BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LA ĐĂNG QUANG
QUÁ TRÌNH CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Thị Minh Sơn
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận
văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học nêu trong luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
La Đăng Quang
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
22
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ QUÁ
23
TRÌNH CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về nội dung quá trình chứng
23
minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
2.2. Quy định khác liên quan đến quá trình chứng minh trong giai đoạn điều
31
tra vụ án hình sự
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
52
Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
53
CỦA QUÁ TRÌNH CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
3.1. Thực tiễn thi hành những quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Cơ quan điều tra
ĐTV
Điều tra viên
HĐXX
Hội đồng xét xử
KSV
Kiểm sát viên
PLTTHS
Pháp luật tố tụng hình sự
TA
Tòa án
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, ĐỒ THỊ
Bảng 3.1 Tình hình giải quyết án sơ thẩm của Tòa án giai đoạn 2009-2013.
Bảng 3.2 Số vụ án, bị can CQĐT,VKS đình chỉ từ năm 2009 đến 2013.
Bảng 3.3 Tình hình TA sơ thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung cho VKS từ năm 2009
đến năm 2013.
Biểu đồ số 3.1. Số bị cáo TA sơ thẩm tuyên không phạm tội từ năm 2009 đến 2013.
Biểu đồ số 3.2. Số vụ án VKS trả hồ sơ cho CQĐT yêu cầu điều tra bổ sung từ năm
2009 đến năm 2013.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, công tác tư pháp luôn được Đảng và Nhà nước quan
tâm chỉ đạo. Đặc biệt đối với lĩnh vực tố tụng hình sự Đảng và Nhà nước đã có những
chủ trương cải cách, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Điều đó được thể hiện qua
việc ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02
tháng 06 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Với mục tiêu đề ra
“Xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu
lực cao”[1] là hoàn toàn phù hợp với thể chế của nhà nước ta, một nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và phù hợp với xu thế phát triển của đất
nước.
Việc đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp bằng những định hướng được đề cập
tại các Nghị quyết nói trên cùng với sự chỉ đạo quyết liệt từ phía những cơ quan tư pháp
minh tội phạm ở mức độ không nhỏ được pháp luật giao cho các Cơ quan điều tra”[30,
tr.200]. Quá trình chứng minh trong giai đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc giải quyết vụ án, bảo đảm cơ sở cho các hoạt động tố tụng ở các giai đoạn sau được
khách quan, chính xác, quyết định tính đúng đắn trong phán quyết, quyết định của cơ
quan tố tụng trong việc giải quyết vụ án.
Mặt khác, cùng với xu thế hội nhập hiện nay, kinh tế và xã hội không ngừng phát
triển kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ của tội phạm không chỉ về số lượng mà cả về loại
hình tội phạm cũng hết sức đa dạng với sự xuất hiện của nhiều loại tội phạm mới như: tội
phạm công nghệ cao, tội phạm kinh tế, tội phạm môi trường, tội phạm mang tính quốc
tế… với thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt và chuyên nghiệp hơn, gây khó
khăn cho công tác điều tra. Trong khi trên thực tế quá trình tố tụng cho thấy vẫn còn để
xảy ra nhiều trường hợp có sai sót trong quá trình giải quyết vụ án, làm oan người vô tội,
bỏ lọt tội phạm; Tòa án hoặc Viện kiểm sát phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, thậm
chí có trường hợp phải hủy án để điều tra lại; Trình độ cũng như ý thức của người tiến
hành tố tụng còn chưa cao; Vấn đề nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận cũng như quy định
của pháp luật về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để vận dụng
vào thực tiễn tố tụng còn ít được quan tâm nghiên cứu.
Do đó cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực
tiễn về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Chính vì những lý do nói trên, tác giả đã chọn đề tài “Quá trình chứng minh trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quá trình
chứng minh trong tố tụng hình sự ở những mức độ và phạm vi khác nhau.
