Biện pháp giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch tại một số trường mầm non tỉnh Phú Yên (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thu Hà

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG MẦM NON TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thu Hà

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH TẠI MỘT SỐ
TRƯỜNG MẦM NON TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số

: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


những người thân yêu, huynh đệ, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ tôi
hoàn thành tốt luận văn này.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC

KỸ

NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ................................... 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 6
1.1.1. Những nghiên cứu về giáo dục KNGT trên thế giới .............................. 6
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước............................................... 10
1.2. Một số khái niệm cơ bản .............................................................................. 13
1.2.1. Kỹ năng ................................................................................................. 13
1.2.2. Một số vấn đề lý luận về giáo dục KNGT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi thông qua TCĐK............................................................................ 30
Tiểu kết Chương 1 ............................................................................................. 40
Chương 2.

3.2. Đề xuất các biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
thông qua TCĐK......................................................................................... 80
3.3. Thực nghiệm sư phạm .................................................................................. 87
3.4. Phân tích kết quả thực nghiệm ................................................................... 104
3.4.1. So sánh kết quả giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của
trường mầm non Ong Vàng thuộc mầm non ngoài công lập.............. 104
3.4.2. So sánh kết quả giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm ở
trường mầm non Hướng Dương thuộc mầm non công lập ................. 106
Tiểu kết Chương 3 ........................................................................................... 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 121
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Trò chơi đóng kịch

:

TCĐK

Tác phẩm văn học

:

TPVH


Trước thực nghiệm

:

T.TN

Sau thực nghiệm

:

S.TN


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1.

Danh sách trường mầm non khảo sát .............................................. 41

Bảng 2.2.

Trình độ chuyên môn của giáo viên ở các trường mầm non
được khảo sát .................................................................................. 41

Bảng 2.3.

Thâm niên công tác của giáo viên ở các trường mầm non được
khảo sát ........................................................................................... 42

Bảng 2.4.

Bảng 2.11. Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình tổ chức trò
chơi đóng kịch nhằm giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi ................................................................................. 54
Bảng 2.12. Thang đánh giá kỹ năng giao tiếp của trẻ trong trò chơi
đóng kịch ......................................................................................... 61
Bảng 2.13. Tổng hợp mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch ................................................. 68


Bảng 2.14. Kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong trò chơi
đóng kịch thuộc 2 trường mầm non công lập và 2 trường mầm
non ngoài công lập .......................................................................... 72
Bảng 3.1.

Tổng hợp kết quả trước khi thực nghiệm tại 2 trường mầm non
Ong Vàng (thuộc mầm non ngoài công lập) và Hướng Dương
(thuộc mầm non công lập) .............................................................. 88

Bảng 3.2.

Kết quả xếp loại của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
thuộc trường mầm non Ong Vàng (Ngoài công lập) .................... 104

Bảng 3.3.

Kết quả xếp loại của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm
của trường mầm non Hướng Dương (Công lập) .......................... 106

Bảng 3.4.


Biểu đồ 2.5.

So sánh kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong trò
chơi đóng kịch thuộc 2 trường mầm non công lập và 2 trường
mầm non ngoài công lập........................................................................ 72

Biểu đồ 3.1.

Tổng hợp kết quả trước khi thực nghiệm tại 2 trường mầm non
Ong Vàng và Hướng Dương ................................................................. 89

Biểu đồ 3.2.

Kết quả xếp loại của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của
trường mầm non Ong Vàng .................................................................105

Biểu đồ 3.3.

Kết quả xếp loại của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm của
trường mầm non Hướng Dương ..........................................................107

Biểu đồ 3.4.

So sánh mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ ở 2 nhóm
thực nghiệm thuộc 2 trường mầm non Ong Vàng và Hướng
Dương sau thực nghiệm.......................................................................109

Biểu đồ 3.5.

Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp của trẻ sau thực nghiệm theo

chất cần thiết, phù hợp như: mạnh dạn, tự tin, độc lập, sáng tạo, linh hoạt, tự
giác, tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị tốt cho việc học tập
ở lớp 1 và các bậc học sau có kết quả” [4].
Đối với trẻ mẫu giáo, hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo. Các nhà
giáo dục như Comenxki, FeuerBach, K.D.Usinxki đều cho rằng chơi là phương
tiện giáo dục hiệu quả nhất đối với trẻ. Chơi của trẻ mang tính sáng tạo. Chơi có
nhiều loại trò chơi và một trong số các trò chơi có ưu thế để giáo dục KNGT cho
trẻ là TCĐK.


