i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu
được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được dùng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn,
các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Mai Chiến Thắng
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này,tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lương Văn
Hinh, thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Tôi chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Quản lý tài nguyên và khoa Sau đại học
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm
học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá
trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững
chắc và tự tin.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, Phòng Tài nguyên
và Môi trường thành phố Việt Trì đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn
thật tốt.
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 09 năm 2017
1.2.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC ở một số nước................................................6
1.3. Một số khái niệm cơ bản về việc làm và thu nhập của người dân...............................11
1.3.1. Việc làm..................................................................................................................... 11
1.3.2. Thu nhập....................................................................................................................12
4
1.4. Tổng quan một số công trình nghiên cứu về tác động của việc thu hồi đất đến việc làm
và thu nhập của người dân:.................................................................................................13
1.5. Kết quả GPMB ở Việt Nam và tỉnh Phú Thọ................................................................. 16
1.5.1. Thực tiễn việc bồi thường GPMB ở Việt Nam...........................................................16
1.5.2. Tình hình GPMB ở tỉnh Phú Thọ................................................................................20
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1. Đối tượng và
phạm vi nghiên cứu..............................................................................................................28
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu.................................................................................... 28
2.3. Nội dung nghiên cứu:................................................................................................... 28
2.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................. 28
2.4.1. Phương pháp điều tra............................................................................................... 28
2.4.2. Phương pháp thống kê, phân tích, xử lý số liệu........................................................29
2.4.4. Phương pháp so sánh, phân tích...............................................................................29
2.4.5. Phương pháp kế thừa................................................................................................29
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN............................................................31
3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Việt Trì,
tỉnh Phú Thọ.........................................................................................................................31
3.1.2. Khái quát về thực trạng kinh tế xã hội của thành phố Việt Trì...................................33
3.2. Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất của thành phố Việt Trì...............36
3.2.1. Tình hình quản lý sử dụng đất...................................................................................36
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai của thành phố Việt Trì.......................38
3.3. Tình hình thực hiện công tác bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Chú giải
NĐ
Nghị định
CP
Chính Phủ
TW
Trung ương
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á ( Asian Deve lopment bank)
WB
Ngân hàng thế giới ( Word bank )
UBND
Ủy ban nhân dân
Tái định cư
CNH
Công nghiệp hóa
HĐH
Hiện đại hóa
ĐTH
Đô thị hóa
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSDĐ
Quyền sử dụng đất
BT
Bồi thường
BTHT
Bồi thường hỗ trợ
thu hồi...............................................................................................................61
Bảng 3.18. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau khi bị
thu hồi...............................................................................................................62
Bảng 3.19. Ý kiến người dân về ảnh hưởng của dự án đến môi trường.............................65
Bảng 3.20. Ý kiến của cán bộ, chuyên gia về ảnh hưởng của dự án đến môi trường..............65
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ở nước ta, quá trình đô thị hóa (ĐTH) đang diễn ra rất mạnh mẽ. Quá trình đô
thị hóa đang được đẩy mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
của đất nước.
Quá trình đô thị hóa có nhiều tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội, một
mặt, nó tạo nên diện mạo mới cho đất nước, nâng cấp cơ sở hạ tầng, tập trung nguồn lao
động phục vụ các ngành kinh tế phi nông nghiệp, gia tăng cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập
cho người dân. Tuy nhiên, để thực hiện quá trình đô thị hóa, thì đòi hỏi phải giải phóng được
một diện tích lớn “mặt bằng sạch” để có thể thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, khu
đô thị, khu công nghiệp,... Vì vậy công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) đóng vai trò hết sức
quan trọng, là điều kiện tiên quyết để có thể đảm bảo cho quá trình đô thị hóa được thực hiện.
GPMB luôn đi đôi với việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế.
