ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM GIUN TRÒN
ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở LỢN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
TẠI HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Thái Nguyên - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM GIUN TRÒN
ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở LỢN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
TẠI HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Thú y
Mã số ngành: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN THỊ KIM LAN
Thái Nguyên - 2017
Lạng Giang; cảm ơn các đồng nghiệp Thú y cơ sở, các trang trại và hộ chăn nuôi
thuộc 5 xã Phi Mô, Quang Thịnh, Hương Lạc, Tân Dĩnh và Xương Lâm đã hỗ trợ và
giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt biết ơn gia
đình đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hương
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... ii
MỤC LỤC .......................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................. v
DANH MỤC ĐỒ THỊ ....................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................... vii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 2
Đánh giá được tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại huyện Lạng
Giang, tỉnh Bắc Giang. ....................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài .......................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học ........................................................................................ 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ......................................................................................... 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................... 3
1.1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ............................................................. 3
3.1.1. Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho lợn tại Lạng Giang ..... 35
3.1.2 . Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn qua mổ khám. ....... 36
3.1.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn qua xét nghiệm phân. ... 38
3.1.4. Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn ở ngoại cảnh. .......................... 58
3.2.Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho lợn .......... 60
3.2.1.Thử nghiệm thuốc tẩy giun tròn cho lợn ................................................. 60
3.2.2. Xác định khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun tròn của
phương pháp ủ phân yếm khí ........................................................................... 62
3.2.3. Nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh giun tròn bằng tẩy định kỳ cho
lợn ..................................................................................................................... 64
3.2.4. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho lợn ............................. 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................ 70
1. Kết luận ........................................................................................................ 70
2. Đề nghị ......................................................................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 72
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho lợn tại Lạng
Giang .............................................................................................. 35
Bảng 3.2. Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa
của lợn tại Lạng Giang.................................................................... 37
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hoá lợn theo loài. .. 39
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn ở một số xã thuộc huyện
Lạng Giang ..................................................................................... 41
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi lợn ........................ 44
Bảng 3.6. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống lợn ..................... 48
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo phương thức chăn
vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(-):
Âm tính
(+):
Dương tính
cm:
Centimet
kg:
Kilogram
m2:
Mét vuông
mm:
Milimet
TT:
(01/4/2017) của Trạm Chăn nuôi và thú y huyện Lạng Giang, tổng đàn lợn của huyện là
201.654 con (trong đó lợn nái 39.168 con, lợn thịt 162.486 con). Trong huyện có hơn
100 trại chăn nuôi lợn tập trung (quy mô từ 10 nái và 100 lợn thịt đến 1.200 lợn nái).
Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của huyện, góp phần phát triển
chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường.
Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh, chăn nuôi lợn tập trung theo
quy mô vừa và nhỏ ở huyện đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề
dịch bệnh. Trong nhiều năm qua, ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp ở lợn
như bệnh dịch tả, bệnh tụ huyết trùng, bệnh phó thương hàn.... còn phải kể đến các
bệnh do ký sinh trùng đường tiêu hóa, trong đó có các bệnh do giun tròn gây ra.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], nước ta là một nước nằm trong khu
vực khí hậu nhiệt đới ẩm Đông Nam Á, có khu hệ ký sinh trùng động vật phong phú
và đa dạng, gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm, làm thiệt hại
kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi. Ở lợn, cho đến nay đã phát hiện 52 loài ký sinh
trùng gây bệnh gồm: giun tròn, sán lá, sán dây, đơn bào và côn trùng ký sinh. Những
bệnh trên đã gây ra các tổn thương và viêm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các
nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn, đặc biệt là tăng tiêu tốn
thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không bị bệnh.
Bệnh do giun tròn là bệnh thường tiến triển ở thể mạn tính, triệu chứng không
rõ, thường bị triệu chứng của các bệnh khác che lấp, đặc biệt trong năm 2016 - 2017
do giá thịt lợn đang giảm mạnh nên người chăn nuôi ít quan tâm đến phòng bệnh.
