Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TRẦN HÀ LINH

QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƢỜI BỊ BUỘC TỘI
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TRẦN HÀ LINH

QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƢỜI BỊ BUỘC TỘI
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60380104

vụ án hình sự

Biểu đồ 3.1 :

Số phiên tòa xét xử sở thẩm có sự tham gia của người bào
chữa giai đoạn 2011 – 2015

Biểu đồ 3.2 :

Tỷ lệ số vụ án xét xử sở thẩm có sự tham gia của người bào
chữa giai đoạn 2011 – 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: Những vấn đề lý luận về quyền bào chữa của người bị
buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
1.1.
Khái niệm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn
xét xử vụ án hình sự
1.2. Ý nghĩa quy định quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự
CHƢƠNG 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền
bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
2.1.
Khái quát quy định của pháp luật quyền bào chữa của người bị
buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự trước khi có
BLTTHS năm 2003
2.2.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về quyền bào chữa của

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của
con người, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc
tế. Ở Việt Nam, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), với việc đặt
con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động
lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới không chỉ tác
động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế
bảo đảm quyền con người ở nước ta. Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những
giá trị bất biến về quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế
về nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966
và những quy định về quyền công dân trong các bản Hiến pháp trước đây,
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã thể hiện
sự phát triển về quyền con người và quyền công dân trong cả nội dung và kỹ
thuật lập pháp.
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, nơi mà các cơ quan tiến hành tố tụng
đại diện cho quyền lực nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố
tụng, hạn chế một số quyền cơ bản của con người nhằm đấu tranh phòng ngừa
tội phạm, làm rõ sự thật khách quan của vụ án thì quyền con người, đặc biệt là
quyền của người bị buộc tội rất dễ bị xâm phạm. Theo tinh thần của khoản 4
Điều 31 Hiến pháp năm 2013, người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử (gọi chung là người bị buộc tội) có quyền tự bào chữa và
nhờ người khác bào chữa, đây là quyền đặc thù của người bị buộc tội, giúp họ
có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Trước đó, ngày 2/1/2002,
Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW, xác định nhiệm vụ xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới đòi hỏi
công tác tư pháp phải có những chuyển biến mạnh mẽ, phấn đấu thực hiện tốt
mục tiêu nghiêm minh, công bằng, dân chủ, trong đó đưa ra những quan điểm

số người tiến hành tố tụng (trình độ, năng lực yếu kém, trách nhiệm và đạo
đức nghề nghiệp hạn chế)…”. Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác không
kém phần quan trọng được báo cáo nêu ra, đó là: “không cử người bào chữa
1

UNDP (2010), Báo cáo quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam, Hà Nội, tr 34


3

cho bị can chưa thành niên; vi phạm quy định bảo đảm quyền bào chữa cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo… gần 80% vụ án hình sự hiện nay chưa có
Luật sư tham gia nên chưa bảo đảm tranh tụng để tránh oan, sai. Sự tham gia
tố tụng của người bào chữa có trường hợp khó khăn do người tiến hành tố
tụng thực hiện không đúng quy định về cấp Giấy chứng nhận bào chữa”2. Bên
cạnh đó, một nguyên nhân không thể không nhắc đến là các quy định pháp
luật chưa thực sự thống nhất, còn chống chéo, mâu thuẫn. Mặc dù BLTTHS
Việt Nam đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên mới chỉ phần nào
khắc phục được những bất cập còn tồn tại. Do đó, quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị buộc tội, trong đó có người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử
vẫn chưa được bảo đảm trọn vẹn, thậm chí còn bị vi phạm khá nhiều trên thực
tế. Thực trạng trên cho thấy, có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền của
người bị buộc tội nói chung và quyền bào chữa của người bị buộc tội trong
giai đoạn xét xử nói riêng phải được lý giải một cách đầy đủ, toàn diện. Pháp
luật cần quy định chặt chẽ, tránh chồng chéo, theo hướng mở rộng quyền cho
người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, đồng thời có các quy
định nhằm bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội khi tham
gia tố tụng, hạn chế tối đa việc lạm dụng quyền lực của những người tiến
hành tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội.
Trong thời gian qua, có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến địa

