Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trung, dài hạn tại chi nhánh NHCT Đống Đa - Pdf 48


Lời nói đầu
Tín dụng nói chung và tín dụng trung, dài hạn nói riêng luôn là một hoạt
động chủ đạo và mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thơng mại. Đối với
doanh nghiệp tín dụng trung, dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn để cải tiến công nghệ,
kĩ thuật, mở rộng sản xuất kinh doanh. Cho đến nay, loại hình tín dụng này vẫn là
kênh tài trợ vốn chủ yếu cho doanh nghiệp dù bất kì thời đại hay nền kinh tế nào.
Trên phơng diện toàn bộ nền kinh tế, tín dụng trung, dài hạn là công cụ thực hiện
công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Việt
Nam đang trong quá trình đổi mới toàn diện, chúng ta đang thực sự cần vốn để
phát triển và tín dụng tín dụng trung, dài hạn là công cụ đắc lực để đáp ứng nhu
cầu đó. Tuy vậy để hoạt động tín dụng trung, dài hạn thực sự có hiệu quả thì vẫn
còn nhiều bất cập. Các doanh nghiệp luôn cho rằng họ thiếu vốn trong khi các
ngân hàng lại rất khó thực hiện việc cho vay vì các dự án mà các đơn vị vay vốn đa
ra nhiều khi không chứng minh đợc tính hiệu quả của nó. Hơn nữa trong một vài
năm qua đã xảy ra những biến động xấu trong hoạt động ngân hàng nh một số vụ
đổ bể tín dụng với mức thất thoát lên tới hàng ngàn tỷ đồng , hiện tợng ứ đọng vốn
trong các ngân hàng ... Hiện tợng này buộc các ngân hàng thơng mại phải quan
tâm hơn đến hoạt động tín dụng của mình và vấn đề nâng cao chất lợng hoạt động
tín dụng mà đặc biệt là hoạt động tín dụng trung, dài hạn đã trở thành mối quan
tâm lớn đối với những ngời hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng.
Là một ngân hàng thơng mại phục vụ chủ yếu trong lĩnh vực công thơng
nghiệp, hoạt động trên địa bàn Hà Nội là trung tâm kinh tế chính trị của cả nớc
chi nhánh ngân hàng công thơng Đống Đa luôn xác định tín dụng trung, dài hạn là
nghiệp vụ truyền thống và quan trọng trong hoạt động của mình. Bớc sang giai
đoạn mới ,chi nhánh ngân hàng công thơng Đống Đa đã và đang xây dựng cho
mình một chiến lợc phát trriển toàn diện trong đó tín dụng trung, dài hạn vẫn luôn
đợc xác định là hoạt động hàng đầu .
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này, qua thời gian thực tập tại chi
nhánh NHCT Đống Đa, em quyết định chọn đề tài Giải pháp nâng cao chất lợng
hoạt động tín dụng trung, dài hạn tại chi nhánh NHCT Đống Đa.

Sinh viên
Trần Thị Thu Nga.
Chơng I

2

ngân hàng thơng mại và hoạt động tín dụng trung, dài
hạn của ngân hàng thơng mại
I. Ngân hàng thơng mại và hoạt động của ngân hàng thơng mại trong nền
kinh tế thị trờng
1. Khái niệm ngân hàng thơng mại (NHTM)
Khi nghiên cứu về ngân hàng thơng mại các nhà kinh tế học có nhiều quan
điểm khác nhau về ngân hàng thơng mại. Ngời thì cho rằng ngân hàng thơng mại
là tổ chức nhận tiền gửi để cho vay . Ngời khác lại nhận định rằng ngân hàng th-
ơng mại là trung gian tài chính có giấy phép của chính phủ để vay tiền và mởi tài
khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc. Sở dĩ có tình trạng trên
là do hoạt động của ngân hàng thơng mại rất đa dạng, các thao tác trong từng
nghiệp vụ lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của
nền kinh tế. ở nớc ta ngân hàng đầu tiên đợc thành lập đó là ngân hàng Đông D-
ơng của Pháp vào giữa thế kỉ XIX để phục vụ cho giới thơng gia Pháp trên thị tr-
ờng Việt Nam. Sau đó có thêm các ngân hàng nớc ngoài của Trung Quốc , Anh ...
Đến năm 1990 pháp lệnh ngân hàng Nhà nớc ta ra đời đã chính thức phân chia
hệ thống ngân hàng thành hai cấp là ngân hàng Trung Ương và ngân hàng thơng
mại .
Từ đó khái niệm ngân hàng thơng mại hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực đã
ra đời.
Theo luật các tổ chức tín dụng đợc Quốc Hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 12-12-1997 thì Tổ chức tín dụng là một tổ chức hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cho vay cung ứng các dịch vụ thanh toán chi trả hộ ... mà ngân

