Đề cương nghiên cứu khoa học cấp cơ sở chuyên ngành nội khoa khảo sát tình trạng kiểm soát lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện năm 2018 - Pdf 48

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng
glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc
cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối
loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh và mạch
máu.
“Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và Rối loạn chuyển hoá ”- Dự
báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở
thành hiện thực. Trong đó, đái tháo đường là bệnh không lây nhiễm được WHO
quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Theo thống
kê của Liên đoàn đái tháo đường Quốc tế thì trên thế giới có khoảng 90% là Đái
tháo đường type 2, mỗi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì bệnh đái tháo
đường trong đó khoảng 80% bệnh nhân tử vong do biến chứng tim mạch, nhất là
những trường hợp đái tháo đường type 2 phát hiện muộn. Nhiều bệnh nhân khi
phát hiện bệnh không được quản lý, theo dõi và điều trị đúng, dẫn đến biến
chứng nặng nề. Theo WHO, năm 1985 có khoảng 30 triệu người mắc đái tháo
đường trên toàn cầu, năm 2004 có khoảng 98,9 triệu người mắc, tới nay khoảng
230 triệu người và con số đó có thể tăng gấp đôi lên tới 366 triệu người vào
những năm 2030 . Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh.Một
nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 - 2008 cho
thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) lên
5% (năm 2008). Đái tháo đường đang là vấn đề thời sự cấp bách của sức khoẻ
cộng đồng. Hiện nay nhiều biện pháp được nêu ra nhằm giảm thiểu tỷ lệ biến
chứng và tử vong bệnh đái tháo đường ; một trong các vấn đề được đặt ra và đôi
khi trở thành thách thức là: Làm thế nào quản lý có hiệu quả bệnh nhân đái tháo
đường ngoại trú để có thể ngăn chặn sự tiến triển của các biến chứng mạn tính ?
Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy có
mối liên quan chặt chẽ giữa kiểm soát lipid máu và giảm tần suất biến chứng của
bệnh đái tháo đường. Kết quả nghiên cứu DCCT (Diabetes Control and


cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh và mạch máu”.
1.2. Dịch tễ học:
30- 50% bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 không được chẩn đoán.
Tần suất bệnh đái tháo đường trên thế giới: trên thế giới đái tháo đường
chiếm khoảng 60- 70% các bệnh nội tiết. Trong năm 1995 các quốc gia có số
người mắc đái tháo đường nhiều nhất và số người dự đoán mắc đái tháo đường
vào năm 2025 lad Ana Độ ( 19 lên 57 triệu), Trung Quốc ( 16 lên 38 triệu), Hoa
kỳ ( 14 lên 22 triệu). Trong đó Ấn Độ là nước có tỷ lệ tăng cao nhất.
Theo WHO, Năm 2000 Việt Nam co hon 7 nghìn người mắc đái tháo
đường và tăng lên trên 3 triệu người mắc vào năm 2030.
1.3. Chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháođường
1.3.1 Chẩn đoán:
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định: Theo WHO năm 1998 và được xác định lại
năm 2002. Chẩn đoán xác định đái tháo đường nếu có một trong ba tiêu chuẩn
dưới đây và phải có ít nhất hai lần xét nghiệm ở hai thời điểm khác nhau:
Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l. Kèm theo các triệu
chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân.


4
Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l, xét nghiệm lúc bệnh nhân
đã nhịn đói sau 6 - 8 giờ không ăn.
Hoặc: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng
glucose máu ≥ 11,1 mmol/l.
1.3.2.Phân loại bệnh đái tháođường
* Đái tháo đường type1:
Đái tháo đường type 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân đái
tháo đường thế giới. Đặc trưng bởi sự hủy hoại tế bào beta của đảo tụy
Langherhans ( tự miễn hoặc vô căn) và thiếu hụt gần như tuyệt đối insulin, vì thế
dễ bị nhiễm toan ceton nếu không được điều trị. Đái tháo đường type 1 phụ

tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh. Người
mắc bệnh đái tháo đường type 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết
hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện
không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin.
* Đái tháo đường thai kỳ:
Đái đường thai kỳ thường là tình trạng rối loạn dung nạp glucose máu với
các mức độ khác nhau, khởi phát hay được phat hiện đầu tiên khi có thai; dù
dùng insulin hay chỉ điều chỉnh chế độ ăn để điều trị và ngay cả khi đái tháo
đường vẫn còn tồn tại sau khi sinh. Định nghĩa này không loại trừ tình trạng rối
loạn chuyển hóa glucose đã xảy ra cùng lúc khi có thai mà không được nhận biết
trước đó. Sự tiến triển của đái tháo đường thai nghén sau đẻ theo 3 khả năng: Bị
đái tháo đường, giảm dung nạp glucose, bình thường.
Các thể đái tháo đường khác (hiếm gặp) Nguyên nhân liên quan đến một số
bệnh, thuốc, hoá chất. Khiếm khuyết chức năng tế bào beta. Khiếm khuyết gen
hoạt động của insulin. Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thương, carcinom
tụy… Các bệnh nội tiết: Hội chứng Cushing, cường năng tuyến giáp…
1.4. Biến chứng bệnh đái tháo đường:
ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển
nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Bệnh nhân có thể tử
vong do các biến chứng này.
1.4.1 Biến chứng cấp tính:
Biến chứng cấp tính đặc hiệu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 là tăng
thẩm thấu do tăng glucose máu , hạ glucose máu, nhiễm toan lactic; đái tháo


6
đường type1 là toan ceton. Thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm
khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp. Ngay cả khi điều trị đúng, hôn mê
nhiễm toan ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu vẫn có thể là hai biến chứng
nguy hiểm. Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid

hiệu của đái tháo đường.
* Biến chứng mạch máu lớn:
Biểu hiện xơ vữa nhiều mạch máu lớn: thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim,
viêm tắc động mạch chi dưới, tắc mạch bàn chân, tai biến mạch máu não, tắc
mạch thận...
Người đái tháo đường có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim
mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường. THA thường gặp ở bệnh nhân đái
tháo đường, tỷ lệ mắc bệnh chung của tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường
gấp đôi so với người bình thường. Trong ĐTĐ type 2, 50% BN ĐTĐ mới được
chẩn đoán có THA. Người mắc ĐTĐ type 2 thường kèm theo các rối loạn
chuyển hoá và tăng lipid máu . Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân
ĐTĐ gấp 1,5 - 2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình
thường. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, khoảng 80% BN ĐTĐ
mắc thêm các bệnh liên quan đến tim mạch.
* Một số biến chứng khác
Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường: Tổn thương bàn chân ĐTĐ là hậu quả
của bệnh lý thần kinh ngoại biên do giảm nhậy cảm và rối loạn thần kinh tự
động, và thiếu máu do xơ vữa mạch của các mạch máu ở chân. Loét bàn chân ở
người đái tháo đường là biến chứng nặng nề và cũng thường gặp.
* Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân đái tháo đường: Viêm phổi, lao phổi thường
găp bệnh nhân ĐTĐ. Đặc biệt nhiễm trùng đường tiết niệu hay gặp bệnh nhân
nữ viêm bàng quang cấp và mạn tính, đây chính là nguyên nhân dẫn đến suy
thận sớm. Nhiễm trùng răng lợi gây tụt lợi đẫn đến lung lay và rụng răng sớm,
tổn thương da thường phối hợp trên bệnh nhân đái tháo đường như viêm da,
nấm, á sừng, vẩy nếnvv... ngày càng gặp nhiều.


8
1.5. Điều trị bệnh đái tháo đường type 2
1.5.1 Mục tiêu điều trị

ĐTĐ theo khuyến cáo ADA 2006
Thành phần
Protein

Mức độ cho phép
15 – 20%
Đặc biệt 10-35%

Lipid

BC thận 0,8g/kg/ngày
25 – 35%

Carbonhydrat

45 - 65% nhưng không dưới 130g/ngày

Chất xơ

≥ 5 g chất xơ/khẩu phần ăn

* Hoạt động thể lực và luyện tập:
Hoạt động thể lực và luyện tập đóng vai trò quan trong trong điều trị ĐTĐ
type 2.
Hoạt động thể lực làm tăng độ nhạy cảm của insulin, nhờ đó cải thiện kiểm
soát mức glucose và có thể làm giảm cân. Khi điều trị bằng chế độ ăn và luyện
tập thể lực không đạt được mục tiêu kiểm soát glucose máu. Tiếp theo là bằng
thuốc uống hạ glucose máu đơn trị liệu hoặc điều trị phối hợp đa trị liệu, hoặc
điều trị bằng insulin đơn thuần để đạt được mục tiêu kiểm soát glucose máu.
* Điều trị tăng glucose máu bằng thuốc:

Glibenclamide: Daonil 5mg, Hémi-Daonil 2,5mg, Daonil faible 1,25mg (5
giờ). Tác dụng 1/2 đời 6 - 16 giờ. Tác dụng kéo dài 12 - 24 giờ. Liều dùng thông
thường 1 - 2viên/ng, có thểø tăng 3v/ng. Uống ngay trước bữa ăn chính. 1 - 3
lần/ng
Glipizide: Glibénèse, Minidiab: tác dụng 1/2 đời là 3-7 giờ; tác dụng kéo
dài 6 - 12 giờ; 5mg/viên; liều 5 - 20mg/ngày, 2 lần/ng.
Thế hệ III:
Glimepiride (Amaryl*, Amarel*) viên 1mg, 2mg, 3mg. Tác dụng 1/2 đời
là 5 - 8 giờ. Tác dụng kéo dài 12-24 giờ, Liều dùng là 1mg/ng, có thể tăng dần
theo bậc cấp 1mg, 2mg, 3mg, 4mg, 6mg, thời gian tăng theo khoảng cách 1-2
tuần; thông thường liều 1 - 4 mg/ng. Uống trước bữa ăn điểm tâm hoặc bữa ăn
chính, uống một liều duy nhất trong ngày.
Glinide: Có tác dụng kích thích tiết insulin khi glucose máu cao, nên điều


11
hoà được glucose trong bữa ăn, kiểm soát được đường máu sau ăn. Gồm:
Répaglinide (Novonorm*, Prandin*): viên 0,5mg, 1mg, 2mg; liều
4mg/ngày chia hai, uống trước ăn 15 phút. Kéo dài 3 giờ.
D-phenylalanine (Natéglinide). Starlix*, viên 60 - 120mg, liều 60120mg/lầnx 3 lần/ngày, cho trước ăn; kéo dài 1 giờ 30 phút.
Biguanides:
Metformin (Dimethylbiguanide):
Metformine tác dụng nhanh: Glucophage, Siofor, Fordia, viên 500mg,
Metformine tác dụng chậm: Glucophage retard (Metformine HCL) 850mg;
Siofor 850mg; Fordia 850mg
Glucophage cho liều đầu tiên 500mg, 2-3 lần/ng; uống trong lúc ăn hoặc
sau khi ăn; sau 10 - 15 ngày có thểø thay Glucophage retard 850mg, 2 lần/ng.
Glucinan, Stagid: liều 2 - 3 viên/ng, uống trong lúc ăn.
Tác dụng: Không kích thích tiết insulin, nên không có tác dụng phụ hạ
đường máu. Tuy vậy do nhiều cơ chế tác dụng nó vẫn làm giảm tác dụng đường

ALT >2,5 lần BT. Tác dụng phụ: phù do giữ muối, nước, thiếu máu, rụng trứng
trở lại trong giai đoạn tiền mãn kinh.
* Điều trị insulin trong đái tháo đường type 2:
Điều trị insulin tạm thời (còn gọi là đái tháo đường týp 2 cần insulin hoặc
viện đến insulin (insulino-nécessitant, insulinorequérant):
Điều trị insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 khi:
Triệu chứng nặng ra, mặc dù được điều trị tiết thực và thuốc uống hạ
glucose máu.
Dấu 4 nhiều: khát, tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và gầy rõ.
Có cetone niệu (+++).
Tăng glucose máu nhiều và trường diễn (>3g/l), (HbA1c >7% mặc dù điều
trị thuốc uống tối đa (gây tăng độc tính đường).
Đau nhiều chi dưới.
Các tình huống cần insulin:
Các bệnh nhiễm trùng.
Can thiệp phẫu thuật.
(Mục đích nhằm tránh sự mất quân bình glucose máu do phối hợp với một
số bệnh trầm trọng như nhiễm trùng hoặc can thiệp phẩu thuật).


