Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của hiệp hội các quốc gia đông nam á - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
-----***-----

TRẦN THỊ THU TRÀ

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG MẠI
CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 60

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn:
PGS. TS. Hoàng Phước Hiệp

HÀ NỘI – 2011


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện công trình nghiên cứu, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình và vô cùng quý báu từ các thầy cô, gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, nghiêm túc và khoa
học của thầy giáo PGS.TS Hoàng Phước Hiệp.
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trường Đại học
Luật Hà Nội, các anh chị em học viên Cao học khoá XVII và các đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Học viên

1.2. KHÁI NIỆM CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
CỦA ASEAN……………………………………………………………...15
1.3. CÁC BÊN TRANH CHẤP VÀ PHẠM VI GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG MẠI CỦA ASEAN……………………….15
1.3.1. Các bên tranh chấp …………………………………………………16
1.3.2. Phạm vi giải quyết tranh chấp………………………………………16
1.4. CƠ QUAN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP………………………….17
1.5. NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP……20
1.6. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP………………21
1.7. THI HÀNH PHÁN QUYẾT………………………………………….24
1.8. THI HÀNH PHÁN QUYẾT……………………………………………24
Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ THƯƠNG MẠI CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á…..27
2.1. PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG
MẠI CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á………………..27


2.1.1. Quy trình giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN theo
Nghị định thư năm 1996……………………………………………………28
2.1.2. Quy trình giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN theo
Nghị định thư năm 2004……………………………………………………31
2.1.3. Quy trình giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN theo
Nghị định thư năm 2010……………………………………………………47
2.2. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG MẠI
CỦA ASEAN ………………………………………..……………………51
2.2.1. Thực tiễn áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại chính thức
của ASEAN theo các Nghị định thư ……………………………………..51
2.2.2. Thực tiễn áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại thông qua
con đường ngoại giao……………………………………………………..52
2.3. ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT ASEAN VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG MẠI ………………….56

không thể tránh khỏi của sự hợp tác tăng cường thông qua các thoả thuận
song phương, khu vực và quốc tế là sự xuất hiện các tranh chấp liên quan đến
việc giải thích và thực hiện các thoả thuận quốc tế. Theo đó, một cơ chế đáng
tin cậy cho việc giải quyết các tranh chấp thương mại phát sinh đã trở nên cần
thiết để đảm bảo chức năng hiệu quả và liên tục của các thoả thuận quốc tế
này. Trong những năm qua, các cơ chế giải quyết tranh chấp nói chung và giải
quyết tranh chấp thương mại nói riêng đã phát triển từ các cơ chế tương đối
đơn giản dựa trên con đường ngoại giao như đã đề ra trong GATT, đến các cơ
chế mang tính chất pháp lý dựa trên việc xét xử được tìm thấy trong WTO.
Các hiệp định song phương và khu vực hay các thiết chế khu vực chẳng hạn
như NAFTA, EU đã thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp dựa trên quy trình
xét xử ở các mức độ khác nhau.
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất vào năm 1976,
ASEAN đã dẫn đầu việc tạo ra một khối thương mại khu vực trong khu vực
Đông Nam Á, hợp tác và phát triển kinh tế giữa các nước trong khu vực
ASEAN bắt đầu được quan tâm. Đã có nhiều văn kiện pháp lý về kinh tế thương mại được ký kết trong khuôn khổ ASEAN trong thời kì này như: Thoả
thuận ưu đãi thương mại (PTA) năm 1977, Chương trình liên doanh công
nghiệp ASEAN (AIJV) năm 1983, Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu
tư năm 1987,… Tuy nhiên, trong thời kì đầu liên kết kinh tế, mức độ hợp tác


2

diễn ra chậm bởi thời kì này ASEAN coi hợp tác khu vực nói chung và hợp
tác an ninh chính trị nói riêng là biện pháp quan trọng để hoà bình ổn định
khu vực, coi đây là nền tảng cho những bước hợp tác quan trọng trong tương
lai của ASEAN. Phải tới đầu những năm 90, hợp tác phát triển kinh tế khu
vực mới được chú trọng và có những bước tiến đáng kể. Tại Hội nghị thượng
đỉnh lần thứ 4 tại Singapore năm 1992, các nước ASEAN đã thông qua Tuyên
bố Singapore, Hiệp định khung về tăng cường hợp tác ASEAN và đặc biệt là