thức trả lãi của ngân hàng, tình hình kinh tế xã hội trong từng thời kì, tình hình thu
nhập và chi tiêu ngân sách, phong tục tập quán thói quen từng vùng, lòng tin dân
chúng đối với ngân hàng và Chính Phủ , địa điểm ngân hàng, các dịch vụ ngân
hàng cung cấp. Ngân hàng cần phải nắm vững các yếu tố đó để có thể điều chỉnh
lợng vốn huy động sao cho phù hợp với nhu cầu vốn của mình. Hoạt động huy
động vốn đợc thể hiện dới các hình thức sau :
Nếu phân theo thời hạn
+ Tiền gửi không kì hạn : Bao gồm các loại tiền gửi thanh toán , tiền gửi tiết
kiệm không kì hạn của các tổ chức kinh tế và dân c. Đó là khoản tiền gửi mà ngời
gửi có thể rút bất cứ lúc nào .
+ Tiền gửi có kì hạn : Đây là loại tiền gửi mà có sự thoã thuận về thời gian rút
tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Nh vậy về nguyên tắc khách hàng gửi tiền chỉ

4

đợc rút tiền khi đến hạn đã thoã thuận. Lãi suất của loại tiền gửi này thờng cao
hơn so với tiền gửi không kì hạn.
Nếu phân chia theo mục đích bao gồm :
+ Tiền gửi giao dịch : Đây là khoản tiền do khách hàng gửi vào ngân hàng và
họ có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán và chi trả cho họ bất cứ lúc nào. Ngời
gửi có thể nhận đợc khoản lãi hoặc không tuỳ thuộc vào qui định của ngân hàng
nhng mục đích chính của ngời gửi là phục vụ mục tiêu thanh toán giao dịch chứ
không phải là mục tiêu hởng lãi.
+ Tiền gửi phi giao dịch : Bao gồm tiền gửi có kì hạn của tổ chức kinh tế, tiền
gửi tiết kiệm của dân c. Mục tiêu chính của khách hàng là hởng lãi, do vậy ngân
hàng phải trả một khoản khá cao cho loại tiền gửi này .
+ Vay từ tổ chức tín dụng khác .
Sau khi đã sử dụng hết vốn mà vẫn cha đáp ứng dợc nhu cầu vay vốn của khách
hàng hoặc đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng. Các ngân hàng
thơng mại có thể đi vay ở ngân hàng Trung Ương và ngân hàng thơng mại khác

mặt trong tài sản có còn đợc gọi là khoản đầu t cho sự an toàn.
2.2.2 Hoạt động đầu t.
Đầu t vào chứng khoán là loại hình phổ biến nhất trong hoạt động đầu t của
ngân hàng thơng mại tại các nớc phát triển.ở nớc ta thị trờng chứng khoán mới ra
đời nên hàng hoá còn nghèo nàn, thị trờng vận động cha đúng quy luật do đó cha
thu hút đợc sự chú ý của các thành viên trong nền kinh tế trong đó có ngân hàng.
2.2.3 Hoạt động tín dụng
Hầu hết nguồn vốn mà ngân hàng huy động dợc sẽ đa vào hoạt động tín dụng.
Đây là hoạt động kinh doanh chính tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng thơng
mại vì chỉ có lãi suất cho vay mới ù đắp nổi các chi phí khác của ngân hàng.
Thông thờng hoạt động tín dụng bao gồm :
Hoạt động cho vay:
Đây là một trong những hoạt động đầu ra và là hoạt động quan trọng nhất
quyết định đến sự thành bại của ngân hàng. Chỉ khi nào ngân hàng điều hành tốt
hoạt động này thì hoạt động chung của ngân hàng mới đem lại hiệu quả cao vì đây
chính là hoạt động sinh lời chủ yếu. Là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính
cho ngân hàng nên cho vay cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Để tránh