Nội dung cơ bản của quá trình chứng minh được đề cập đến trong một số giáo
trình, tài liệu chuyên ngành như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2011; Giáo trình Luật tố tụng
hình sự Việt Nam của trường Học viện cảnh sát năm 2005; Bình luận khoa học Bộ luật tố
tụng hình sự của PGS.TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2004;
hoặc nghiên cứu về một hoặc một số vấn đề cụ thể của hoạt động chứng minh. Các tác
giả đã đưa ra được những kiến nghị hoàn thiện có giá trị để hoạt động chứng minh trong
tố tụng hình sự ngày càng đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào tập
trung nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về quá trình chứng minh trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự. Vì vậy việc nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ
thống về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để từ đó đưa ra
những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của PLTTHS về quá trình chứng minh trong
giai đoạn điều tra là hết sức cần thiết.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ một cách cơ bản và toàn diện
những vấn đề lý luận, phân tích và đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng hình sự
hiện hành về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, kết hợp với
đánh giá tình hình áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng ở nước ta và
thông qua so sánh với một số quy định về vấn đề này của BLTTHS Liên Bang Nga và
Trung Quốc, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần làm tăng hiệu quả áp
dụng pháp luật trong thực tiễn, nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự, đặc biệt là
các giải pháp hoàn thiện pháp luật có liên quan đến quá trình chứng minh trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nói trên, tác giả đặt ra
những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự.
+ Nghiên cứu làm rõ những quy định về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự của luật TTHS Việt Nam và so sánh với một số quy định về vấn đề này của
BLTTHS Liên Bang Nga và Trung Quốc.
+ Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về quá trình chứng minh trong giai đoạn
- Chỉ ra những bất cập của luật TTHS Việt Nam về quá trình chứng minh trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự; những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan THTT
hình sự liên quan đến quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; chỉ ra
nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế đó. Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
quy định của luật TTHS Việt Nam về chứng minh và nâng cao chất lượng điều tra vụ án
hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của luận văn bao gồm
03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự
- Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quá trình chứng
minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- Chương 3: Thực tiễn thi hành và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của quá
trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH CHỨNG MINH TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Như chúng ta đã biết, tội phạm là một hiện tượng xã hội phức tạp, xảy ra trong quá
khứ; người phạm tội luôn tìm cách che giấu hành vi mà mình đã thực hiện nhằm trốn
tránh sự trừng phạt của pháp luật. Trong khi đó các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng lại không được chứng kiến toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội, để giải quyết
vụ án hình sự họ phải trải qua một quá trình nhận thức về sự việc phạm tội đã xảy ra.
Việc nhận thức về vụ án hình sự là việc phản ánh một cách khách quan toàn bộ những
diễn biến về vụ án hình sự. Hay nói cách khác đó là một quá trình tái hiện lại chính xác,
toàn cảnh “bức tranh” về vụ việc phạm tội đã xảy ra. Quá trình này đòi hỏi phải tuân theo
tâm nghiên cứu về vấn đề quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, về khái niệm quá
trình chứng minh còn có nhiều quan điểm khác nhau:
+ Quá trình chứng minh vụ án hình sự là “quá trình xác định sự thật khách quan
của vụ án” [34, tr.210].
+ Quan điểm thứ hai: “Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức các sự kiện,
các tình tiết của vụ án hình sự” [35, tr.330].
+ Quan điểm thứ ba: “Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức các sự kiện,
các tình tiết của vụ án hình sự thông qua các chứng cứ” [13, tr.164].
Có thể thấy rằng ở quan điểm thứ nhất, quan điểm thứ hai và thứ ba xây dựng khái
niệm về quá trình chứng minh một cách khái quát, chưa đề cập đến các yếu tố về chủ thể
chứng minh, đối tượng chứng minh. Quan điểm thứ ba chi tiết hơn quan điểm thứ hai, đó
là đã thể hiện quá trình chứng minh là một quá trình nhận thức, chỉ ra được phương tiện
để tiến hành hoạt động chứng minh là các chứng cứ.
+ Quan điểm thứ tư: “Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức, được tạo bởi
các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng
thực hiện phù hợp với những quy định của BLTTHS, phục vụ cho việc giải quyết đúng
đắn vụ án” [28, tr.139].