Những lợn đã bị nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trở thành nguồn gieo rắc mầm bệnh
ra bên ngoài và làm cho những con khác nhiễm bệnh. Lợn bị nhiễm giun tròn thường
gầy yếu, còi cọc, làm giảm năng suất chăn nuôi, mở đường cho các mầm bệnh khác xâm
nhập.
2
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất chăn nuôi lợn tại huyện Lạng Giang,
chúng tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
+ Bộ phụ giun kim (Oxyurata)
+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
+ Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata)
+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
+ Bộ phụ giun chỉ (Filariata)
+ Bộ phụ Dioctophymata
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26], hệ thống phân loại của một số loài
giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được sắp xếp theo vị trí như sau:
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chit wood, 1993
Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skjabin et Schulz, 1928
HọTrichocephalidea Bard, 1953
4
Phân họTrichocepphalus Ransomi, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788
Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925
Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916
Giống Oesophagostomum Molin, 1861
Loài Oesophagostomum dentatum, (Rudolphi, 1803)
Loài Oesophagostomum brevicaudatum (Shwartz et
Alicata, 1930)
Loài Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925)
Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
Ascaris suum Goeze, 1782
Gnathostoma dororesi Tubangui,1925
Gnathostoma hispidum Fedtschenko, 1872
4
5
Strongyloides papillosus Wedl, 1856
Strongyloides ransomi Schwartz et Alicata, 1930
Ruột non
Ruột non
6
Pseudocruzia orientalis Maplestoue, 1930
7
8
Globocephalus longgemucronatus Molin, 1861
Raillietostrongylus samoensis Lane, 1922
Ruột non
Ruột non
9
Oesophagostomum dentatum (Rudolphi, 1803)
rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản.
6
+ Hệ thần kinh: Gồm có một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra nhiều
nhánh thần kinh đi về phía trước và sau tới các phần của cơ thể. Có nhiều nhánh nhỏ
nối với các nhánh chính này. Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằm trong các gai ở đầu, cổ,
thân giun - đó là các gai cảm giác.
+ Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt).
Giun tròn đường tiêu hóa của lợn đều mang những đặc điểm chung của lớp
giun tròn Nematoda, ngành Nemathelminthes như trên. Song, mỗi loài giun tròn đều
có những đặc điểm đặc trưng riêng cho từng loài. Căn cứ vào những đặc điểm đó khi
mổ khám ta có thể phân biệt sơ bộ các loài với nhau.
* Giun đũa lợn (Ascaris suum)
Theo các tác giả Trịnh Văn Thịnh (1977) [38], Đào Trọng Đạt và cs (1995)
[8], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] thì: giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris
suum ký sinh ở ruột non lợn: giun màu trắng sữa. Hình ống, hai đầu hơi nhọn. Đầu
có 3 môi bao quanh miệng. Trên rìa môi có 1 hàng răng cưa rất rõ.
Nghiên cứu về cấu tạo kích thước của loài giun này, Nguyễn Thị Lê (1996)
[26] cho biết: Con đực dài 100 - 220 mm, rộng 2,7 - 3,0 mm. Đuôi thường cong về
phía bụng. Con cái dài 290 - 300 mm, rộng 4 - 5 mm. Có 2 buồng trứng, 2 ống dẫn
trứng, tử cung là một ống hẹp. Âm đạo ngắn, mở ra ở lỗ sinh dục cái nằm ở bụng.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19]: trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn,
kích thước từ 0,056 - 0,087mm x 0,046 - 0,067mm, vỏ dầy gồm 4 lớp vỏ, lớp ngoài
cùng là protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng.
3
1. Môi giun đũa lợn
2. Đuôi giun đũa đực
3. Trứng Ascaris suum
b 1: Phần đầu cơ thể
2: Đuôi cá thể đực
8
- Loài Strongyloides papillosus
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [24], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] loài
Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:
- Con đực chưa được mô tả.
- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042
- 0,078 mm. Lỗ miệng có 4 môi. Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm. Lỗ sinh dục có
rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm. Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục. Các
buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp. Đuôi mảnh, thon
nhỏ dần ở phía sau.
Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036
mm, trong trứng có ấu trùng.
*Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], Các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh
miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước
rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và
một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn.
Con đực: cơ thể dài 6,2 - 6,8 mm, rộng 0,31 - 0,049 mm..
Con cái: cơ thể dài 7,4 - 11,5 mm, rộng nhất 0,31 - 0,45 mm. Trứng có kích
thước 0,05 - 0,08 x 0,03 - 0,04 mm.
A. Phần đầu
10
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23]: giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng
của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ
chức đó nuôi bản thân. Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng, nhưng nếu điều
kiện sống bất lợi như khi ký chủ bị sốt cao thì tuổi thọ giun ngắn hơn.
* Vòng đời phát triển của giun lươn
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non,
trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong. Trứng ra ngoài sẽ phát triển theo
hai hướng: trực tiếp và gián tiếp. Ấu trùng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn
bằng 2 con đường:
+ Qua da: ấu trùng chui qua da vào tồ chức liên kết, tới cơ, theo máu và dịch
lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên
hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày phát triển thành giun lươn trưởng
thành ký sinh.
+ Qua đường tiêu hóa: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu
hóa thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, rồi về phổi, ấu trùng chui qua mạch
máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non.
Mặt khác, Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] cho biết: chu trình phát triển của
giun lươn rất đặc biệt, ngoài phát triển trực tiếp và gián tiếp ra chúng còn tự nhiễm,
nhiễm qua sữa mẹ hoặc qua nhau thai.
Lora R. và cs (2015) [53] cũng cho rằng: ngoài đường tiêu hóa và da, ấu trùng
giun lươn còn lây nhiễm qua bào thai, qua sữa đầu do đó lây nhiễm cho lợn con trong
vòng 24 giờ sau khi sinh.
* Vòng đời phát triển của giun kết hạt
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết:
vòng đời phát triển của giun kết hạt thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung gian.
Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp 25 - 27oC, sau 10 - 17giờ nở thành
ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày phát triển thành ấu trùng gây nhiễm. Ấu
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [17] và các tác giả khác đều cho rằng: điều
kiện nóng, ẩm là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của giun sán, của trứng
và ấu trùng giun sán. Trứng giun sán chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 15 - 30oC.
12
- Sức đề kháng của trứng giun đũa:
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [14], Nguyễn Phước Tương (1994) [45]
cho biết: ở vùng khô lạnh trứng giun đũa có thể sống trên 6 năm.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19]: trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao
do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng
mạnh với một số chất hoá học.
- Sức đề kháng của giun lươn:
Johanes Kaufmann (1996) [51], dưới tác động của ánh sáng mặt trời chiếu trực
tiếp, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ. Ở trong nước hoặc trong môi trường có
độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng. Nhưng nếu ẩm độ thấp, khô ráo thì sau
6 - 7 giờ ấu trùng bị chết.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26] cho biết: trứng giun lươn bị diệt nhanh trong
hố ủ phân nhiệt sinh học.
Theo Nguyễn Trọng Kim (2001) [15], trứng giun lươn có thể sống ở nơi đất ẩm trong
thời gian 2 tháng.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22] cho rằng: trứng giun lươn có khả năng phát
triển tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 30oC. Nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển. Ở
trên 50oC và - 9oC trứng bị chết. Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng,
không sống được ở nơi khô hạn.
- Sức đề kháng cùa giun tóc:
Nghiên cứu về khả năng tồn tại của trứng giun tóc ngoài môi trường chăn nuôi
Sengupta M. E. và cs (2011) [60], Liu G. H. và cs (2012) [54], Nejsum P. và cs (2012)
[55] cho biết: trứng Trichocephalus suis vẫn có thể phát triển trong nước thải chăn
nuôi chưa được xử lý tốt trong nhiều năm. Nếu nước thải này được sử dụng tưới cho
mạc của tổ chức gây xuất huyết dẫn tới viêm, thường gặp ở thể cấp tính, thứ cấp tính
hoặc mạn tính.