2

TCĐK là trò chơi đóng vai theo TPVH, nhờ trí tưởng tượng sáng tạo và
cảm xúc của mình, trẻ tái hiện lại tính cách nhân vật trong TPVH. Trong khi
chơi TCĐK, trẻ phải thể hiện cử chỉ, điệu bộ, nét mặt đặc biệt là lời nói để làm
nổi bật tính cách nhân vật. Để có một “vở kịch” trẻ phải thuộc nhuần nhuyễn lời
thoại của mình và của bạn diễn, khi đó không những vốn từ và khả năng ngôn
ngữ của trẻ phát triển mà nó còn giúp khả năng nói lưu loát, mạch lạc của trẻ
được nâng cao. Đây là một phương tiện hiệu quả giáo dục KNGT cũng như góp
phần giáo dục toàn diện nhân cách cho trẻ [15].
Đối với trẻ mẫu giáo lớn, khi các dạng hoạt động của trẻ còn hạn chế về
số lượng trò chơi thì giao tiếp là một phương thức quan trọng không thể thiếu
giúp trẻ trải nghiệm các dạng hoạt động khác của xã hội thông qua hoạt động vui
chơi, trong đó TCĐK là trung tâm.
Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục mầm non ở nhiều nơi cho thấy, nhiều cơ sở
chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục KNGT cho trẻ, chưa nhận thức được
những ưu thế của TCĐK đối với sự hình thành và phát triển KNGT cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi. Qua tìm hiểu một số trường mầm non trên địa bàn Tp. Tuy Hòa,
chúng tôi nhận thấy các giáo viên đã có sự quan tâm và tổ chức cho trẻ chơi
TCĐK trong giờ hoạt động cho trẻ làm quen với TPVH. Tuy nhiên, việc sử dụng

Biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua TCĐK.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi chơi TCĐK nhằm giáo dục
KNGT cho trẻ tại trường mầm non.


4

6. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đánh giá được thực trạng việc sử dụng các biện pháp giáo dục KNGT
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua TCĐK cũng như mức độ biểu hiện KNGT
của trẻ trong TCĐK thì đó sẽ là cơ sở để đề xuất một số biện pháp nhằm giáo
dục KNGT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua TCĐK được tốt hơn.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa
những tài liệu lý thuyết về biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
thông qua TCĐK nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận, thu thập thông tin
khoa học về đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
- Khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên về biện pháp giáo dục
KNGT cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua TCĐK.
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng các biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua TCĐK.
- Thực trạng những khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá trình tổ
chức cho trẻ chơi TCĐK.
- Thực trạng KNGT của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong TCĐK.
 Phương pháp quan sát:
- Quan sát việc tổ chức thực hiện và quá trình giáo dục KNGT cho trẻ

của một số nhà nghiên cứu Tâm lý học. Việc nghiên cứu về giao tiếp đã đạt đến
những thành tựu nhất định trong giai đoạn hiện nay nhưng trong lịch sử, những
nghiên cứu về giao tiếp đã hình thành từ rất sớm. Có thể nói khi con người bắt
đầu quan tâm đến vấn đề trò chuyện và hoạt động giao tiếp thì cùng lúc ấy,
những tia sáng đầu tiên nghiên cứu về giao tiếp bắt đầu được quan tâm.
1.1.1. Những nghiên cứu về giáo dục KNGT trên thế giới


Tổng quan chung về xu hướng giáo dục KNGT

Giữa thế kỷ XIX, trong “Bản thảo Kinh tế – Triết học 1884”, Các Mác
(1818 – 1883) đã bàn về nhu cầu xã hội giữa con người với con người. Trong
hoạt động xã hội và tiêu dùng, xã hội loài người phải giao tiếp thực sự với nhau.
Ông viết: “Cảm giác và sự hưởng thụ của những người khác cũng trở thành sở
hữu của bản thân tôi. Cho nên ngoài vũ khí quan trực tiếp ấy, hình thành những
khí quan xã hội, dưới hình thức xã hội. Chẳng hạn như giao tiếp với những
người khác đã trở thành khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong những
phương thức chiếm hữu sinh hoạt của con người. Hơn thế nữa thông qua giao
tiếp với người khác mà có thái độ với chính bản thân mình, mỗi người tự soi
mình”. Các Mác đã dùng khái niệm “giao tiếp vật chất” để chỉ mối quan hệ sản
xuất thực tiễn của con người. Các Mác chỉ ra rằng trong sản xuất vật chất và tái
sản xuất con người, buộc con người phải có giao tiếp trực tiếp với nhau. Con
người chỉ trở thành con người khi có những quan hệ hiện thực với những người
khác, có giao tiếp trực tiếp với những người khác [1, tr.161-162].
Đến thế kỷ XX vấn đề giao tiếp ngày càng được các nhà triết học, tâm lý
học, xã hội học quan tâm nhiều hơn. Điển hình như A.N.Lêonchiev và các cộng