+ Quan điểm thứ năm: “Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình
tư duy và thực tiễn của những người có thẩm quyền chứng minh dựa trên cơ sở các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin tư liệu
cần thiết nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ,
đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự” [27, tr.18, 19].
Quan điểm thứ tư và thứ năm đầy đủ hơn, đã thể hiện được chủ thể tiến hành hoạt
động nhận thức trong quá trình chứng minh cũng như cơ sở của việc tiến hành hoạt động
chứng minh và mục đích của quá trình chứng minh.
Chúng tôi cho rằng khái niệm quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự phải thể
hiện được đây là một quá trình nhận thức thế giới khách quan, chỉ ra được đầy đủ các yếu
tố về chủ thể chứng minh, đối tượng chứng minh, phương tiện chứng minh, cơ sở pháp lý
để tiến hành hoạt động chứng minh cũng như mục đích của quá trình chứng minh. Từ đó
có thể xây dựng khái niệm quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự như sau: Quá trình
giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau: Quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự là quá trình tư duy và thực tiễn của chủ thể có trách nhiệm chứng minh
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật tố
tụng hình sự, được tạo bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác
định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, đảm bảo cho việc giải
quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Quá trình chứng minh ở giai đoạn điều tra được đúng hướng, có chất lượng sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát và Tòa án trong việc giải quyết vụ án ở những giai
đoạn tố tụng sau này.
1.2. Chủ thể có trách nhiệm chứng minh và đối tượng chứng minh
- Chủ thể có trách nhiệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự:
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định chủ thể chứng minh trong TTHS
gồm có cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng
bao gồm CQĐT, VKS, TA, ngoài ra còn có các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra gồm: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh
9
sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, các cơ quan khác của Quân đội nhân
dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Người tiến hành tố tụng bao
gồm: Thủ trưởng CQĐT, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên; Viện trưởng VKS, Phó
Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội
thẩm, Thư ký Tòa án; Cán bộ làm công tác điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra.
Như vậy chủ thể chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự bao gồm cơ
quan THTT là CQĐT, VKS và một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra và người tiến hành tố tụng tương ứng thuộc các cơ quan này là ĐTV, KSV
và cán bộ làm công tác điều tra của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra.
mức độ nào là cần và đủ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án chính là giới hạn của việc
chứng minh.
Trong khoa học tố tụng hình sự Việt Nam, đối tượng chứng minh được hiểu là
toàn bộ những tình tiết cần phải chứng minh để làm rõ nội dung và bản chất vụ án xảy ra.
Tổng hợp các tình tiết đó tạo cơ sở cho việc xác định tội phạm và cá thể hóa trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội. Hay nói cách khác “đối tượng chứng minh là toàn bộ
những tình tiết thực tế của một vụ án hình sự, phản ánh những vấn đề thuộc về nội dung
của vụ án đó cũng như những vấn đề thuộc về điều kiện để đảm bảo chính xác nội dung
ấy” [25, tr.119]. Hiểu theo nghĩa này thì “đối tượng chứng minh gồm các tình tiết thực tế
cần phải xác định để giải quyết những vấn đề bắt buộc phải làm sáng tỏ trong tất cả các
vụ án hình sự nói chung cũng như cả những vấn đề chỉ nảy sinh hoặc có thể nảy sinh
trong quá trình giải quyết các vụ án cụ thể nào đó.” [25, tr.119]
Việc làm sáng tỏ các yếu tố của đối tượng chứng minh đó ở mức độ nào là cần và
đủ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án đòi hỏi chủ thể có trách nhiệm chứng minh phải
xác định được phạm vi chứng minh, đó chính là giới hạn chứng minh. “Thông thường,
giới hạn chứng minh được hiểu là ranh giới của việc thu thập và nghiên cứu những tình
tiết có ý nghĩa đối với vụ án. Việc xác định giới hạn chứng minh chính là xác định ranh
giới của việc thu thập và nghiên cứu các tình tiết đó ở mức độ đủ để bảo đảm cho việc
giải quyết vụ án theo đúng yêu cầu của pháp luật” [15, tr.16].