Thực tế hiện nay cho thấy, công tác thu hồi đất của người dân để phục vụ phát triển các
dự án đầu tư phải được thực hiện ra sao và cách thức đền bù thế nào cho những người bị
thu hồi đất đang là những câu hỏi chưa có câu trả lời thỏa đáng. Giải quyết không tốt, không
thoả đáng khiến cho quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng
khi thu hồi đất dễ dẫn đến khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể, sẽ trở thành vấn đề
xã hội phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự xã hội và phần nào ảnh
hưởng đến lòng tin của người dân đối với các chính sách, pháp luật của nhà nước. Nếu việc
động lớn nhất sau khi bị thu hồi đất và gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới, tôi đã
chọn đề tài: “Đánh giá tác động của công tác giải phóng mặt bằng đến kinh tế, xã hội, môi
trường ở một số dự án trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài được thực hiện nhằm làm rõ những tác động của công tác giải phóng mặt bằng
đến vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường của người dân khi nhà nước thu hồi đất đối với một số
dự án trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Từ đó đề xuất các giải pháp cần thực hiện
trong thời gian tới nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Khái quát tình hình cơ bản của địa phương.
- Điều tra, đánh giá công tác bồi thường, GPMB của một số dự án trên địa bàn tp Việt
Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đánh giá ảnh hưởng của công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng đến vấn đề kinh
tế, xã hội, môi trường của người dân khi nhà nước thu hồi đất.
- Đề xuất ra những giải pháp thích hợp, phù hợp thực hiện công tác GPMB hiệu quả,
tác động tích cực đến kinh tế, xã hội và môi trường của người dân.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ sở thực tiễn
để đánh giá chung tình hình đời sống việc làm của người dân trước và sau khi bị Nhà nước thu
hồi đất.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần đề xuất các giải pháp để thực hiện công tác BT & GPMB khi Nhà nước thu
hồi đất ngày càng có hiệu quả hơn.
- Đánh giá tác động của công tác giải phóng mặt bằng đến kinh tế, xã hội, môi trường
của người dân khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ.
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với
một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử
dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức: Bồi thường bằng nhà ở; Bồi thường
bằng giao đất ở mới; Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở.
Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính
sách GPMB.
1.2. Chính sách bồi thường hỗ trợ và TĐC ở các tổ chức quốc tế và một số nước
1.2.1. Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)
Mục tiêu chính sách bồi thường tái định cư của Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB) là việc bồi thường tái định cư sẽ được giảm thiểu càng nhiều càng tốt
và đưa ra những biện pháp khôi phục để giúp người bị ảnh hưởng cải thiện hoặc ít ra vẫn giữ
được mức sống, khả năng thu nhập và mức độ sản xuất như trước khi có dự án, phải đảm bảo
cho các hộ di chuyển được bồi thường và hỗ trợ sao cho tương lai, kinh tế và xã hội của họ
được thuận lợi tương tự như trong trường hợp không có dự án.[4]
Các biện pháp thu hồi được cung cấp là bồi thường theo giá thay thế nhà cửa và các kết
cấu khác, bồi thường đất nông nghiệp là lấy đất có cùng hiệu suất và phải thật gần với đất đã bị
thu hồi, bồi thường đất thổ cư có cùng diện tích được người bị ảnh hưởng chấp thuận, giao đất
tái định cư với thời hạn ngắn nhất.
Đối với đất đai và tài sản được bồi thường chính sách của WB và ADB là phải bồi thường
theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường
tái định cư hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện.
Khôi phục thu nhập là một yếu tố quan trọng của tái định cư khi những người bị ảnh
hưởng bị mất cơ sở sản xuất, công việc kinh doanh, việc làm thay thế những nguồn thu nhập
khác, bất kể là họ có mất nơi ở hay không.
WB và ADB quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường tái định cư
của dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến,
+ Chủ đầu tư phải đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo, trong đó có những
người không hoặc chưa có quyền lợi hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ gia đình do phụ
nữ làm chủ và gia đình chính sách.
1.2.2.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Singapore
Đất nước Singapore có chế độ sở hữu đất đai đa dạng, trong đó đất đai do Nhà nước sở
hữu chiếm tỷ trọng lớn nhất (xấp xỉ 90%), phần còn lại thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc sở
hữu này phải tuân thủ quy hoạch sử dụng đất được Nhà nước phê duyệt. Nhà nước đóng vai
trò trung tâm toàn quyền quyết định mọi vấn đề trong quy hoạch đô thị và sau khi có quy
hoạch, Nhà nước thu hồi đất và giao đất cho các đối tượng để thực hiện đúng quy hoạch chi
tiết [23].