14
* Tác động chiếm đoạt: ký sinh trùng tự nuôi dưỡng bằng ăn tổ chức của ký
chủ, cướp một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hoá, hút máu ký chủ.
* Tác động đầu độc: ký sinh trùng bài tiết các chất độc hàng ngày, ký chủ hấp
thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau nhưng thường thấy nhất là biến loạn
thần kinh và tuần hoàn.
* Tác động truyền bệnh: giun sán bám vào các niêm mạc gây thương tích, phá
vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn trong môi trường xâm nhập
cơ thể ký chủ.
Do đặc điểm cấu tạo và hình thái khác nhau mà từng loài giun tròn ngoài các tác
động gây bệnh chung còn có cơ chế sinh bệnh riêng.
- Bệnh giun đũa lợn:
Thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh. Ấu trùng di hành gây tổn
thương, mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể. Ấu trùng di hành qua phổi làm cho bệnh
suyễn lợn càng tăng hơn và tỷ lệ phát bệnh có thể tăng gấp 10 lần.
Giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con
vật có triệu trứng thần kinh như tê liệt hoặc hưng phấn, co giật.
Giun lấy chất dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ. Kết quả
là làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn. Giun đũa nhiều làm tắc ruột, có khi thành búi,
ruột có thể rách hay thủng.
Lợn bị giun đũa thì yếu ớt, lờ đờ, lông xù và dựng, dần dần gầy trơ xương.
Nếu rách ruột thì lợn chết đột ngột. Giun có thể chui lên dạ dày, thực quản, da, mõm
hoặc qua yết hầu vào phổi gây ngạt thở hoặc chui vào ống mật.
- Bệnh giun lươn ở lợn:
Tác hại cơ giới: ấu trùng chui qua da, mạch máu phổi, gây viêm phổi. Giun cái
trưởng thành ở ruột non gây viêm ruột, rối loạn tiêu hoá.
Triệu chứng:
Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính như ỉa
chảy, phân có chất nhày, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ lên cao, bỏ
ăn, gầy còm, khi ấn vào bụng thấy đau, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo
dài làm con vật gầy dần và chết.
16
Giai đoạn giun trưởng thành thường gây triệu chứng mãn tính: Có từng thời
kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm, các triệu chứng khác không rõ lắm.
Bệnh tích: sau khi nhiễm 5 ngày thì thấy những u kén nhỏ ở trên niêm mạc
ruột, ở giữa u kén có màu vàng, trong có ấu trùng giun, có khi bọc này bị hoại tử, bên
trong có mủ và bị loét, tới ngày thứ 7 - 8 thì kết tràng bị viêm có mủ. Có khi tới vài
nghìn u kén trên một đoạn ruột, u kén to bằng đầu đinh ghim, hạt đậu này có khi bị
vôi hoá, chỉ thấy ấu trùng ở những hạt chưa bị vôi hoá.
* Đối với bệnh giun lươn lợn:
Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt. Lợn con sau đẻ 3 - 4 tuần
bệnh nhiễm rất nặng, chết tới 50% con vật gầy còm, có mụn trên da (do ấu trùng giun
lươn chui qua da gây viêm da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân
nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (con vật ho), triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày.
Nếu nặng có thể chết do bị mất nước, rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm
ruột cấp, khi nhiễm nhẹ triệu chứng không rõ rệt.
Bệnh tích: dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng có nhiều
điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc ruột có
những điểm tụ huyết có thể bị bong ra, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ, xác
chết gầy.
* Đối với bệnh giun tóc lợn:
Triệu chứng: khi lợn bị nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ, khi nặng thì
thường gầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, con vật có khi
bị kiết lị. Bệnh thường thấy ở lợn con, còn lợn trên 6 tháng tuổi và lợn vỗ béo rất ít