6

điều đó quản lí tiền vay đợc tiến hành rất chặt chẽ, đặc biệt là đối với các món vay
lớn, thời hạn dài.
Căn cứ vào các hình thức phân loại khác nhau ta có các hình thức cho vay khác
nhau
+ Căn cứ vào thời hạn cho vay.
- Cho vay không kì hạn : Đây là loại hình cho vay mà khách hàng có thể trả tiền
bất kì thời gian nào họ có tiền mà không bị ràng buộc bởi thời gian.
- Cho vay ngắn hạnbao gồm:
. Cho vay ngắn hạn thông thờng : Là loại cho vay có thời hạn ít hơn một năm nh-
:

- Cho vay phát triển sản xuất kinh doanh
- Cho vay tiêu dùng
- Cho vay thanh toán công nợ
+ Căn cứ vào tính chất bảo đảm bao gồm:
- Cho vay có bảo đảm
- Cho vay không có bảo đảm
+ Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
- Cho vay bằng tiền
- Cho vay bằng tài sản
Hoạt động cho thuê tài chính .
Là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản
giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng và khách hàng thuê. Trong đó nói rõ bên
cho thuê sẽ mua tài sản và cho bên khách hàng thuê và trong thời hạn thuê khách
hàng phải trả tiền thuê theo thoã thuận. Khi kết thúc thời hạn thuê khách hàng mua
lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều khoản trong hợp đồng. Trong thời
hạn thuê các bên không đợc đơn phơng huỷ bỏ hợp đồng.
2.3 Hoạt động trung gian
Đây là hoạt động mà ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng,
thông qua đó ngân hàng tăng thêm thu nhập và nâng cao uy tín cho ngân hàng.
Hoạt động trung gian của ngân hàng bao gồm :
2.3.1 Dịch vụ thanh toán hộ.
Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng các
phơng tiện thanh toán nh séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, th tín dụng nhằm thực
hiện thanh toán cho khách hàng, tức là nhận hộ tiền cho ngời bán, trả hộ tiền cho
ngời mua thông qua hình thức kế toán trên chứng từ.
2.3.2 Dịch vụ mua bán hộ chứng khoán.
Do có uy tín nên ngân hàng thờng tham gia bảo lãnh phát hành chứng
khoán cho các Công ty cổ phần muốn huy động vốn, t vấn đầu t chứng khoán cho

8

nhu cầu vốn bổ sung kịp thời cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc
các lĩnh vực sản xuất, lu thông và dịch vụ. Ngân hàng thơng mại có thể gia tăng
hoặc thu hẹp khối lợng tín dụng và từng doanh nghiệp, hoặc có thể thực hiện quan

9

hệ tín dụng đối với doanh nghiệp trong từng trờng hợp cần thiết. Tất cả những vấn
đề đó đều liên quan, ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nh
vậy, việc sử dụngvốn vay ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu
vốn bị thiếu hụt trong kinh doanh, vừa ý thức cho doanh nghiệp về trách nhiệm
của mình trong quá trình sử dụng vốn. Từ đó giúp cho doanh nghiệp có những lựa
chọn, những quyết dịnh của mình trong việc sử dụng vốn vay ngân hàng mở rộng
hoặc thu hẹp qui mô kinh doanh hiện có .
Vai trò điều tiết kinh tế vi mô của ngân hàng thơng mại đợc thể hiện qua
việc tiếp nhận, thu hút khối lợng tiền mặt từ nền kinh tế vào NHTM cũng nh cung
ứng tiền mặt theo nhu cầu của khách hàng. Quá trình thu nhận và cung ứng khối
lợng tiền mặt trong nền kinh tế đã tạo ra quan hệ lu thông hàng hoá và lu thông
tiền tệ trong khu vực. Khối lợng tiền mặt trong nền kinh tế đi qua quỹ nghiệp vụ
NHTM là những công cụ tác động trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế ảnh hởng đến đời sống của các tầng lớp dân c.
Cùng với các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng và tiền tệ,
NHTM còn thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác trong nền kinh tế. Đây là dịch
vụ trung gian tạo cho ngân hàng thơng mại những nguồn lợi đáng kể góp phần
tăng thêm các khoản thu nhập cho ngân hàng, đồng thời cũng tạo ra những điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện và thoã mãn các yêu cầu trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế.
Nh vậy, với vai trò thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết kinh tế vi mô ngân
hàng đã xâm nhập vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cá
nhân, các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua các nghiệp vụ tín dụng, thanh
toán.