13
Hoặc ở những bệnh nhân đái tháo đường type 2 đang điều trị bằng các loại
thuốc làm tăng glucose (như corticoides..).
Hoặc đái tháo đường thai nghén.
Trong phần lớn các trường hợp này, sự sử dụng insulin được thực hiện tại
bệnh viện hay tại nhà, glucose máu được theo dõi đều đặn để thích nghi liều
insulin. Tùy đáp ứng mà bác sĩ sẽ quyết định ngưng insulin và trở lại điều trị
thuốc uống chống đái tháo đường.
Chỉ định insulin trong trường hợp này có thểø đơn độc hoặc cùng phối hợp
với thuốc uống chống đái tháo đường.

khác của lipid máu cần được quan tâm là triglycerid.
Các loại thành phần chính của lipid máu bao gồm LDL – Cholesterol (loại
xấu) Đây là thành phần được coi là “xấu” của cholesterol, khi lượng LDL này
tăng nhiều trong máu dẫn đến sự dễ dàng lắng đọng ở thành mạch máu (đặc biệt
ở tim và ở não) và gây nên mảng xơ vữa động mạch. Mảng xơ vữa này được
hình thành dần dần gây hẹp hoặc tắc mạch máu hoặc có thể vỡ ra đột ngột gây
tắc cấp mạch máu dẫn đến những bệnh nguy hiểm như: nhồi máu cơ tim hoặc tai
biến mạch não. LDL cholesterol được coi là một trong những chỉ số quan trọng
cần theo dõi khi điều trị. LDL tăng có thể liên quan đến yếu tố gia đình, chế độ
ăn, các thói quen có hại như hút thuốc lá/lười vận động hoặc liên quan các bệnh
lí khác như tăng huyết áp, đái tháo đường…
HDL - Cholesterol (loại tốt) Loại này chiếm khoảng 1/4- 1/3 tổng số
cholesterol trong máu của bạn. HDL - cholesterol được cho là loại tốt bởi vì nó
vận chuyển cholesterol từ máu trở về gan, cũng vận chuyển cholesterol ra khỏi
mảng xơ vữa thành mạch máu và do vậy, làm giảm nguy cơ xơ vữa động mạch
cũng như các biến cố tim mạch trầm trọng khác. Những nguy cơ làm giảm HDL
là hút thuốc lá, thừa cân/béo phì, lười vận động... Do vậy, để làm tăng HDL cần
bỏ thuốc lá, giữ cân nặng hợp lí, tăng cường tập thể dục…
Triglycerides Triglyceride cũng là một dạng mỡ trong cơ thể bạn. Tăng
triglycerides thường gặp ở những người béo phì/ thừa cân, lười vận động, hút
thuốc lá, đái tháo đường, uống quá nhiều rượu... Những người có triglycerides
trong máu tăng cao thường đi kèm tăng cholesterol toàn phần, bao gồm tăng
LDL (loại xấu) và giảm HDL (tốt). Hiện nay, các nhà khoa học cho thấy việc
tăng triglyceride trong máu cũng có thể liên quan đến các biến cố tim mạch.


15
Lp(a) Cholesterol Lp(a) là một biến thể của LDL cholesterol. Việc tăng Lp(a)
trong máu làm gia tăng nguy cơ hình thành mảng xơ vữa động mạch. Có lẽ nó
ảnh hưởng thông qua việc tương tác với một số chất khác trong quá trình hình

+ Bệnh nhân không có điều kiện theo dõi, chuyển vùng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiến cứu, mô tả, cắt ngang.


17
2.2.1. Nội dung nghiên cứu
+Tất cả bệnh nhân điều trị trị đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại
Bệnh viện B từ tháng 01 đến tháng 10 năm 2018.
+ Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng và làm bệnh án theo mẫu thống nhất
+ Làm các xét nghiệm sinh hóa máu, nước tiểu, huyết học.
+ Thăm dò chức năng:
- Điện tâmđồ.
- Siêu âm bụng, siêu âm Doppler mạch cảnh,mạch chidưới.
- Khámmắt.
- Khám timmạch
+ Tất cả bệnh nhân được hẹn khám lại theo định kỳ hàng tháng.
+ Đánh giá mức độ kiểm soát HbA1c 3 tháng một lần.
+ Đến thời điểm cuối dựa theo kết quả phỏng vấn tại những lần khám mà
bệnh nhân sẽ được phân làm 2 nhóm: Nhóm chấp hành tốt chế độ điều trị và
nhóm chấp hành chưa tốt chế độ điều trị và so sánh kết quả kiểm soát các chỉ số
giữa 2 nhóm.
2.2.2. Phưong pháp xác định các chỉ số nghiên cứu:
* Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng, làm bệnh án theo mẫu thốngnhất
+ Hành chính : tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ, số điện thoại liên lạc (để liên
lạc với bệnh nhân nhắc nhở đến khám theohẹn).
+ Tiền sử bản thân và gia đình.
- Gia đình có ai mắc bệnh đái tháo đường.
- Tiền sử bản thân mắc các bệnh phối hợpkhác.
+ Thời gian được chẩn đoán ĐTĐ, hoàn cảnh phát hiện bệnh.