7


8

các chủ thể mới có thể được thỏa mãn và làm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân
[37, tr.9].
Học thuyết giao tiếp do Jurgen Ruesch và cộng sự phát triển nhấn mạnh
vấn đề: những khó khăn trong giao tiếp tập trung ở những điều cá nhân suy nghĩ,
không tập trung ở những điều cá nhân nói hay viết. Mục đích của giao tiếp là
xóa đi khoảng cách trong suy nghĩ giữa người này và người khác bằng ngôn
ngữ. Các yếu tố trong giao tiếp như hoàn cảnh xã hội, vai trò, vị trí, những
nguyên tắc và luật lệ, những thông điệp có tầm quan trọng giúp chủ thể hiểu
được tác động của xã hội và ý định của người khác trong giao tiếp [37, tr.10-11].
Paul Ekman trong cuốn “Emotion Revealed” đã nêu lên vấn đề cảm xúc
biểu hiện trong giao tiếp của cá nhân thể hiện nét mặt, từ đó đề cập đến kỹ năng
nhận diện nét mặt và các cảm xúc đi kèm trong quá trình giao tiếp như một
KNGT cơ bản [37, tr.12].


Tổng quan về xu hướng giáo dục KNGT cho trẻ

Bên cạnh vấn đề giao tiếp nói chung thì giao tiếp của trẻ em cũng đã được
đề cập đến từ lâu, ngay từ thời Phục hưng nhưng phải đến đầu thế kỷ XX vấn đề
giao tiếp của trẻ mới được quan tâm nghiên cứu cùng với sự ra đời của Tâm lý
học trẻ em. Các công trình nghiên cứu về giao tiếp của trẻ em rất đa dạng dưới
những khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát những nghiên cứu này
thành những hướng sau:
- Hướng thứ nhất, nghiên cứu về vai trò, chức năng của giao tiếp trong sự
hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em. Những tác giả nghiên cứu theo
hướng này gồm có A.V.Daparôgiét trong “Nguyên tắc phát triển tâm lý học”
(1978); M.I.Lisina với “Nguồn gốc của những hình thức giao tiếp của trẻ em
(1978)”;


bạn

cùng

tuổi”(1988);

X.V.Pêcherina;

E.I.Sibireva;

O.X.Bôđanôva; L.M.Sipisưna; O.V.Đairinxcaia; A.D.Vôrônôva; T.A.Nhicôla…
Theo họ, cần dựa vào cuộc sống thực của trẻ để phát triển giao tiếp cho trẻ,
thông qua những hoạt động đa dạng và gần gũi với chúng như vui chơi, học tập,
lao động, sinh hoạt, vệ sinh… Trong đó, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ ở
lứa tuổi này [39, tr.6].
- Hướng thứ ba, các tác giả Tara Winterton; Đavid Warden; A.S.Charles;
Rae Pica… quan tâm đến vấn đề hình thành KNGT cho trẻ nhỏ. Họ cho rằng
yếu tố hoàn cảnh (gia đình, nhà trường, cộng đồng) có ảnh hưởng rất lớn đến
KNGT của trẻ. Họ khuyên rằng, cần tìm kiếm, quan sát và sử dụng những yếu tố
tích cực trong môi trường đó để giáo dục KNGT cho trẻ [39, tr.6].
Vấn đề giao tiếp của trẻ em ở Mỹ và các nước phương Tây đã được nhiều
nhà Tâm lý học trẻ em quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc. Điển hình như
H.A.Wallon (1879 – 1962) nhà Tâm lý học Pháp đã nghiên cứu sự giao tiếp của
trẻ qua “trương lực cơ bắp hay là đối thoại qua cơ bắp”. Bowlby và Ainsworth
đã nghiên cứu khái niệm “gắn bó mẹ – con” (attachmen) hay “kết nối”
(bonding) miêu tả một phương thức ứng xử đặc biệt giữa mẹ và con.
Tiến sĩ Y khoa Miriam Stôpa người Anh đã nhận định “từ 6 – 18 tháng
tuổi, sự giao tiếp với cha mẹ có vai trò quyết định. Từ 1 – 4 tuổi, các đồ chơi, trò