1.3. Nguồn chứng cứ
Phương tiện chứng minh trong quá trình chứng minh là các chứng cứ, đó là tất cả
những gì thuộc về thế giới khách quan mà con người có thể tri giác được có giá trị chứng
minh tội phạm, được rút ra từ những nguồn chứng cứ do pháp luật quy định [27, tr.17].
Khái niệm nguồn chứng cứ được hiểu là nơi cung cấp những tài liệu, thông tin quan trọng
để từ đó có thể rút ra được chứng cứ có giá trị xác định sự thật khách quan của vụ án.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì “không có hình thức nào tồn tại thuần
túy không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dung nào lại không tồn tại
trong một hình thức xác định” [12, tr. 245] . Do đó, việc làm rõ khái niệm chứng cứ và
nguồn chứng cứ, cũng như làm sáng tỏ các loại nguồn chứng cứ có ý nghĩa lý luận-thực
tiễn quan trọng để giải quyết vụ án hình sự được khách quan, chính xác và đúng pháp
bởi các yếu tố như trạng thái tâm lý, lợi ích hay bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài
do đó sẽ thiếu đi yếu tố khách quan. Bởi vậy trong quá trình lấy lời khai đòi hỏi chủ thể
tiến hành phải linh hoạt và có chiến thuật cụ thể để khai thác được những thông tin đúng
với thực tế, phục vụ cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đạt kết quả.
Thứ ba: Kết luận giám định là kết luận về ý kiến chuyên môn của chuyên gia
(giám định viên) đối với một vấn đề, sự kiện hay vật chứng nào đó được cơ quan tiến
hành tố tụng trưng cầu. Kết luận giám định là chứng cứ quan trọng mà cơ quan tiến hành
tố tụng dựa vào đó để đưa ra đánh giá, kết luận về một nội dung (hoặc vấn đề) nào đó
trong một vụ án hình sự. Bản kết luận giám định chính là đánh giá khoa học bằng văn bản
của người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực được cơ quan tố tụng trưng cầu giám
định. Đây là nguồn chứng cứ quan trọng có giá trị chứng minh cao do loại chứng cứ này
được dựa trên cơ sở của các kiến thức và thành tựu khoa học.
Thứ tư: Biên bản hoạt động tố tụng là những văn bản ghi nhận quá trình hoạt động
tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Những hoạt động
của cơ quan tiến hành tố tụng đều phải lập thành văn bản và biên bản tố tụng chính là nơi
12
ghi lại những hoạt động tố tụng đó. Những tình tiết được ghi trong biên bản tố tụng (biên
bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám xét, biên bản
thực nghiệm điều tra…) được coi là chứng cứ nếu được tiến hành theo đúng quy định của
pháp luật, thông tin đầy đủ về mặt nội dung, đúng theo hình thức, thể thức quy định.
1.4. Nội dung và ý nghĩa của quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự
1.4.1. Nội dung quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự với vai trò là hoạt
động tư duy và thực tiễn của chủ thể có trách nhiệm chứng minh trong giai đoạn điều tra,
đó là một dạng của quá trình nhận thức nên nó không chỉ tuân thủ các quy luật khách
quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức mà còn phải tuân thủ chặt chẽ các
giai đoạn: thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ. Như vậy chứng
minh trong giai đoạn điều tra gồm các hoạt động sau:
- Thu thập chứng cứ
Thu thập chứng cứ là hoạt động đầu tiên của quá trình chứng minh trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự. Hoạt động này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn bộ quá
trình chứng minh tội phạm bởi kết quả thu được từ hoạt động thu thập chứng cứ ở giai
đoạn điều tra có ánh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Theo quy định
của pháp luật tố tụng hình sự thì quá trình thu thập chứng cứ được hiểu là quá trình thu
thập nguồn chứng cứ hoặc thu thập ngay chính chứng cứ. Số lượng cũng như chất lượng
các chứng cứ thu thập được sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc cũng có thể gây khó khăn cho
quá trình điều tra, rộng hơn là gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công
tác xác định sự thật khách quan của vụ án.