BMI (kg/m2)
< 18,5

23,0- 24,9
độ I
độ II

25,0- 29,9
≥ 30

+ Đo chu vi vòng eo và vòng mông để tính tỷ số WHR (waist hip ratio):
WHR = vòng eo / vòng mông
Ngườichâu Á: WHR của nữ ≥ 0,80; WHR của nam ≥0,90
+ Đo huyết áp: Đo huyết áp bằng huyết áp kế đồng hồ sau khi BN nghỉ ít
nhất 5 phút, đo huyết áp hai lần cách nhau 2 phút, kết quả tính bằng trung bình
của hai lần đo.
Tiêu chuẩn chẩn đoán THA khi BN có tiền sử dùng thuốc hạ HA trước đó,
hoặc bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán THA theo JNC VIII- 2010.
Khám chuyên khoa:
+ Khám mắt (gửi khám chuyên khoa mắt lần đầu khi đưa vào nghiên cứu
và sau đó khám theo hẹn định kỳ của bác sĩ):
- Đo thị lực, nhãn áp phát hiện tăng nhãn áp.
- Khám phát hiện đục thể thủy tinh:
- Soi đáy mắt phát hiện tổn thương võng mạc.
+ Khám tim mạch, khám bàn chân:
+ Tình trạng da niêm mạc, nhiễm trùng ngoài da, phù, cổ chướng….


19
* Xét nghiệm cận lâm sàng


HDL- c

mmol/l

≥ 0,9

LDL- c

mmol/l

≤ 3,4

Ure

mmol/l

2,5- 7,5

Creatinin

mmol/l

ASAT

U/l- 370 C
U/l- 370 C

Nam : 62- 120
Nữ : 53- 100

Đánh giá mức độ kiểm soát các chỉ số và biến chứng của bệnh tại các
thờiđiểm ban đầu (T0) ; sau mỗi 6 tháng , ký hiệu lần lượt là T1.


21

Bảng 2.3.Mục tiêu kiểm soát các chỉ số ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 của Hội Nội
tiết- đái tháo đườngViệt Nam năm 2009.
Chỉ số
Glucose máu

Đơn vị

Lúc đói

mmol/l

4,4 – 6,1

6,2 -7,0

> 7,0

HbA1c

%

< 6,5

≤ 7,5

Nữ
Cholesterol TP

mmol/l

1,1

≥ 0,9

< 0,9

mmol/l

< 1,5

1,5 - ≤ 2,2

> 2,2

2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý theo thuật toán thống kê trên máy vi tính sử
dụng chương trình phần mềm SPSS 20.0
- Tính giá trị trung bình độ lệch chuẩn (X ± SD), So sánh 2 giá trị p >
0,05, p < 0,05: Khác biệt không và có ý nghĩa thống kê ở mức 95%.
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thông qua Hội đồng Khoa học Bệnh viện A, lãnh đạo
Bệnh viện A.
- Được sự đồng ý của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu.


23
CHƯƠNG 3. DỰ KIẾNKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Bảng 3.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm nghiên cứu
Đặc điểm

Nhóm ĐTĐ

Tuổi trung bình (năm)
Các chỉ số lâm sàng
HA tâm thu (mmHg) HA tâm
trương (mmHg)
BMI (kg/m2)
WHR
Biểu đồ 3.2. Phân bố tỷ lệ bệnh nhân theo thời gian phát hiện bệnh.

Bảng 3. 2. Đặc điểm cận lâm sàng của nhóm nghiên cứu:
Đặc điểm


n = 150

Biện pháp KS GM
CĐ ăn + luyện tập đơn thuần

Tỷ lệ

n =150

%

Một loại thuốc
Hai loại thuốc
Ba loại thuốc
Bốn loại thuốc
Biểu đồ 3.3. Phân bố tỷ lệ BN dựa theo mức độ chấp hành CĐ điều trị
3.2. Kết quả kiểm soát sau điều trị 6 tháng
Bảng 3.4. So sánh các chỉ số Lâm sàng tại thời điểm NC với thời điểm T1
Các chỉ số
HA tâm thu

T0

T1

p

HA tâm trương
BMI
WHR


mmol/l

HbA1c

%

BMI

kg/m2

Cholesterol

mmol/l

Triglycerid

mmol/l

HDL-C

mmol/l

LDL- C

mmol/l

HATT

mmHg


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status