3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn
a. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp
kinh tế - thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (sau đây gọi tắt
là cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của ASEAN) xuất phát từ mô hình
ngoại giao là chủ yếu sang một hệ thống dựa trên các quy định pháp luật với
tham chiếu cụ thể là bối cảnh ASEAN. Từ đó có cơ sở khoa học để đánh giá
pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại của Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á, cụ thể là đánh giá mức độ việc thông qua Nghị định thư về tăng
cường giải quyết tranh chấp năm 2004 để từ đó có thể tiến hành giải quyết các
vụ tranh chấp thương mại phát sinh trong khu vực.
Bên cạnh đó, Luận văn cũng nghiên cứu xác định các triển vọng và
thách thức mà ASEAN phải đối mặt trong việc thực hiện cơ chế giải quyết
tranh chấp thương mại của mình dựa trên việc so sánh với cơ chế giải quyết
tranh chấp thương mại trong các hiệp định thương mại khác. Mặt khác, Luận
văn xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của Việt Nam hiện nay,
phương hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về giải quyết tranh chấp thương mại để hài hoà hoá với cơ chế giải quyết
tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN.
b. Phạm vi nghiên cứu của luận văn


4

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề giải quyết các tranh
chấp thương mại phát sinh giữa các quốc gia luôn được nhìn nhận là lĩnh vực
phức tạp. Mặt khác, với sự phát triển của quan hệ quốc tế hiện nay, thực tiễn
của hoạt động giải quyết các tranh chấp thương mại ở các tổ chức quốc tế nói
chung và của ASEAN nói riêng đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần được
quan tâm nghiên cứu. Bản luận văn không đề cập được đến tất cả các vấn đề

5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế
- thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Chương 2: Pháp luật và thực tiễn vận hành cơ chế giải quyết tranh chấp
kinh tế - thương mại của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam để đáp ứng cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của
ASEAN


6

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH TẾ - THƯƠNG MẠI CỦA HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA
ĐÔNG NAM Á

1.1. TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƠ
CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG MẠI CỦA HIỆP
HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
Trong thập kỷ đầu mới thành lập, hoạt động của ASEAN chủ yếu tập
trung vào các vấn đề văn hoá, chính trị và tăng cường mối quan hệ hiểu biết
lẫn nhau để củng cố, hợp tác phát triển mối quan hệ đoàn kết trong khu vực
Đông Nam Á. Các quốc gia thành viên cố tránh các va chạm, căng thẳng, các
tranh chấp, xung đột chủ yếu được giải quyết thông qua thương lượng, hòa
giải hoặc theo cơ chế chung của hệ thống pháp luật quốc tế [2]. Thời kỳ này,
ASEAN chưa có một cơ chế giải quyết tranh chấp riêng trong khu vực. Tuyên
bố Băng - kốc năm 1967 ghi nhận khẳng định bước đầu của các nước ASEAN

ASEAN ngày càng nhiều. Đồng thời, các tranh chấp, bất đồng liên quan đến
việc áp dụng và thực thi các cam kết kinh tế thương mại trong khu vực ngày
càng gia tăng và làm nảy sinh nhu cầu xây dựng một cơ chế giải quyết một
cách hiệu quả các tranh chấp thương mại trong khu vực Đông Nam Á [18].
Sau khi thành lập Khu vực mậu dịch tự do AFTA, sự cần thiết phải có
một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả trong khu vực trở nên
rõ ràng. Hiệp định CEFT-AFTA chỉ cung cấp cho các nước thành viên sự
tham khảo khi các nước thành viên đối mặt với sự khác biệt liên quan tới việc
giải thích hay áp dụng Hiệp định bởi trong nội dung của Hiệp định có rất ít
hướng dẫn cho các bên trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh. Tại cuộc
họp lần thứ 3 vào tháng 12 năm 1992, các thành viên ASEAN đã đưa một cơ