Về khái niệm thu thập chứng cứ, tác giả nhất trí với quan điểm của PGS.TS Hoàng
Thị Minh Sơn khi cho rằng “Thu thập chứng cứ là việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng
các biện pháp và phương pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, ghi nhận, thu giữ
và bảo quản các thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án phục vụ cho việc giải
quyết vụ án” [29, tr. 65]. Xét về nội dung, giai đoạn thu thập chứng cứ bao gồm các hoạt
động phát hiện, thu giữ, ghi nhận và bảo quản chứng cứ.
Chỉ những người có thẩm quyền do BLTTHS quy định mới có quyền thu thập
chứng cứ. Điều tra viên, kiểm sát viên và những người có thẩm quyền của cơ quan được
giao thực hiện một số hoạt động điều tra điều tra có quyền tiến hành hoạt động thu thập
chứng cứ ở giai đoạn điều tra. Ngoài ra những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức
hoặc bất cứ cá nhân nào cũng đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề
liên quan đến vụ án. Người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan
đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của
người bị tạm giữ, bị can nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác.
Quá trình chứng minh vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải
thực hiện các giai đoạn thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Đối với giai đoạn điều tra,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và kiểm sát viên phải đặc biệt
quan tâm và tập trung nhiều hơn tới việc thu thập chứng cứ, bởi không thu thập được đầy
dung vụ án, tiếp nhận tài liệu, đồ vật, thông tin liên quan đến vụ án do các cơ quan, tổ
chức, cá nhân chủ động cung cấp. Chứng cứ liên quan đến vụ án thường rất đa dạng và có
giá trị chứng minh khác nhau do đặc điểm hình sự của từng loại tội phạm và hoàn cảnh
cụ thể xảy ra đối với từng vụ án là khác nhau nên quá trình phát hiện chứng cứ đòi hỏi
chủ thể chứng minh phải có trình độ nghiệp vụ và tư duy sâu sắc.
Sau khi phát hiện chứng cứ, chủ thể chứng minh sẽ tiến hành hoạt động ghi nhận
chứng cứ. Đây chính là quá trình mô tả, sao chép, phản ánh lại những đặc tính và dấu
hiệu của các nguồn lưu giữ thông tin về vụ án đã được phát hiện vào trong các nguồn
chứng cứ theo quy định của pháp luật. Quá trình ghi nhận chứng cứ ghi nhận lại nội dung
thông tin đầy đủ nhất về đối tượng cần phản ánh với toàn bộ đặc tính và dấu hiệu của
chứng cứ. Khi ghi nhận chứng cứ, cần mô tả, chuyển tải một cách đầy đủ những đặc điểm
vốn có của nó, không được lồng ghép nhận xét, đánh giá chủ quan của người mô tả bởi
ghi nhận chứng cứ một cách khách quan, đúng quy định của pháp luật là điều kiện để làm
nên giá trị chứng minh của của chứng cứ trong vụ án. Quá trình ghi nhận chứng cứ phải
15
tuân thủ các cách thức, sử dụng các phương tiện phù hợp xuất phát từ đặc điểm của đối
tượng được mô tả như lập biên bản (khám nghiệm hiện trường, khám xét, thực nghiệm
điều tra, lấy lời khai, hỏi cung…) hoặc vẽ sơ đồ hiện trường, hoặc bằng hình thức trực
quan hình ảnh…
Thu giữ chứng cứ là hoạt động được thực hiện đối với những chứng cứ tồn tại
dưới dạng vật chất và cần phải được lưu giữ để bảo đảm được tính nguyên vẹn của thông
tin để phục vụ cho hoạt động kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Các phương tiện,
phương pháp thu giữ chứng cứ và nguồn chứng cứ cần dựa trên những đặc điểm riêng
của chính đối tượng cần thu giữ. Việc thu giữ chứng cứ và nguồn chứng cứ không đúng
phương pháp khoa học, không tuân theo thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định có
thể sẽ làm chứng cứ bị hủy hoại, không có giá trị chứng minh. Thu giữ chứng cứ và ghi
nhận chứng cứ là hoạt động quan trọng để thu thập chứng cứ, tuy nhiên hai hoạt động này
Những chứng cứ đã thu thập được chỉ có thể trở thành cơ sở cho các kết luận,
quyết định của cơ quan tố tụng khi được kiểm tra một cách khách quan, toàn diện và kỹ
càng. Kiểm tra chứng cứ là giai đoạn tiếp theo của thu thập chứng cứ trong quá trình
chứng minh vụ án hình sự, quá trình này nhằm xác định những thông tin, tài liệu, đồ vật
đã thu thập được có hay không thỏa mãn các thuộc tính của chứng cứ là tính khách quan,
tính liên quan và tính hợp pháp. Khi có đầy đủ các đặc điểm nói trên thì chứng cứ mới có
giá trị chứng minh và được sử dụng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự. Các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được phép dựa vào những chứng cứ
đã được kiểm tra để từ đó đưa ra những quyết định xử lý vụ án để đảm bảo được tính có
căn cứ và đúng đắn trong quyết định của mình.