Quy hoạch được công bố trước khi thu hồi đất 2 đến 3 năm. Nhà nước nghiêm cấm chủ
đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao, trừ một số trường hợp đặc biệt. Phát
triển nhất ở quốc gia này là việc bố trí nhà ở tái định cư cho người bị thu hồi đất để sử dụng
cho vào mục đích của quốc gia; ngoài các khoản hỗ trợ theo quy định thì người bị thu hồi đất sẽ
được bố trí các căn hộ mới đẹp hơn, thậm chí có cả trường hợp diện tích được tái định cư rộng
hơn diện tích bị thu hồi.
1.2.2.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Trung Quốc
Hiến pháp Trung Quốc quy định hai hình thức sở hữu đất đai: Sở hữu Nhà nước và sở
hữu tập thể.
Pháp Luật Đất đai, Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Pháp Luật Đất đai của Việt
Nam. Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc là rất cao.
Việc sử dụng đất đai tại đất nước Trung Quốc thực sự tiết kiệm, hiệu quả Nhà nước Trung
Quốc cấm việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai. Do vậy thị trường đất đai của
Trung Quốc gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa trên đất [23] .
Trung Quốc, mục tiêu bao trùm lên chính sách giải phóng mặt bằng, bồi thường hỗ
trợ và tái định cư là hạn chế đến mức tối đa diện tích đất và số lượng người bị ảnh hưởng bởi
việc thu hồi đất. Trong trường hợp cần phải giải phóng mặt bằng,
bồi thường hỗ trợ thì phải có sự chuẩn bị kỹ phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên
tái định cư của Trung Quốc cũng còn bộc lộ những tồn tại chủ yếu là vấn đề: Việc làm, tốc độ
tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây dựng khu tái định
cư.
Như vậy, một nguyên tắc chung mà mỗi Quốc gia đặt ra cho chính sách bồi thường là:
Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người bị thu hồi đất để đảm bảo cuộc sống hiện tại và tương lai
tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi ở cũ. Đó là một quan điểm đúng đắn vì suy cho cùng sự phát
triển của Đất nước luôn phải gắn liền với sự phát triển của các thành viên trong cộng đồng, đó
mới là sự phát triển bền vững.
1.2.2.4.
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Thái Lan
Đất nước Thái Lan quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai
đều được điều tiết do cơ chế thị trường. Tuy nhiên, với những dự án lớn do Chính phủ quản lý
thì việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được tiến hành theo trình tự: Tổ chức nghe ý kiến
người dân bị thu hồi đất; định giá trị bồi thường cho người bị thu hồi đất.
Nhà nước Thái Lan cho phép hình thức sở hữu cá nhân với đất đai, do vậy về nguyên tắc
khi Nhà nước hoặc thu hồi đất để làm bất cứ việc gì đều phải có sự thoả thuận giữa chủ dự án
và chủ đang sử dụng đất đó. Về giá đất để làm căn cứ bồi thường thiệt hại, các bên căn cứ mức
giá do một Uỷ ban của chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá thị trường chuyển nhượng
bất động sản. Giá bồi thường phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án; nếu dự án mang tính
chiến lược quốc gia thì giá đền bù rất cao so với giá thị trường. Nhìn chung, khi tiến hành thu
hồi đất thì nhà nước hoặc nhà đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường. Việc bồi
thường thiệt hại chủ yếu bằng tiền mặt, sau đó người bị thu hồi đất sử dụng tiền này đi mua
đất tại khu vực khác. Nếu phải di chuyển nhà ở đến nơi ở mới, Uỷ ban này sẽ chỉ cho người dân
biết mình được đến đâu, phải trả tiền một lần, được cho thuê hay mua trả góp... Tất nhiên
cũng có việc bên bị thu hồi không chấp hành, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra và
khẳng định mức giá đền bù đã hợp lý chưa và dù đúng hay không đúng mà người bị thu hồi
không di chuyển thì sẽ bị cưỡng chế. Việc khiếu nại về bồi thường sẽ do toà án giải quyết.