8

chế giải quyết tranh chấp vào chương trình nghị sự của Hội đồng AFTA. Vào
năm 1995, Hội nghị Bộ trưởng kinh tế AEM kêu gọi tăng cường một số cơ
chế phối hợp hợp tác kinh tế ASEAN, đặc biệt liên quan đến các cam kết của
các thành viên ASEAN hướng tới việc thực hiện Hiệp định CEFT-AFTA.
Theo đó, các quyết định chính thức mang tính chất hợp tác được ban hành bởi
ASEAN đã được bổ sung bởi một cơ chế dựa trên các nguyên tắc pháp lý
nhiều hơn để đảm bảo tính minh bạch và bền vững của quá trình hợp tác kinh
tế khu vực. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí thiết lập một cơ chế giải
quyết tranh chấp của ASEAN bằng việc ký kết thông qua Nghị định thư về cơ
chế giải quyết tranh chấp vào ngày 20 tháng 11 năm 1996 tại Manila
(Philippine) (sau đây gọi tắt là Nghị định thư năm 1996), đưa ra một cơ chế
giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN.
ASEAN được thành lập với nhiệm vụ bảo đảm hoà bình, an ninh và
xây dựng một nền kinh tế. Trong hai thập kỉ đầu tiên tồn tại, chính trị và an
ninh là mối quan tâm chính trong các chương trình nghị sự. Tuy nhiên, từ

biệt dựa trên các nguyên tắc mang tính pháp lý khác với hệ thống tập trung
vào việc hoà giải như trước đây. Theo hệ thống trước đó, quá trình hoà giải là
việc mang lại một giải pháp mà mỗi bên tranh chấp sẽ lựa chọn để chấp nhận.
Nếu có bất đồng, các bên chỉ cần đặt vấn đề sang một bên và không đồng ý
với cách giải quyết đó. Thay vào đó, quá trình xét xử mới xác định các quyền
và nghĩa vụ của các bên tranh chấp. Cách tiếp cận này cho thấy quá trình giải
quyết tranh chấp là một quá trình xử lý mang tính kỷ luật cao mà Ban hội
thẩm thực hiện phán quyết một cách khách quan về hoạt động bất kỳ nào đó
của một số nước thành viên mà không phù hợp với việc áp dụng hiệp định.
Nghị định thư năm 2004 thay thế và xây dựng dựa trên Nghị định thư
năm 1996 cung cấp rất nhiều điều khoản quy định chi tiết về tư vấn, thủ tục
Ban hội thẩm, thảo luận. Đồng thời Nghị định thư năm 2004 cũng đưa ra
thêm thủ tục mới, chẳng hạn như tài liệu tham khảo về Ban hội thẩm, bên


10

khiếu nại, bên thứ ba và Cơ quan phúc thẩm. Thật vậy, việc thành lập Cơ
quan phúc thẩm là sự phát triển quan trọng nhất của Nghị định thư năm 2004.
Việc ký kết Nghị định thư năm 2004 về tăng cường giải quyết tranh
chấp thương mại đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường
thế chế của ASEAN và đây là bước mới nhất trong quá trình hợp pháp hoá
các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong ASEAN. Nghị định thư
2004 đồng thời cũng là một bước rất quan trọng để ASEAN tiến tới thành lập
một Cộng đồng kinh tế (AEC) vào năm 2020. Nghị định thư năm 2004 đánh
dấu giai đoạn cuối cùng của quá trình chuyển đổi từ cách thức giải quyết tranh
chấp thông qua con đường ngoại giao là chủ yếu sang cách thức giải quyết
tranh chấp thông qua con đường xét xử dựa trên các nguyên tắc pháp lý chặt
chẽ.
Ngày 20/11/2007 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử ASEAN

cũng được tổng hợp và hệ thống hoá từ các văn kiện khác của ASEAN. Ví dụ,
nguyên tắc giải quyết tranh chấp kịp thời bằng biện pháp hoà bình, kiềm chế
không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực khi có tranh chấp, tôn trọng
sự thoả thuận... đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc, TAC
năm 1976, được tái khẳng định trong Nghị định thư năm 1996, Nghị định thư
năm 2004 và tiếp tục được sử dụng trong Nghị định thư năm 2010. Một số
biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính truyền thống của ASEAN như môi
giới, trung gian, hoà giải cũng đã được quy định trong Nghị định thư năm
2004, Hiến chương ASEAN và lại được quy định một cách cụ thể hơn, hoàn
thiện hơn trong Nghị định thư năm 2010 cùng các phụ lục của Nghị định thư
năm 2010.
Điều 22 Hiến chương ASEAN khẳng định ASEAN sẽ duy trì và thiết
lập các cơ chế giải quyết tranh chấp trong tất cả các lĩnh vực hợp tác của
ASEAN. Khi nói về “các lĩnh vực hợp tác của ASEAN”, người ta có thể nghĩ
đến các lĩnh vực hợp tác về kinh tế, văn hoá xã hội, chính trị, an ninh quốc