Hoạt động kiểm tra chứng cứ bao gồm kiểm tra từng tài liệu, đồ vật và so sánh các
tài liệu, đồ vật có phù hợp với nhau để xác định các thông tin mà tài liệu, đồ vật đó cung
cấp có đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ hay không. Lượng chứng cứ thu thập trong
quá trình tố tụng là rất lớn do đó đòi hỏi quá trình kiểm tra chứng cứ phải thận trọng và tỉ
mỉ, tốn nhiều thời gian, công sức cũng như tiền bạc, phải sử dụng nhiều biện pháp khác
nhau và cần đến sự hỗ trợ của các cơ quan khác.
Vậy kiểm tra chứng cứ là hoạt động do các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng và một số chủ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
thực hiện nhằm xác định tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của nguồn
chứng cứ đã được thu thập.
Kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động do Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra thực hiện nhằm xác định tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp
đối với nguồn chứng cứ đã được thu thập trong giai đoạn điều tra. Theo Giáo trình luật tố
tụng hình sự của Trường đại học Luật Hà Nội thì chứng cứ được kiểm tra bằng các
phương pháp phổ biến sau:
Phân tích từng chứng cứ từ góc độ tính khách quan, tính liên quan cũng như tính
hợp pháp để khẳng định thông tin, tài liệu thu thập được có được sử dụng làm chứng cứ
không;
So sánh, đối chiếu các chứng cứ với nhau để xác định các thuộc tính của chứng cứ
niệm trên, tuy nhiên quá trình đánh giá chứng cứ ngoài cơ sở là những hiểu biết pháp
luật, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm thì còn đòi hỏi chủ thể đánh giá chứng cứ phải
có những hiểu biết về những tài liệu đã thu thập, đó chính là những tri thức khoa học để
từ đó mới có thể đánh giá một cách chính xác, toàn diện giá trị của chứng cứ cũng như
tổng hợp chứng cứ có trong vụ án. Bởi vậy theo tác giả thì khái niệm đánh giá chứng cứ
nên được bổ sung như sau: “Đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy logic của các chủ
thể có trách nhiệm chứng minh, được tiến hành trên cơ sở những tri thức khoa học, hiểu
biết pháp luật, ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm để xác định mức độ tin cậy, giá trị của
từng chứng cứ cũng như tổng hợp chứng cứ có trong vụ án để rút ra kết luận về vụ án”
Theo quan điểm của TS. Đỗ Văn Đương thì: “Đánh giá chứng cứ trong điều tra
vụ án hình sự là hoạt động tư duy logic của điều tra viên và những người tham gia điều
tra, được tiến hành trên cơ sở những hiểu biết của mình về những tài liệu đã thu thập
được, dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm
18
để xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của từng chứng cứ cũng như cả hệ thống
chứng cứ trong vụ án, được thực hiện trong suốt quá trình điều tra nhằm làm sáng tỏ
toàn bộ sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.” [18, tr.66]. Tác giả
đồng ý với quan điểm trên bởi đã thể hiện được đầy đủ các yếu tố của quá trình đánh giá
chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Tuy nhiên có thể thu gọn lại khái niệm
đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS như sau: “Đánh giá chứng cứ trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động tư duy logic của chủ thể có trách nhiệm
chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trên cơ sở những tri thức khoa học,
những quy định của pháp luật, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm để xác định mức độ
tin cậy, giá trị của từng chứng cứ cũng như tổng hợp chứng cứ đã được thu thập, kiểm
tra để từ đó rút ra kết luận về vụ án.”