1.3.1. Việc làm
“Việc làm” là một trong những vấn đề cơ bản nhất của mọi quốc gia nhằm góp phần bảo
đảm an toàn ổn định và phát triển xã hội.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là người làm
trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm đem lại
thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội. Như vậy, để
có việc làm không chỉ vào các cơ quan Nhà nước, trong các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế mà còn ngay tại gia đình do chính người lao động tạo ra để có thu nhập. Nói
chung bất cứ nghề nào cần thiết cho xã hội mang lại thu nhập cho người lao động không bị
pháp luật nghiêm cấm thì đó là việc làm. Nó không hạn chế mặt không gian, ở đây người lao
động được tự do hoạt động liên doanh, liên kết, tự do thuê mướn lao động theo pháp luật và
sự hướng dẫn của Nhà nước để tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội theo
quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
Ỏ Việt Nam người có việc làm được định nghĩa như sau:
- Người có việc làm bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt
động kinh tế mà trong một tuần lễ trước điều tra.
- Đang làm những công việc sản xuất kinh doanh của gia đình mình để thu lợi nhuận
nhưng không được trả công cho công việc đó.
- Đã có việc làm trước đó nhưng đang trong thời gian nghỉ đã được sự cho phép của nhà
quản lý và sẽ trở lại làm việc sau thời gian nghỉ phép.
Căn cứ vào thời gian làm việc của người được coi là có việc làm thì phân loại như sau:
Người đủ việc làm: là những người có đủ điều kiện sử dụng hết thời gian lao động theo
quy định. Trong thống kê lao động – việc làm ở Việt Nam thì những người có đủ việc làm bao
gồm những người có số giời làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc
bằng 40 giờ hoặc những ngươi có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng
giờ theo quy định đối với những người làm công
việc nặng nhe, độc hại theo quy định hiện hành.Số giờ quy định trên có thể thay đổi theo từng
năm học từng thời kỳ.
+ Thu nhập về lợi tức
+ Thu nhập dạng phúc lợi
1.4. Tổng quan một số công trình nghiên cứu về tác động của việc thu hồi đất đến việc làm
và thu nhập của người dân:
Năm 2006, Viện Tâm lý học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã thực hiện đề tài
“Những biến đổi tâm lý của cư dân vùng ven đô trong quá trình đô thị hoá” do PGS.TS Phạm Thị
Mai Hương làm chủ nhiệm đã phác thảo nên bức tranh chung về quá trình đô thị hoá ở vùng
ven đô, những tác động này đến đời sống tâm lý của người dân. Những biến đổi tâm lý như sự
biến đổi về mặt nhận thức của mỗi cá nhân về bối cảnh xã hội mới do đô thị hoá mang lại và vai
trò của chính mình trong bối cảnh mới đó. Ngoài sự biến đổi về mặt tâm lý, các tác giả cũng đề
cập đến xu hướng việc làm của hộ gia đình vùng ven đô trong quá trình đô thị hoá hiện nay.
Để nghiên cứu về xu hướng việc làm tác giả đã phỏng vấn các hộ dân tại 3 xã ngoại thành là
xã Yên Mỹ, Mỹ Đình và Yên Sở [12].
+ Về cơ cấu nghề nghiệp: Qua điều tra cho thấy các địa phương được khảo sát có cơ cấu
nghề nghiệp khá đa dạng nhưng không có nghề nào chủ đạo chiếm đa số mà có đủ các thành
phần khác nhau trong cơ cấu nghề này: công nhân, nông dân, cán bộ viên chức, buôn bán, dịch
vụ…Tỷ lệ số người trong các loại việc làm không quá chênh lệch nhau, di động trên dưới 10%
[12].
+ Về cơ hội việc làm: Những người sống ở những nơi đô thị hoá chậm, nới có đất đai
chưa bị thu hồi cơ những đánh giá khả quan về cơ hội tìm kiếm việc làm (Yên Mỹ), còn ở
những nơi đất đai bị thu hồi nhiều (Yên Sở và Mỹ Đình) lại đánh giá rất thấp cơ hội tìm kiếm
việc làm. Cụ thể, trong số những người cho rằng đô thị hoá làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm
của người dân ven đô được cải thiệnđáng kể thì59,4% là người dân Yên Mỹ, 14,5% là người
dân Yên Sở, 21,6% là người dân Mỹ Đình. Ngược lại những người đánh giá cơ hội việc làm
ngày càng khó khăn phần đông rơi vào những nơi có tốc độ đô thị hoá cao. Cụ thể là Yên
sở 45,9%, Mỹ Đình 52,9%, Yên Mỹ 1,2% [12].