Thủy với “Giao tiếp, tâm lý và nhân cách” (1981); Trần Thanh Thủy với cuốn


11

“Đặc điểm giao tiếp của giáo viên mầm non sư phạm” (1985); Phạm Minh Hạc
với cuốn sách “Giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển
nhân cách” (1988); “Giao tiếp và văn hóa giao tiếp” của Nguyễn Quang (2002);
“Giáo trình giao tiếp với trẻ em” của tác giả Nguyễn Văn Lũy và Trần Thị Tuyết
Hoa (2012)… Những bài báo và những cuốn sách này phần lớn là đề cập đến
vấn đề lý luận mang tính chất đặt vấn đề.
Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Giáo dục trẻ em trong nhóm bạn bè”
(1987), “Sự hình thành xã hội trẻ em trước tuổi học” (1988), “Những điều cần
biết về sự phát triển của trẻ thơ” (1992), “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non”
(1995). Những cuốn sách này đã nêu lên vai trò quan trọng của sự giao tiếp giữa
mẹ và con với sự phát triển của trẻ trong những năm đầu và cả cuộc đời sau này.
Đồng thời, vạch rõ vai trò quan trọng và đặc điểm của sự giao tiếp giữa trẻ với
nhau.
Lê Xuân Hồng với “Một số vấn đề giao tiếp và giao tiếp sư phạm trong
hoạt động của giáo viên mầm non” và Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của cô với đề
tài “Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo trong nhóm chơi không cùng độ tuổi”
(1996) cũng bàn về các vấn đề giao tiếp giữa các trẻ với nhau. Tác giả Trần
Công Hoàn với “Giao tiếp và ứng xử sư phạm dành cho giáo viên mầm non” đã
trở thành cẩm nang quan trọng giúp giáo viên mầm non nắm vững nguyên tắc và
đặc điểm giao tiếp sư phạm trong quá trình giao tiếp với trẻ.
Các tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lê,
Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thạc, Lê Xuân Hồng đã khẳng định vai trò của
hoạt động giao tiếp trong sự phát triển của trẻ em, đưa ra những nhu cầu giao
tiếp và đặc điểm giao tiếp khác nhau của các lứa tuổi. Các tác giả đã nêu ra sức
ảnh hưởng của các đối tượng giao tiếp như người lớn, bạn cùng tuổi, bạn khác

Trong Chương trình Giáo dục Mầm non (2009) và Bộ chuẩn phát triển trẻ
5 tuổi (2010) của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ vấn đề này. Đây là hai
tài liệu đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện việc giáo dục KNGT
cho trẻ nhằm giúp trẻ phát triển một số giá trị, phẩm chất phù hợp với lứa tuổi
như: mạnh dạn, tự tin, có hành vi ứng xử giao tiếp theo chuẩn mực và nếp sống


13

văn minh… góp phần hoàn thành mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách và chuẩn bị tâm thế để trẻ bước vào lớp một.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Kỹ năng
Theo từ điển Giáo dục học của Bùi Hiền thì kỹ năng là khả năng thực hiện
đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu, điều kiện cụ thể tiến
hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ [14].
Theo từ điển Tâm lý học của Nguyễn Văn Lũy thì kỹ năng là mức độ làm
chủ phương pháp hành động mới trên cơ sở tri thức nào đó nhưng chưa đạt đến
mức độ kỹ xảo [23].
Theo từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng biên soạn, kỹ năng là năng lực vận
dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh
hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [9].
Trong từ điển Tâm lý học của A.M.Colman, kỹ năng là sự thông thạo,
hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh
vực nhất định; cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ
chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành.
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho
rằng: Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở
của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập

một hoặc nhiều hành động nhất định một cách thuần thục nhằm tạo ra kết quả
mong đợi.
1.2.1.1. Mức độ kỹ năng
Theo quan điểm của V.P.Bexpalko thì kỹ năng có 5 mức độ:
- Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Đã có kiến thức cơ bản về kỹ năng và có thể tái hiện thành những hành
động, thao tác cụ thể dưới sự hướng dẫn của người dạy.
- Mức độ 2: Kỹ năng thấp


15

Có thể tự thực hiện các thao tác, hành động cần thiết theo trình tự đã biết
nhưng chỉ trong những tình huống quen thuộc, chưa chuyển sang tình huống
mới.
- Mức độ 3: Kỹ năng trung bình
Có thể tự thực hiện các thao tác, hành động trong những tình huống quen
thuộc và di chuyển các kỹ năng sang tình huống mới nhưng còn hạn chế.
- Mức độ 4: Kỹ năng cao
Có thể tự lựa chọn hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong
các tình huống khác nhau và di chuyển kỹ năng trong phạm vi nhất định.
- Mức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo
Có thể nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, các hành động, biết lựa
chọn những thao tác hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành
thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn [37, tr.42-43].
1.2.1.2. Các giai đoạn hình thành kỹ năng
Theo tác giả Hoàng Thị Oanh thì sự hình thành kỹ năng trải qua 4 giai
đoạn:
- Giai đoạn nhận thức: Là giai đoạn trẻ nhận thức đầy đủ mục đích, cách
thức, điều kiện hành động, trẻ cần nắm lý thuyết, chưa hành động thực sự. Việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status