thoã thuận, ngời đi vay sẽ hoàn trả lại cho ngời cho vay. Sự hoàn trả này không chỉ
là sự bảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng còn đợc tăng thêm dới hình thức lợi
tức.Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mợn về vốn giữa ngân hàng với các cá
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên
tắc hoàn trả và có lãi.
Tín dụng trung, dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng đợc phân theo
thời hạn. Tín dụng trung, dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên một
năm và thời gian cho vay không quá thời gian khấu hao của tài sản hình thành từ
vốn vay. Tuỳ theo từng quốc gia mà quy định cụ thể về thời hạn của tín dụng
trung, dài hạn sẽ khác nhau. ở Việt Nam một khoản cho vay có thời hạn từ 1 dến
5 năm đợc coi là trung hạn và khoản vay đợc coi là dài hạn nếu có thời gian từ 5
năm trở lên.
Tín dụng trung hạn thờng đợc ngời vay sử dụng dể mua sắm tài sản cố định,
cải tiến đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc xây dựng

11

các công trình mới nhng có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Còn tín
dụng dài hạn thờng để đầu t vào việc nhập khẩu dây chuyền sản xuất hiện đại, xây
dựng các công trình có qui mô lớn, thời gian hoạt động dài.
Hiện nay tín dụng trung, dài hạn không chỉ đơn thuần là việc phát tiền vay với
thời hạn trên 1 năm mà nó còn đợc thể hiện dới nhiều hình thức. Cụ thể nh sau :
+ Cho vay theo kế hoạch đầu t xây dựng cơ bản của doanh nghiệp . Đây là loại
cho vay đợc thực hiện theo phơng pháp cho vay thông thờng dựa trên cơ sở nhu
cầu vốn của từng công trình, hạng mục công trình đợc xác định trong kế hoạch
đầu t xây dựng cơ bản của mỗi doanh nghiệp .
+ Cho vay theo dự án là một phơng pháp cho vay dựa trên một văn bản hoàn
chỉnh về vay vốn và trả nợ đợc nghiên cứu soạn thảo xét duyệt, kí kết giữa ngời đi
vay và ngân hàng, đồng thời dựa trên những căn cứ khoa học kĩ thuật phù hợp với
đờng lối phát triển kinh tế của Nhà nớc.

trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới dây chuyền công nghệ... tức là
những dự án cha thể sinh lời trong thời gian ngắn, trong khi mục đích của vay
ngắn hạn là phục vụ chi tiêu, mua nguyên vật liệu, trả lơng, bổ sung vốn lu động...
điều đó có nghĩa là để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn. Ngoài ra tín dụng
trung, dài hạn giúp các doanh nghiệp tăng cờng cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cao
năng lực cạnh tranh trên cơ sở tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và
nâng cao chất lợng sản phẩm.
- Đối tợng của tín dụng trung, dài hạn là các chi phí cấu thành trong tổng mức đầu
t xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi phục ,đổi mới kĩ thuật, ứng dụng khoa học
và công nghệ nó bao gồm : giá trị vật t, máy móc, thiết bị , công nghệ chuyển giao
sáng chế và phát minh, chi phí nhân công, giá thuê và chuyển nhợng đất đai, giá
thuê các tài sản khác trong khuôn khổ luật định, chi phí mua bảo hiểm tài sản
thuộc dự án đầu t , chi phí khác.
- Điều kiện cho vay trung ,dài hạn.
. Bên cho vay phải có t cách pháp nhân hoặc cá nhân có đủ năng lực hành vi và
năng lực pháp luật, hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ theo đúng ngành
nghề ghi trong giấy phép kinh doanh và quy định của pháp luật Việt Nam.
. Sản xuất kinh doanh phải có lãi, có nh thế các doanh nghiệp mới có đủ khả
năng trả lãi cho ngân hàng và thu lợi nhuận.
. Dự án đầu t trung, dài hạn phải có tính khả thi và các điều kiện kèm theo đối
với những dự án bắt buộc nh : xây dựng cơ bản phải có giấy xác nhận quyền sử
dụng đất có thiết kế xây dựng cơ bản đợc cơ quan Nhà nớc phê duyệt, đối với
những ngành nghề ảnh hởng đến đời sống xã hội phải có giấy phép của cơ quan
quản lí môi trờng.
. Phải có vốn tự có đầu t cho dự án theo mức cụ thể do giám đốc tổ chức tín dụng
qui định theo các đối tợng của dự án .

