Bệnh lỵ do Giardia Intestinalis ( Trùng Roi )
Phạm Sỹ Lăng – Phan Địch Lân (2001). Vương Đức Chất – Lê Thị Tài (2004). Phạm
Ngọc Thạch (2006).
Hình thái sinh học của mầm bệnh
Giardia Intestinalis có hình quả lê, hai phần của cơ thể đới xứng nhau, có hai nhân như
hai mắt kính, có 8 roi đi về phía sau. Chiều dài 10 -20 micromet, chiều ngang từ 6 – 10
micromet.
Bào nang hình bầu dục,có đường kính từ 8 – 12 micromet, chiều ngang từ 7 – 12
micromet. Trong bào nang có từ 2 – 4 nhân, có thể thấy một số roi trong bào nang.
Chu kỳ sinh học
Thể hoạt động của G. intestinalis sống trong lòng ruột non, đa số ở tá tràng, một số nhỏ
ở manh tràng đôi khi xâm nhập vào ống mật.
Khi gặp các điều kiện không thuận lợi, G. intestinalis sẽ trở thành bào nang. Đó chính
Chó bị ỉa chảy phân lỏng, có nhiều niêm mạc lầy nhầy và mùi tanh. Một số trường hợp
nặng thấy có máu trong phân màu nâu đen như bả cà phê do xuất huyết ở dạ dày và
ruột non. Hội chứng viêm ruột này thường kéo dài.
Ngoài ra, còn gặp một số chó bị viêm túi mật do G. intestinalis di chuyển lên gan và
mật.
Nếu không xác định rõ nguyên nhân và điều trị kịp thời chó bệnh sẽ bị chết do mất
nước, rối loạn điện giải vì nôn nhiều, không ăn uống được. Một số chó qua khỏi những
cơn kịch phát bệnh sẽ chuyển thành mãn tính kéo dài.
Chẩn đoán
Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng rất khó phân biệt với các bệnh khác.
Chủ yếu chẩn đoán bằng phương pháp ký sinh trùng học để tìm G. intestinalis thể hoạt
động và bào nang.
Điều trị
Nguyên tắc điều trị: Điều trị nguyên nhân kết hợp điều trị triệu chứng và các thuốc bổ
trợ nâng cao sức đề kháng chống bệnh.
Có thể dùng các tá dược sau để diệt mầm bệnh:
Metronidazol: Cho uống với liều 30 – 50 mg/kg thể trọng, chia làm hai lần trong ngày
cho chó uống. Uống vào sáng và chiều, liên tục 5 – 6 ngày liền. Nghỉ 5 – 6 ngày sau
đó lại cho uống liệu trình tiếp theo như trên.
Alebrin: Cho chó trưởng thành uống với liều 100mg/lần.
Chó nhỏ 10 – 20kg uống liều 70mg/lần, chó nhỏ dưới 10kg uống liều 50mg/lần. Ngày
uống 3 lần, liên tục ba ngày. Sau 7 – 10 ngày lại cho chó uống lần 2 với liệu trình trên.
Đối với mèo liều lượng bằng ½.
Điều trị kết hợp với kháng sinh chống bội nhễm viêm ruột: Có thể dùng một trong các
loại sau:
Bisepton ( Trimazol ): Cho uống liều 1g/10kg thể trọng, ngày uống hai lần.
Trimethoxazol 24%: Tiêm bắc liều 1ml/con, tiêm liên tục 7 ngày liền.
Trên thị trường thuốc thú y có một số loại chống viêm ruột có hiệu quả:
Kanacolin: Thành phần gồm Tiamulin HF, Kanamycin sulfat, Colistine sulfat,
Neomycin sulfat, Vitamin B. complex. Hòa nước cho uống với liều 1g/5kg thể trọng,
Phòng bệnh
Phân chó phỉa được xử lý, đảm bảo nguồn nước sạch sẽ chống ô hiễm, tích cực diệt
ruồi nhặng.
Thực hiện ăn sạch, ở sạch, uống sạch.
Định kỳ kiểm tra phân chó tìm bao nang nhằm phát hiện chó mang mầm bệnh, bị bệnh
mãn tính để phòng trị.
2.4.7. Bệnh lỵ do Entamoeba Histolytica ( Amip )
Theo Phạm Sỹ Lăng - Phan Địch Lân (2001). Vương Đức Chất – Lê Thị Tài (2004).
Đặc điểm sinh học của Entamoebe histolytica
Hình thái:Căn cứ theo chu kỳ có thể có những hình thể khác nhau sau đây.
Thể hoạt động chưa ăn hồng cầu, chưa gây bệnh: tiểu thể minuta có kích thước từ 7 –
10 micromet có khi tới 15 – 25 micromet, trung bình là 13 micromet. Do có cử động
chân giả nên khi xem tươi, hình dạng không đều đặn. Khi nhuộm có hình tròn, trong
nguyên sinh chất có những hạt nhỏ. Không phân biệt được nội và ngoại nguyên sinh
chất. Ngoại nguyên sinh chất chủ yếu tập trung vào chân giả cử động không mạnh lắm.
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
23
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Trong nội nguyên sinh chất có những thức ăn thường là vi khuẩn và tạp chất của thức
ăn. Những thức ăn đó sau khi tiêu hết có thể trở thành không bào. Nhân của chúng từ
2 – 5 micromet. Thể Amip này chỉ sống trong lòng ruột, không xâm nhập vào thành
SVTH: Nguyễn Thị Mỹ Yên
24
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Luận Văn Tốt Nghiệp
GVHD: Nguyễn Dương Bảo
Sau khi ăn phải bào nang, chó có thời gian ủ bệnh từ 15 – 30 ngày. Trong thời gian
này, bào nang phát triển thành thể hoạt động, đợi điều kiện gây bệnh cho chó. Điều
kiện này là các vi khuẩn phối hợp gây bệnh.
Thể hoạt động của E.histolytica tiết ra một loại men đặc biệt để dung giải tổ chức và
protein, làm thức ăn cho chúng. Bởi vậy chúng thường gây ra các nốt loét ở vùng đại
tràng, nơi ký sinh chủ yếu. Ở vùng tổ chức bị dung giải, amip đi vào niêm mạc và lớp
tế bào liên kết của thành ruột, phá hoại và gây thương tổn ở một vùng lớn của ruột già
chó. Các vi khuẩn gây bệnh sẵn có trong ruột sẽ xâm nhập vào vùng thương tổn do
amip gây ra, đặc biệt là các vi khuẩn yếm khí, làm cho quá trình viêm đại tràng xảy ra
nhanh chóng.
Từ những chỗ tổn thương ở đại tràng, amip vào máu đến các nội quan khác như gan,
phổi, lách…và có thể gây ra những tổn thương và ổ apxe ở các nội quan đó.
Triệu chứng
Các triệu chứng của bệnh lý được tập hợp lại thành hội chứng lỵ. hội chứng diễn biến
theo các thương tổn giải phẩu bệnh lý.
Trong thời kỳ ủ bệnh, chó thường kém ăn, đi ỉa phân táo, nhưng không tăng nhiệt độ.
Sau đó, chó ỉa phân lỏng có màu vàng xám, có mùi tanh. Đặc biệt, chó đi ỉa nhiều lần
trong một ngày, trước khi ỉa bị đau đớn rên rỉ, còng lưng lên rặn. Vài ngày sau, chó đi