12

phòng… Đó cũng là lý do để các nhà lãnh đạo các quốc gia thành viên
ASEAN cùng nhau xây dựng ASEAN với 3 trụ cột chính (bao gồm Cộng
đồng an ninh - chính trị ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng
văn hoá xã hội ASEAN); tương ứng với đó là các Hội đồng (Hội đồng cộng
đồng an ninh - chính trị ASEAN, Hội đồng cộng đồng kinh tế ASEAN và Hội
đồng cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN) [18]. Trong lĩnh vực hợp tác ngoại
khối, ASEAN cũng khẳng định ASEAN sẽ phát triển các mối quan hệ hợp tác
thân thiện, đối thoại cùng có lợi với các quốc gia, khu vực, các tổ chức quốc
tế và các thể chế quốc tế [16]. Song, các cơ chế giải quyết tranh chấp trong
Hiến chương ASEAN lại không chia theo các lĩnh vực hợp tác đó. Vì vậy, khi
muốn giải quyết một tranh chấp nào đó người ta phải tìm theo các văn kiện

hình thức giải quyết hoà bình các tranh chấp được quy định tại Điều 33 Hiến
chương Liên hợp quốc hoặc các văn bản luật quốc tế khác mà bên tranh chấp
là quốc gia thành viên đã tham gia [2]. Đối với các tranh chấp liên quan tới
các văn kiện cụ thể cũng như các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và
áp dụng các văn kiện được ký kết trong khuôn khổ ASEAN sẽ được giải
quyết thông quan cơ chế, thủ tục mà Hiến chương đã quy định trực tiếp hoặc
dẫn chiếu về các văn kiện trước đây của ASEAN.
Hiến chương ASEAN đã phân loại tranh chấp mức độ liên quan đến các
văn kiện của ASEAN để xác định cơ chế giải quyết tranh chấp cho phù hợp.
Theo đó: (i) Với các tranh chấp liên quan đến một văn kiện cụ thể sẽ áp dụng
cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong văn kiện đó; (ii) Các tranh
chấp chung không liên quan đến việc áp dụng hoặc giải thích bất kỳ một văn
kiện nào của ASEAN sẽ áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp của TAC;
(iii) Các tranh chấp liên quan đến các thoả thuận kinh tế sẽ áp dụng các cơ chế
giải quyết tranh chấp của Nghị định thư năm 2004. Tuy nhiên, nếu những
tranh chấp không thuộc 3 dạng tranh chấp kể trên. Ví dụ tranh chấp giữa hai
quốc gia thành viên ASEAN với nhau (không liên quan đến ASEAN hay các


14

quốc gia thành viên khác), tranh chấp liên quan đến lĩnh vực văn hoá - xã hội,
tranh chấp liên quan đến lĩnh vực an ninh, chính trị nhưng không thuộc phạm
vi áp dụng của TAC và các quy tắc về thủ tục giải quyết tranh chấp của TAC
hoặc tranh chấp liên quan đến việc giải thích, áp dụng Hiến chương và các
văn kiện khác của ASEAN… thì lại chưa có cơ chế giải quyết cụ thể và chưa
được quy định cụ thể trong Hiến chương hoặc các văn kiện khác của ASEAN.
Trong khi đó, thì phần lớn các yêu cầu thắc mắc liên quan đến việc giải
thích Hiến chương đều liên quan đến các vấn về mang tính thực tiễn thực hiện
Hiến chương chứ không chỉ đơn thuần là các tranh chấp giữa các quốc gia

chương ASEAN lại được nhắc lại, làm cơ cở cho các quy định và thủ tục giải
quyết tranh chấp của Nghị định thư.
Các Ngoại trưởng đã thông qua về nguyên tắc dự thảo Nghị định thư
về Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN nhằm cụ thể hóa quy định
trong Điều 25 của Hiến chương ASEAN, hướng tới xây dựng một cơ chế
giải quyết tranh chấp chung của ASEAN. Điểm đáng chú ý là ASEAN đã
xây dựng quy chế trọng tài trong giải quyết tranh chấp, phù hợp với Hiến
chương ASEAN.
1.2. KHÁI NIỆM CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG
MẠI CỦA ASEAN
Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại trong của ASEAN
cũng tương tự như cơ chế giải quyết tranh chấp của các tổ chức quốc tế khác,
đó là tổng thể thống nhất các cơ quan giải quyết tranh chấp, cách thức, trình
tự, thủ tục giải quyết tranh chấp và việc thi hành phán quyết giải quyết tranh
chấp.
1.3. NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp truyền thống của ASEAN đó là các
tranh chấp giữa các quốc gia thành viên cần được giải quyết bằng biện pháp
hoà bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau trên cơ sở hợp tác