13

. Phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bão lãnh của ngời thứ ba theo quy chế thế

+ Mức cho vay đối với một dự án đầu t của bên vay bằng tổng mức vốn đầu t của
dự án trừ đi vốn tự có đầu t cho dự án của bên vay ( mức vốn tự có tối thiểu bắt

14

buộc theo qui định của giám đốc tổ chức tín dụng) nhng tối đa không quá 70% giá
trị tài sản thế chấp, cầm cố, bão lãnh.
Ví dụ tại NHCT Việt Nam qui định mức vốn tự có của chủ đầu t tham gia dự án :
Vốn tự có tối thiểu 40% giá tri công trình đối với cho vay, xây dựng mới.
Vốn tự có tối thiểu 30% cho các đối tợng mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới
công nghệ.
Vốn tự có tối thiểu 15% giá trị công trình đối với cho vay cải tiến kĩ thuật mở
rộng sản xuất .
Ngân hàng yêu cầu chủ đầu t phải có vốn tự có tham gia dự án để tăng c-
ờng trách nhiệm, ràng buộc của chủ đầu t đối với dự án và phân tán rủi ro đối với
ngân hàng cho vay. Mặt khác, vốn tự có thể hiện năng lực của chủ đầu t và khả
năng chủ độngtc đối với dự án. Vốn tự có của chủ đầu t vào dự án có tỷ lệ càng
cao càng tốt. Tổng d nợ vốn lu động trung, dài hạn đối với một khách hàng không
vợt quá mức 30% tổng d nợ của tổ chức tín dụng đó.
+ Thời hạn cho vay đợc tính toán trên nhiều yếu tố, nhng thời hạn tối đa không
quá 5 năm dối với cho vay trung hạn, không quá thời hạn khấu hao tài sản cố định
thuộc đối tợng đầu t đối với cho vay dài hạn. Các yếu tố đợc xác định là: chu kì
sản xuất kinh doanh, khả năng hoàn trả vốn của dự án đầu t, khả năng thu nhập
của bên vay và tính chất nguồn vốn của ngân hàng cho vay, mức khấu hao tài sản
cố định.
Thời hạn cho vay đợc tính từ ngày bên vay bắt đầu nhận tiền vay đến khi trả hết
nợ cho bên cho vay, đợc hai bên kí kết trên hợp đồng vay vốn.
+ Lãi suất cho vay.
Việc áp dụng mức lãi suất cho vay nh thế nào là vấn đề các NHTM luôn
quan tâm. Về phơng diện ngân hàng, cơ sở để xem xét và áp dụng mức lãi suất đối

5.1 Tín dụng trung, dài hạn đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu, thúc đẩy
sự chuyển dịch kinh tế theo hớng công nhiệp hoá - hiện đại hoá .
Đây là vai trò to lớn nhất của tín dụng trung, dài hạn. Nền kinh tế càng phát
triển, hàng hoá đợc sản xuất càng nhiều thì nhu cầu của con ngời không ngừng
nâng cao. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm bắt và tìm
mọi khả năng thoã mãn những nhu cầu đó. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới nâng cao chất lợng sản phẩm và muốn
vậy thì doanh nghiệp cần có vốn. Nguồn vốn ngắn hạn chỉ đáp ứng nhu cầu vốn
tạm thời trong doanh nghiệp chứ không thể giúp doanh nghiệp trong việc mua sắm
dây chuyền sản xuất hiện đại, đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng... vì để làm đợc điều
đó doanh nghiệp cần nhiều vốn và việc thu hồi vốn đàu t phải kéo dài trong nhiều
năm. Do đó hiển nhiên là doanh nghiệp rất cần vốn trung , dài hạn.
Có nhiều cách tài trợ dài hạn cho doanh nghiệp nh : phát hành cổ phiếu, trái
phiếu, tự tích luỹ... nhng phổ biến nhất vẫn là cách vay vốn qua các trung gian tài