Quá trình đánh giá chứng cứ chính chính là quá trình nhận thức cái chưa biết, do đó
nó phải tuân theo các quy luật của phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
với các chứng cứ đã được thu thập trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau để rút ra giá trị
chứng minh của chúng. Từ đó Cơ quan điều tra làm rõ được bản chất của vụ án và rút ra
kết luận phù hợp.
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, việc đánh giá chứng cứ phải xác định được
từng chứng cứ có đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ hay không để có thể sử dụng vào
việc chứng minh vụ án. Trường hợp không đầy đủ các thuộc tính hoặc có sự nghi ngờ
hoặc không liên quan đến đối tượng chứng minh thì cần phải kiểm tra lại hoặc phải loại
bỏ để tránh tình trạng chứng minh thiếu căn cứ hoặc tràn lan. Khi đánh giá chứng cứ, chủ
thể đánh giá cần chú ý đến tính đặc thù của chứng cứ, không được áp đặt máy móc cách
đánh giá chứng cứ của vụ án này vào việc đánh giá chứng cứ của vụ án khác. Hơn nữa,
trong hoạt động điều tra, chủ thể có trách nhiệm chứng minh cần xuất phát từ thực tế
những dấu vết của tội phạm để lại trong thế giới khách quan để thu thập, kiểm tra và đánh
giá được đầy đủ sự thật khách quan như nó đã phản ánh dựa trên những tri thức cũng như
kinh nghiệm của bản thân. Cần tránh nhận thức cảm tính, áp đặt ý chí chủ quan đối với
các chứng cứ, không xem xét chứng cứ trong mối liên hệ với các chứng cứ khác để tìm
hiểu nguồn gốc cũng như bản chất của sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ với hành vi
phạm tội. Điều này dễ dẫn đến việc đánh giá không đúng chứng cứ, xác định không chính
xác sự thật khách quan của vụ án.
Mối quan hệ giữa các hoạt động của quá trình chứng minh trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự nói chung cũng như trong giai đoạn
điều tra nói riêng, các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ luôn đan xen, kết
hợp với nhau trong mỗi giai đoạn tố tụng, thậm chí trong một hành vi tố tụng cụ thể. Ví
dụ: trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để thu thập chứng cứ thì Điều tra viên tiến hành
thực nghiệm điều tra, hoạt động này ngoài mục đích thu thập chứng cứ thì cũng nhằm
mục đích kiểm tra chứng cứ. Định hướng cho sự cần thiết phải tiến hành hoạt động điều
tra này chính là những chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra bằng các hoạt động điều tra
khác mà Cơ quan điều tra đã tiến hành trước đó (như khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, hỏi cung bị can…)
Theo PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn thì “Việc phân chia quá trình chứng minh
về mặt chính trị, ý nghĩa pháp lý và cả ý nghĩa xã hội.
- Ý nghĩa về mặt chính trị
Với vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, quá
trình chứng minh trong giai đoạn điều tra sẽ giúp giải quyết vụ án được đúng người, đúng
tội, không làm oan người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm, tạo nền tảng cho hoạt động
chứng minh ở các giai đoạn tiếp theo của vụ án. Ngược lại quá trình thu thập, kiểm tra,
đánh giá chứng cứ không đầy đủ sẽ dẫn đến sai lầm trong hoạt động tố tụng, làm giảm
niềm tin của quần chúng nhân dân vào các cơ quan tư pháp. Do vậy quá trình chứng minh
có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con
người và quyền công dân. Quá trình chứng minh được thực hiện tốt sẽ đáp ứng được yêu
cầu đặt ra của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cụ thể hóa chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm và công cuộc cải cách tư pháp.