16

hiệu quả giữa các bên, tôn trọng nguyên tắc thoả thuận, kiềm chế không sử
dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực khi có tranh chấp. Về biện pháp giải
quyết tranh chấp, nhìn chung các văn kiện của ASEAN đều ghi nhận và
khuyến khích các bên quyết tâm và có thiện ý ngăn ngừa không để nảy sinh ra
các tranh chấp. Cụ thể:
Trong Hiệp ước Bali I năm 1976 (TAC), khi có tranh chấp phát sinh,
TAC khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng

quyết tranh chấp này đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của ASEAN là giải quyết
bằng hình thức “hoà bình”.
Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định các biện pháp giải
quyết tranh chấp mà các bên có thể lựa chọn; bao gồm:
- Đàm phán trực tiếp;
- Các biện pháp giải quyết mang tính thương lượng thông qua bên thứ ba
như môi giới, điều tra, trung gian, hoà giải;
- Các biện pháp giải quyết mang tính tài phán như giải quyết bằng trọng
tài hoặc toà án quốc tế.
1.4. PHẠM VI THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Nghị định thư năm 2004 xác định rõ các quy tắc và thủ tục giải quyết
tranh chấp sẽ áp dụng đối với những loại tranh chấp nào. Cụ thể, đó là các
tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các hiệp định được quy
định trong Phụ lục 1 của Nghị định thư và các hiệp định kinh tế của ASEAN
trong tương lai (gọi chung là các hiệp định được áp dụng). Phụ lục 1 của Nghị
định quy định 6 hiệp định được áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp theo
PEDSM đó là Hiệp định đa biên về các quyền thương mại trong các dịch vụ
chưa đưa vào tiến trình đàm phán giữa các nước ASEAN năm 1971, Hiệp
định về Các thoả thuận ưu đãi thương mại ASEAN năm 1977, Bản ghi nhớ về
các thỏa thuận trao đổi giữa các nước ASEAN năm 1977, Hiệp định bổ sung
cho bản ghi nhớ về các thỏa thuận trao đổi giữa các nước ASEAN năm 1978,


18

Hiệp định bổ sung thứ 2 cho bản ghi nhớ về các thỏa thuận trao đổi giữa các
nước ASEAN năm 1979, Hiệp định về Dự trữ an toàn lương thực ASEAN
năm 1979.
Điều 24, Chương 3 Hiến chương ASEAN cũng quy định nếu không có
quy định cụ thể nào khác thì các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc

về kinh tế SEOM ra quyết định thành lập Ban hội thẩm. Ví dụ, các nước
ASEAN đồng thời là thành viên của WTO có thể đưa vụ việc ra giải quyết
theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.
Khác với Nghị định thư năm 2004, Điều 2 của Nghị định thư năm 2010
quy định Nghị định thư này được áp dụng để giải quyết các tranh chấp liên
quan đến việc giải thích hoặc áp dụng 03 loại văn kiện:
- Hiến chương ASEAN;
- Các văn kiện khác của ASEAN trừ trường hợp đã có quy định các biện
pháp giải quyết tranh chấp cụ thể nào đó;
- Các văn kiện khác của ASEAN có quy định về việc sẽ áp dụng Nghị
định thư năm 2010 hay một phần của Nghị định thư năm 2010. Nghị định thư
năm 2010 tôn trọng ý chí của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn các cơ
chế giải quyết tranh chấp.
Ngay cả khi một văn kiện nào đó của ASEAN có quy định biện pháp
giải quyết tranh chấp cụ thể nhưng nếu các bên tranh chấp thống nhất áp dụng
cơ chế giải quyết của Nghị định thư năm 2010 thì Nghị định thư vẫn được áp
dụng.
Điểm cần lưu ý ở đây là cần phải hiểu thế nào là những tranh chấp liên
quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiến chương và các văn kiện khác của
ASEAN. Liệu có phải bất kỳ thắc mắc, yêu cầu nào liên quan đến việc giải
thích Hiến chương đều áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp quy định tại
Nghị định thư năm 2010 hay không, trong khi Hiến chương ASEAN đã có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status