16

chính. Đối với Việt Nam thì vay vốn ngân hàng có thể coi là lối thoát lớn nhất cho
nhu cầu vốn doanh nghiệp bởi vì thị trờng chứng khoán cha phát triển sôi động,
kinh tế nớc ta đang trong quá trình đổi mới, nhu cầu vốn lớn nhng việc cho vay lại
chứa đựng nhiều rủi ro, chính vì vậy các NHTM rất ngại cho vay trung, dài hạn do
đó xảy ra nghích lí : các ngân hàng thừa vốn trong khi đó các các doanh nghiệp
khát vốn trầm trọng. ở các ngân hàng không cung cấp vốn cho doanh nghiệp
hoặc cung cấp với thời han ngắn thì doanh nghiệp không có vốn để đầu t phát
triển đổi mới công nghệ và chỉ dừng lại ở mức tái sản xuất. Việc cho vay ngắn hạn
chỉ có lợi cho những doanh nghiệp thuộc ngành thơng mại mà đây chỉ là ngành
giúp cho quá trình lu thông hàng hoá, điều đó sẽ khiến cho nền kinh tế của đất nớc
không có sự tăng trởng bền vững.
Để từ một nớc nông nghiệp lạc hậu có nền sản xuất nhỏ manh mún trở thành
một nớc có nền kinh tế phát triển thì chúng ta không còn cách nào khác ngoài việc

cạnh tranh. Ngời vay sẽ phải sử dụng vốn của ngân hàng một cách tiết kiệm nhất,
hiệu quả nhất để có trả nợ vay ngân hàng và tái sản xuất mở rộng. Ngoài ra tín
dụng trung, dài hạn còn đóng vai trò một trong những yếu tố nâng cao năng lực
sản xuất kinh doanh góp phần khẳng định tính khả thi của dự án. Khi ngân hàng
quyết định tham gia vốn đầu t có nghĩa là những dự án đó đợc ngân hàng tìm hiểu,
nghiên cứu kĩ. Điều này buộc các nhà đầu t lập dự án phải hết sức thận trọng cân
nhắc khi đa ra các dữ kiện, số liệu, luận cứ... để thuyết phục ngân hàng cho vay.
Vì vậy, ngay từ khi lập dự án tiền khả thi, ngân hàng đã đóng vai trò là một nhà t
vấn quan trọng giúp đỡ doanh nghiệp.
Khi dự án thành công sẽ tạo nên không gian đầu t rộng lớn, có sức hấp dẫn
các nhà đầu t trong và ngoài nớc, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, thúc
đẩy sản xuất phát triển, làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, làm tăng nguồn thu
ngân sách thông qua thuế, làm sôi động khả năng cạnh tranh cùng phát triển trong
nền kinh tế thị trờng. Bản thân ngân hàng có điều kiện phát triển mở rộng thị trờng
vốn ngắn hạn bởi ví các dự án đầu t sẽ không thực hiện đợc và trở nên vô nghĩa
khi thiết bị, công nghệ đợc đầu t không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng để
mua bán nguyên vật liệu cho sản xuất.
Qua những phân tích trên ta thấy, tín dụng trung, dài hạn có vai trò rất lớn
đối với sự phát triển của nền kinh tế và đối với xã hội. Nếu thiếu nó sẽ gây ra bất
lợi, khó khăn cho việc ổn định và phát triển kinh tế của đất nớc cũng nh đời sống
nhân dân.
6. Các vấn đề cơ bản về tín dụng trung, dài hạn tại NHTM .
6.1 Lãi suất cho vay.