bị can, bị cáo thành các nhóm sau:
- Những nghiên cứu có tính lý luận chung có liên quan như: GS.TSKH
Nguyễn Cảm (2004) với bài viết “Một số vấn đề lý luận chung về các giai
đoạn tố tụng” đăng trên Tạp chí kiểm sát số 2/2004; “Bảo vệ quyền con người
trong tố tụng hình sự và một số đề xuất về hoàn thiện pháp luật” đăng trên
Tạp chí luật học số 1/2011 của tác giả Hồ Sỹ Sơn; TS. Nguyễn Văn Tuân
(2015) với cuốn sách “Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự Việt Nam”;
PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (2016) với cuốn sách “Những nội dung mới trong
BLTTHS năm 2015”; Bài tham luận của TS. Nguyễn Văn Tuân (2016) tại
Hội thảo Những điểm mới của BLTTHS năm 2015 do Đại học Luật Hà Nội tổ
chức tháng 06/2016 với tiêu đề “Những nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS
2015” v.v… Đây điều là những nghiên cứu có tính lý luận, bao quát một cách
khá toàn diện các vấn đề cơ bản của tố tụng hình sự Việt Nam, có giá trị tham
khảo cao trong quá trình nghiên cứu Luận văn của tác giả.
- Những nghiên cứu có liên quan đến quyền bào chữa, địa vị pháp lý
của người bị buộc tội có thể kể đến như: “Quyền của bị cáo trong tố tụng hình


5

sự Việt Nam” – Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Thúy (2013);
“Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của bị can, bị
cáo” – Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Sơn Hà (2015); TS. Lương Thị Mỹ
Quỳnh (2013) với cuốn sách “Quyền có người bào chữa trong Tố tụng hình
sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ”… Ngoài ra, còn có các bài viết trên các tạp chí
khoa học về vấn đề này, như: “Về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Phan Trung Hoài (Tạp chí kiểm
sát, số 6/2007); “Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình
sự” của tác giả Nguyễn Thái Phúc (Tạp chí Khoa học pháp lý số 4(41/2007));
“Hoạt động bào chữa trong Tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Phan Thị

đăng trên Tạp chí kiểm sát số 10 (tháng 5/2015), v.v… Các bài viết kể trên đã
đề cập phần nào đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Song để có một cái
nhìn đầy đủ và toàn diện nhất thì các bài viết nêu trên là chưa đủ, bởi với
dung lượng bài viết đăng trong tạp chí khoa học, các tác giả chỉ có thể truyền
đạt một cách khái quát nhất về quyền bào chữa của bị can, bị cáo hoặc chi tiết
một trong rất nhiều vấn đề liên quan đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo
trong tố tụng hình sự.
Có thể nói, đây đều là công trình nghiên cứu có giá trị cao về cả lý luận
lẫn thực tiễn, đã đề cập phần nào đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo song
chưa một công trình nào thực sự đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu một cách toàn
diện và hệ thống quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử
vụ án hình sự. Đặt trong bối cảnh Hiến pháp 2013 được Quốc hội thông qua
với nhiều nội dung mới, quyền con người ngày càng được chú trọng, bảo
đảm, việc nghiên cứu đề tài Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự là hết sức cần thiết, phù hợp với chiến lược cải cách
tư pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền bào chữa của
người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn
xét xử vụ án hình sự và thực trạng thực hiện quyền bào chữa của người bị
buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
- Phạm vi nghiên cứu:


7

Luận văn tập trung làm rõ khái niệm khoa học về quyền bào chữa của
người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa


5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan
điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, các văn bản pháp luật của
Nhà nước về chính sách hình sự, cải cách tư pháp, chiến lược xây dựng và
hoàn thiện pháp luật đến năm 2020. Tác giả đã sử dụng các phương pháp
phân tích tổng hợp, phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp so sánh,
phương pháp phân loại và hệ thống hóa… để nghiên cứu quyền bào chữa của
người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về quyền bào chữa
của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, làm rõ các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền bào chữa của người bị
buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, chỉ ra những hạn chế, bất cập
của BLTTHS năm 2003 và những điểm mới của BLTTHS năm 2015, làm rõ
thực trạng thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét
xử vụ án hình sự và đề xuất một số giải pháp góp phần bảo đảm thực hiện
quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền bào chữa của người bị buộc
tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa
của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
Chương 3: Thực trạng thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội
trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự và một số giải pháp bảo đảm quyền bào
chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử.