Cũng nói đến những thay đổi trong cuộc sống của người nông dân đặc biệt là những
thay đổi về việc làm và thu nhập, cuốn “Nông dân ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong
người nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời rà soát
đồng bộ tính hiệu quả của các chính sách hỗ trợ nông dân mất đất từ đó đề ra những kiến
nghị hỗ trợ nông dân đảm bảo sinh kế một cách bền vững. Để nghiên cứu đề tài tác giải đã tiến
hành điều tra và phỏng vấn 379 hộ dân ở 4 xã là Bá Hiến, Thiện Kế, Sơn Lôi, Trung Mỹ huyện
Bình Xuyên – tỉnh Phú Thọ. Kết quả điều tra, phỏng vấn cho thấy:
* Trước khi bị thu hồi đất:
+ Về sở hữu ruộng đất: Bình quân mỗi hộ sở hữu trên 6.000 m2, trong đó hộ sở hữu
nhiều nhất là 57.520 m2, hộ sở hữu ít nhất là gần 600 m2 [20].
+Về việc làm: Đa số nông dân trong 4 xã điều tra đều phụ thuộc vào sản xuất nông
nghiệp, trên 70 % số người sống bằng làm ruộng, chăn nuôi và một tỷ lệ nhỏ làm nuôi trồng
thuỷ sản, số còn lại là buôn bán nhỏ, công nhân. Tỷ lệ lao động thất nghiệp là 0,3 % [20].
+ Về thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người của nhóm dân cư được phỏng vấn nhìn
chung rất thấp, trung bình khoảng 352.000 đồng/tháng. Mức chênh lệch cửa dân cư các xã
cũng chênh lệch khá rõ. Người dân xã Bá Hiến có mức thu nhập là
576.000 đồng/tháng, khá hơn 3 xã còn lại, nười có mức thu nhập cao nhất đạt 1,8
triệu/tháng. Thu nhập từ hoạt động nông nghiệp chiếm gần 65 %, thu nhập từ buôn bán nhỏ
lẻ chiếm gần 8 % [20].
* Sau khi thu hồi đất :
+ Về diện tích thu hồi: Bình quân mỗi hộ thuộc nhóm phỏng vấn bị thi thu hồi 1.781 m2,
hộ bị thu hồi nhiều nhất là 13.000 m2 thuộc xã Trung Mỹ hộ bị thu hồi ít nhất là 722 m2 xã
Sơn Lôi [20].
+ Mức thu nhập trung bình của nhóm dân cư sau khi thu hồi đất vẫn giữ ở mức trước
đây trên 351.000 đồng/tháng. Tuy nhiên mức thu nhập cao nhất tăng lên gần 2,2 triệu thay vì
1,8 triệu như trước đây [20].
+ Về việc làm: Tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm xuống còn 51,7 %, lao động buôn bán nhỏ
lẻ chiếm 12 % tổng thu nhập, tỷ lệ lao động thất nghiệp tăng lên 4,2 % [20].
Tóm lại, thông qua kết quả nghiên cứu của các đề tài nói trên, có thể thấy rằng vấn đề
chuyển đổi việc làm và thu nhập trong bối cảnh của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa luôn
luôn được chú trọng quan tâm. Cả ba nghiên cứu đều cho thấy quá
* Thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư củ dự án
* Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp
* Hội đồng Bồi thường, GPMB tổ chức họp phân công nhiệm vụ
* Sau khi có ý kiến thẩm định của Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, UBND tỉnh
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
* Hội đồng bồi thường, GPMB tiến hành chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, UBND
thành phố Quyết định giao đất cho các hộ thuộc diện tái định cư; lập thủ tục giao đất, cho
thuê đất và bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư triển khai thực hiện dự án.
1.5.1.3. Một số kết quả đạt được trong quá trình giải phóng mặt bằng
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả
khá khả quan:
- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác định đầy đủ
chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất
đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng.
- Mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất có
thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ
ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn
định về đời sống và sản xuất.
- Việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất với người
sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc
thu hồi đất.
- Trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết được nhiều
khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công
tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả.
- Các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm 2003, các Nghị
định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình
hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình,
làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao
- Nhiều nơi mặc dù việc bồi thường GPMB được thực hiện chủ yếu bằng các