18

Lãi suất cho vay biểu hiện giá cả khoản tiền mà ngời cho vay đòi hỏi khi tạm
thời trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho ngời khác. Ngời đi vay coi lãi
suất nh là chi phí cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của ngời khác vì bản thân lãi
suất chứa đựng một mâu thuẫn : ngời cho vay muốn lãi cao trong khi ngời đi vay

19

Do đặc điểm cho vay trung, dài hạn là thời gian vay vốn lâu vì vậy yêu cầu
đầu tiên đối với tài sản thế chấp là tuổi thọ của tài sản phải lớn hơn thời gian vay
vốn. Yêu cầu thứ hai đối với tài sản thế chấp là phải có khả năng chuyển nhợng
mua bán dễ dàng. Ngân hàng căn cứ vào tài sản để xác định số tiền cho vay nhng
không vợt quá 70% giá trị tài sản thế chấp.
II Chất lợng tín dụng trung, dài hạn và các chỉ tiêu đánh giá.
1. Khái niệm.
Chúng ta đều biết rằng một nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng là nhận tiền
gửi để cho vay nhằm góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả công cuộc phát
triển kinh tế của đất nớc. Tỉ trọng về doanh số cũng nh về thu nhập của nghiệp vụ
tín dụng thờng chiếm tỉ lệ khá cao trong bảng cân đối của ngân hàng. Tại nhiều
ngân hàng tỉ lệ ấy đứng hàng thứ nhất so với các nghiệp vụ khác. Có thể nói rằng
chất lợng tín dụng của ngân hàng cao hay thấp phản ánh chất lợng hoạt động của
ngân hàng đó nh thế nào. Bởi vậy nâng cao chất lợng tín dụng là mối quan tâm
hàng đầu của mỗi ngân hàng.Chất lợng tín dụng là khái niệm khá rộng và đợc coi
là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội,
đảm bảo sự tồi tại và phát triển của ngân hàng.
Chất lợng tín dụng trung ,dài hạn là chất lợng của các món vay có thời hạn
trên 1 năm.
Khi nói đến chất lợng tín dụng và vai trò bà đỡ của tín dụng ngân hàng đối
với tiến trình phát triển kinh tế là nói đến loại hình tín dụng đúng nghĩa mà chất l-
ợng của nó bao giờ cũng tuân thủ 3 nguyên tắc tín dụng :
. Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích có hiệu quả
. Vốn vay phải đợc đảm boả bằng giá trị vật t hàng hoá tơng đơng.
. Vốn vay phải đợc hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng hạn cam kết.
Do vậy việc thanh tra, kiểm soát phát hiện vấn đề nảy sinh trong tín dụng
cũng từ việc chấp hành, tôn trọng các nguyên tắc đó đã diễn ra nh thế nào, điều
kiện tổ chức đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc đó nh thế nào, từ đó có

NHTM, thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện thanh toán không dùng tiền
mặt, các ngân hàng có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với số tiền thực có
hoặc lí do nào đó các chủ tài khoản có khả năng phát hành séc và thanh toán bằng
các phơng tiện khác cho khách hàng vợt quá số tiền thực tế của họ.
Nh vậy, nghiệp vụ tín dụng của NHTM có quan hệ chặt chẽ với khối lợng
tiền mặt trong lu thông và là nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát. Đảm bảo chất l-
ợng tín dụng sẽ tạo khả năng giảm bớt lợng tiền thừa trong lu thông góp phần hạn
chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng uy tín quốc gia bằng việc phát huy tác dụng của
các sản phẩm, dịch vụ trong tơng lai của các công trình đầu t.
+ Chất lợng tín dụng góp phần lành mạnh quan hệ tín dụng : Hoạt động tín
dụng đợc mở rộng với các thủ tục dơn giản hoá, thuận tiện nhng vẫn tuân thủ các

21

nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối tợng cần thiết , giảm thiểu
và đi đến xoá bỏ nạn đi vay nặng lãi chủ yếu đang hoành hành ở nông thôn và các
vùng xa xôi hẻo lánh.
Để có chất lợng tín dụng, ngoài nổ lực của bản thân ngân hàng, đòi hỏi nền
kinh tế phải ổn định và có một cơ chế phù hợp về chính sách, chế độ, sự phối hợp
nhịp nhàng có hiệu quả giữa các ngành, các cấp, tạo môi trờng thuận lợi cho sự
hoạt động của tín dụng.
Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế, xã hội. Thiết lập một cơ
chế chính sách tín dụng đồng bộ, có hiệu quả sẽ có tác động tích cực tới mọi mặt
của nền kinh tế xã hội, điều đó cũng thể hiện chất lợng hoạt động tín dụng trong
nền kinh tế thị trờng.
2.2. Nâng cao chất lợng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của các
NHTM.
Chất lợng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM do
tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng đợc vòng quay vốn tín dụng và thu hút đợc nhiều
khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh tốt về