Lương Thị Mỹ Quỳnh (2013), Quyền có người bào chữa trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ,
NXB. Chính trị Quốc Gia – Sự thật, Hà Nội, tr34
4
Phạm Hồng Hải (2010), Vai trò của Luật sư – Người bào chữa – Thực trạng và những giải pháp nhằm
nâng cao tranh tụng trong tố tụng hình sự, 12 – 2010


10

là quyền bào chữa, trường hợp họ không thể tự mình thực hiện quyền bào
chữa thì họ có thể nhờ người khác bào chữa cho mình. Đây là những định
hướng cơ bản mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ và tôn trọng. Trong
pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bảo đảm quyền bào chữa của
người bị buộc tội là một trong những điều kiện đảm bảo công bằng trong tố
tụng hình sự. Cho dù cách thức tìm kiếm sự thật vụ án là khác nhau giữa các
mô hình tố tụng nhưng mục đích chung nhất của tố tụng hình sự không chỉ là
trừng phạt người phạm tội mà là tìm ra đúng người thực hiện tội phạm.
Quyền bào chữa - một trong những quyền quan trọng nhất của người bị
buộc tội, cũng là quyền Hiến định rất quan trọng, được quy định tại tất cả các
bản Hiến pháp Việt Nam từ trước đến nay. Hiến pháp năm 1946, bản Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định quyền tự bào
chữa tại Điều 67: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư”.
Sau đó, những bản Hiến pháp tiếp theo đều quy định nội dung này. Cụ thể, tại
Hiến pháp năm 1959 quy định tại Điều 101 như sau: “Quyền bào chữa của
người bị cáo được bảo đảm”. Tiếp đến, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 tiếp
tục khẳng định quyền bào chữa được bảo đảm (Điều 133 - Hiến pháp 1980 và
Điều 132 - Hiến pháp 1992). Như vậy, từ Hiến pháp năm 1946 đến 1992 đều
chỉ ghi nhận quyền bào chữa của bị cáo – người bị tình nghi phạm tội. Sự tình
nghi phạm tội này đã được cơ quan điều tra chứng minh xong, hồ sơ điều tra

bản pháp lý quốc tế là như vậy nhưng khi nội luật hóa, pháp luật thực định
mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau dẫn đến nhiều cách hiểu khác
nhau. Vì thế, xung quanh khái niệm quyền bào chữa, giới khoa học pháp lý
trong và ngoài nước hiện nay vẫn có nhiều quan điểm về vấn đề này.
Các học giả nước ngoài có ý kiến: “Quyền bào chữa là tổng hòa các
hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi
hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can”8. “Bào chữa trong
tố tụng hình sự không chỉ là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới việc bác
bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm mà còn là tổng hòa các mối quan
hệ tố tụng nhằm tới mục đích làm cho tình trạng của người bị buộc tội tốt hơn
6

Hoàng Văn Dũng (2016), Mối quan hệ giữa quyền bào chữa và cơ chế minh oan truy cập ngày 14/6/2016
7
Điều 11.1 Tuyển ngôn Nhân quyền được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948
8
M.X Xtrôgôvích: “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Vô Viết”, tập 1, Nxb Khoa học, M-1968, tr, 196 (trích từ
Phạm Hồng Hải, Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1999), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị
buộc tội, NXB. Công an Nhân dân, tr14)


12

và bảo đảm các quyền và lợi ích của người đó trong vụ án”9. Cũng theo xu
hướng này, có ý kiến cho rằng: “Trong tố tụng hình sự, bị can, người bị tình
nghi cũng như những công dân khác, trong đó có cả người bị hại đều cần có
sự bảo vệ các lợi ích thể bị xâm phạm”10. Điều 47 BLTTHS Liên Bang Nga
quy định: “Người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi nhận được quyết
định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị tình nghi thực hiện tội phạm bị
tạm giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trước khi khởi tố bị can

tr14


13

chúng không trực tiếp liên quan đến việc giảm nhẹ trách nhiệm của bị can
trong vụ án14.
Hiểu quyền bào chữa theo hai quan điểm trên là chưa đầy đủ, bởi nếu
cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can thì quá hẹp. Khái niệm bị can chỉ
tồn tại từ khi có quyết đinh khởi tố bị can đến thời điểm Tòa án ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử. Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, họ tham gia tố
tụng với tư cách bị cáo. Nói cách khác, theo theo hai quan điểm trên thì từ khi
tham gia tố tụng với tư cách bị cáo, người bị buộc tội sẽ không còn quyền bào
chữa. Thực tiễn xét xử chứng minh, ở giai đoạn này, quyền bào chữa mới
được thể hiện một cách rõ nét nhất, vì họ được bình đẳng, công khai đưa ra
những lý lẽ, chứng cứ, được tham gia tranh luận tại phiên tòa… để thanh
minh và bác bỏ lời buộc tội đối với mình. Bên cạnh đó, các bản Hiến pháp
của nước ta từ trước tới nay đều ghi nhận quyền bào chữa của bị cáo, do đó
nếu chỉ bó hẹp phạm vi chủ thể của quyền bào chữa thuộc về bị can là trái với
các quy định của Hiến pháp cũng như các văn kiện quốc tế mà Việt Nam là
thành viên.
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là
tổng thể các quyền mà pháp luật quy định, cho phép bị can, bị cáo có thể sử
dụng nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội và giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự

(15)

. Chưa nói đến nội dung của quan điểm thứ ba, theo ý kiến


không có bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều và kết
buộc chứ không phải là tranh tụng. Tố tụng hình sự không thể được thừa nhận
là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào
chữa…18”. Dù ở bất kì mô hình tố tụng nào, hoạt động tố tụng hình sự về cơ
bản đều là tổng hợp các hoạt động thực hiện ba chức năng cơ bản của tố tụng
hình sự: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử. Ba
chức năng này có mối quan hệ gắn bó với nhau không thể tách rời và tố tụng
hình sự chỉ được thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội có đối trọng là
chức năng bào chữa và sự đối trọng đó phải được bảo đảm. Sự đối trọng của
chức năng bào chữa đối với hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng buộc
tội chính là yếu tố hạn chế sai lầm, hạn chế làm oan người vô tội, góp phần
giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự
được dân chủ, khách quan. Suy cho cùng, mục tiêu quan trọng nhất mà bào
16

Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB.Công an nhân dân, tr48
Nguyễn Văn Tuân (2015), Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Tư pháp, tr 37
18
Tôn Thiện Phương, “Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong BLTTHS 2015”, Tạp chí kiểm sát số 10
(tháng 5/2015), tr 43
17


15

chữa hướng đến là nhằm chống lại sự buộc tội, minh oan hoặc giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong
tố tụng hình sự.
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Quyền bào chữa là tổng thể
các quyền của người bị buộc tội được pháp luật ghi nhận vào bảo đảm thực