Chỉ tiêu 2 =
Tổng lợi nhuận cho vay
Chỉ tiêu này cho thấy rõ vị trí của trung, dài hạn trong hoạt động của ngân
hàng. Chỉ tiêu này có thể sử dụng để so sánh với d nợ trung, dài hạn và chỉ tiêu sử
dụng vốn trung, dài hạn để đa ra kết luận về hiệu quả của việc cho vay và món vay
có thời hạn trên 1 năm.
+ Chỉ tiêu vòng vay vốn
Thu nợ trung, dài hạn
Chỉ tiêu 3 =
Tổng d nợ trung, dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng tín
dụng đợc bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới. Vòng quay càng lớn chứng tỏ
ngân hàng càng thu đợc nhiều nợ và chứng tỏ rằng nguồn vốn trung, dài hạn mà
ngân hàng đầu t hoạt động có hiệu quả.
+ Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Nợ quá hạn trung, dài hạn
Chỉ tiêu 4 =
Tổng d nợ trung, dài hạn
Đến kì trả nợ và trả lãi tiền vay nếu bên vay không đủ tiền trả và không đợc
gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ quá hạn. Nợ quá hạn không

23

bao giờ là điều mong muốn của ngân hàng nhng đây không phải là thớc đo chính
xác để đánh giá chất lợng khoản vay. Trên thực tế các ngân hàng luôn cố hạ đến
mức thấp nhất tỉ lệ nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn dới 3% đọc coi là chấp nhận đ-
ợc.
Nợ quá hạn khó đòi trung, dài hạn
Chỉ tiêu 5 =
Tổng d nợ trung, dài hạn

khoản lợi lớn hơn cho doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
nghiệp t nhân trong trờng hợp này thì chất lợng tín dụng là tốt trong khi đối với
các ngân hàng nhất là các NHTM quốc doanh chỉ tiêu tăng lao động rất đợc quan
tâm thì chất lợng khoản tín dụng sẽ không đợc đánh giá cao về mặt này.
Tóm lại mục tiêu cho vay trung, dài hạn của ngân hàng không chỉ đơn thuần
là để thu lãi suất mà thông qua nguồn vốn đó, ngân hàng kích thích đợc hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cơ sở cho sự phát triển nề kinh tế.
Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có lãi lại muốn đầu t vào dự án mới , lại xuất
hiịen nhu cầu tín dụng mới. Cứ nh vậy ngân hàng và doanh nghiệp cùng hỗ trợ cho
nhau tồn tại và phát triển.
4. Các nhân tố ảnh hởng đến chất lợng tín dụng trung ,dài hạn .
4.1 Về phía ngân hàng .
4.1.1 Hoạt động thẩm định.
Bất kì nghiệp vụ nào của ngân hàng cũng chứa đựng rủi ro các cấp độ khác
nhau. Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhất là
hoạt động tín dụng trong đó hoạt động có hệ số rủi ro cao, phức tạp và khó quản lí
nhất là tín dụng trung, dài hạn. Do vậy các ngân hàng phải có các giải pháp tự bảo
vệ mình, giảm tỉ lệ rủi ro để bảo toàn vốn tín dụng. Một trong các yếu tố bảo toàn
vốn là phải thẩm định khách hàng, thẩm định dự án đầu t trung hạn đối với món
vay có thời hạn trên 1 năm dới 5 năm và thẩm định dự án đầu t dài hạn đối với
món vay có thời hạn trên 5 năm.
Nếu việc thẩm định không đợc tiến hành theo đúng trình tự, nội dung đầy
đủ thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn. Ngay cả khi doanh
nghiệp trả đợc nợ trong tơng lai thì món vay đó cha chắc đã đợc coi là chất lợng
cao vì bên cạnh lợi nhuận đem lại cho ngân hàng, doanh nghiệp phải đem lại lợi
ích cho cả xã hội. Ngợc lại, công tác thẩm định đợc tiến hành chặt chẽ trên các
phơng diện nh phơng diện thị trờng, phơng diện kĩ thuật, tính khả thi và nội dung
kinh tế tài chính, môi trờng xã hội, phơng diện tổ chức quản lí thì khả năng món
vay đó có chất lợng cao là rất lớn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status