đã có hiệu lực pháp luật. Trong pháp luật hình sự, thuật ngữ người phạm tội
(tội phạm) và người bị buộc tội không giống nhau. Người phạm tội dùng để
chỉ người đã thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm, hành
vi của người đó đã cấu thành tội phạm. Thuật ngữ người phạm tội chỉ một
thực tế khách quan là một người đã thực hiện tội phạm chứ không phải tùy
thuộc vào nhận định chủ quan của các cơ quan áp dụng pháp luật. Còn người
bị buộc tội mới chỉ là người bị tình nghi về việc thực hiện những hành vi có
dấu hiệu của tội phạm. Trách nhiệm hình sự chỉ bắt đầu khi bản án kết tội bị
cáo có hiệu lực pháp luật chứ không phải từ thời điểm có quyết định tạm giữ.
Người bị buộc tội không phải là người phạm tội và đây là tình trạng pháp lý
khách quan của họ, do vậy đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, xã hội và
mọi người phải nhìn nhận và đối xử với họ như là người không phạm tội. Đây
là nghĩa vụ pháp lý, trừ một số hạn chế nhất định mà pháp luật cho phép áp
dụng với những người này như các biện pháp ngăn chặn, còn các quyền, lợi
ích hợp pháp khác của họ vẫn phải được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Pháp
luật nghiêm cấm đối xử với người bị buộc tội như là người phạm tội khi mà
chưa có bản án của tòa án kết tội người đó đã có hiệu lực pháp luật. Tình
trạng này không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cơ quan tiến hành tố
tụng và không cản trở hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc
thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội. Các cơ quan
tiến hành tố tụng có quyền có chính kiến của mình về lỗi của người bị buộc
tội, nhưng phải thể hiện chính kiến của mình trong nguyên tắc suy đoán vô
tội. Suy đoán vô được thừa nhận cho đến khi có bản án kết tội của tòa án đã
có hiệu lực pháp luật. Nói cách khác, chỉ có tòa án mới có quyền tuyên bố
một người là người có phạm tội. Đây là một trong những bảo đảm quan trọng
đối với quyền con người của người bị buộc tội. Bởi lẽ, Tòa án thực hiện chức
năng xét xử với những nguyên tắc dân chủ, công khai tại phiên tòa theo trình
tự tố tụng chặt chẽ được pháp luật quy định. Việc truy cứu trách nhiệm hình
sự và kết tội người nào đó phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong đó

20

Nguyễn Quang Hiền, Quy định nguyên tắc suy đoán không phạm tội để bảo vệ quyền con người của người
bị buộc tội, Nguồn Tạp chí nghiên cứu lập pháp, truy cập ngày
15/4/2016
21
Hồ Sỹ Sơn, “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự và một số đề xuất về hoàn thiện pháp luật”,
Tạp chí luật học số 1/2011, tr.42


18

Hoa, người bị buộc tội bao gồm nghi can và bị cáo (Điều 43 BLTTHS năm
1979, sửa đổi bổ sung năm 1996)22. Ở Việt Nam, BLTTHS năm 1988 quy
định chủ thể của quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, bị cáo. Đến BLTTHS
năm 2003 chủ thể của quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà
còn thuộc về người bị tạm giữ. Người bị tạm giữ tuy chưa bị buộc tội bằng
một văn bản có tính chất pháp lý nhưng họ đã bị nghi ngờ là phạm tội và đối
với họ đã có quyết định tạm giữ, đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng là
tạm giữ (bị hạn chế quyền tự do về thân thể). Đến Hiến pháp 2013, phạm vi
chủ thể của quyền bào chữa một lần nữa lại được mở rộng tại khoản 4 Điều
31. Theo đó, quyền bào chữa thuộc về người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm
giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (gọi chung là người bị buộc tội). Đến
BLTTHS năm 2015, người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo (điểm đ, khoản 1 Điều 4)23. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp
2013 và BLTHHS năm 2015, ngay từ khi bị bắt, người bị buộc tội đã có
quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho mình.
Người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa trong các giai đoạn khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, trong đó, việc thực hiện quyền bào chữa ở giai

điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa thông qua
việc xét hỏi và tranh luận, làm cơ sở để Tòa án đưa ra những phán quyết
khách quan phù hợp với quy định của pháp luật. Trong giai đoạn này, Tòa án
thực hiện chức năng xét xử, áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để
kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà Cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự
sang Tòa án, nhằm loại trừ những hậu quả tiêu cực của các sơ xuất, sai lầm
hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó
(khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ
để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án24. Đây là giai đoạn
tố tụng có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Theo đó, Tòa án xem xét và giải
quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ, bảo đảm
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm. Trên cơ sở truy tố của Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành giải

24

GS.TSKH Nguyễn Cảm, Mốt số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng
/>8006&article_details=1 truy cập ngày 3/4/2016


20

quyết vụ án hình sự bằng việc ra bản án, quyết định việc bị cáo có phạm tội
hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác căn cứ vào
những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và
những người tham gia tố tụng. Trường hợp không đủ căn cứ để đưa vụ án ra
xét xử theo trình tự sơ thẩm, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án bằng việc ra
quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ theo quy định của pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status