BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Nhƣ Thúy
TỔN THƢƠNG TÂM LÍ CỦA TRẺ EM
TRONG GIA ĐÌNH KHÔNG TOÀN VẸN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Nhƣ Thúy
TỔN THƢƠNG TÂM LÍ CỦA TRẺ EM
TRONG GIA ĐÌNH KHÔNG TOÀN VẸN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lí học
Mã số
: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. HUỲNH VĂN SƠN
TP.HCM, ngày 27 tháng 9 năm 2017
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU
................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔN THƢƠNG TÂM LÍ CỦA TRẺ EM
TRONG GIA ĐÌNH KHÔNG TOÀN VẸN .......................................... 8
1.1. Lịch sử nghiên cứu về tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình không toàn
vẹn ........................................................................................................................... 8
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu về tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình
không toàn vẹn ở nước ngoài ....................................................................... 8
1.1.2. Một số nghiên cứu về tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình
không toàn vẹn ở trong nước ..................................................................... 15
1.2. Lí luận về tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình không toàn vẹn ................ 22
1.2.1. Khái niệm tổn thương tâm lí ....................................................................... 22
1.2.2. Đặc điểm tâm lí của trẻ em từ 11 - 15 tuổi ................................................ 29
1.2.3. Gia đình không toàn vẹn ............................................................................. 32
1.2.4. Tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình không toàn vẹn .................... 38
Tiểu kết chƣơng 1 ........................................................................................................ 55
2.3. Biện pháp giảm thiểu tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình không toàn
vẹn ......................................................................................................................... 95
2.3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp giảm thiểu tổn thương tâm lí của trẻ em trong
gia đình không toàn vẹn ............................................................................. 95
2.3.2. Đề xuất một số hình thức giảm thiểu tổn thương tâm lí của trẻ em
trong gia đình không toàn vẹn dựa trên liệu pháp trò chơi theo định
hướng nhận thức - hành vi và liệu pháp hình - tranh vẽ ......................... 100
Tiểu kết chƣơng 2 ...................................................................................................... 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................... 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................... 107
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
DSM
Nội dung viết tắt
Dignostic and Statistical Manual of Mental Disorders
(Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần)
DHLS
Dấu hiệu lâm sàng
ĐH
Đại học
ĐLC
Tổn thương tâm lí
THCS
Trung học cơ sở
YSR
Youth Self - Report
(Bản mô tả về cảm xúc - hành vi của thiếu niên)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Độ tin cậy thang đo YSR của trẻ trong gia đình không toàn vẹn tại
Thành phố Hồ Chí Minh .......................................................................... 57
Bảng 2.2.
Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của từng biểu hiện tổn thương
tâm lí ....................................................................................................... 58
Bảng 2.3.
Cách thức qui đổi mức độ biểu hiện tổn thương tâm lí ở từng nhóm
biểu hiện................................................................................................... 59
Bảng 2.4.
Bảng 2.12.
Biểu hiện hành vi hung tính của trẻ em trong gia đình không
toàn vẹn .................................................................................................... 80
Bảng 2.13.
Tổn thương tâm lí của trẻ sống trong gia đình không toàn vẹn trên
các bình diện giới tính, tuổi, tình trạng gia đình...................................... 82
Bảng 2.14.
Một số khó khăn trong hoạt động học tập của trẻ em trong gia đình
không toàn vẹn ......................................................................................... 85
Bảng 2.15.
Một số khó khăn trong thích ứng xã hội của trẻ em trong gia đình
không toàn vẹn ......................................................................................... 86
Bảng 2.16.
Một số khó khăn trong việc khẳng định bản thân của trẻ em trong
gia đình không toàn vẹn........................................................................... 88
Bảng 2.17.
Mối quan hệ giữa trẻ với người thân, giáo viên, bạn bè và
cộng đồng................................................................................................. 90
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1.
Gia đình hạt nhân .............................................................................................. 33
Sơ đồ 2.2.
Gia đình ghép .................................................................................................... 33
Sơ đồ 2.3.
Gia đình có qui mô nhỏ ..................................................................................... 34
Sơ đồ 2.4.
Gia đình có qui mô lớn ..................................................................................... 34
Sơ đồ 2.5.
Gia đình toàn vẹn .............................................................................................. 34
Sơ đồ 2.6.
Gia đình không toàn vẹn ................................................................................... 34
Sơ đồ 2.7.
Gia đình đơn hôn hoặc gia đình một vợ một chồng.......................................... 35
những kết luận khá thống nhất: Phần lớn các em đều có cha mẹ li hôn hoặc giữa cha
mẹ có quá nhiều xung đột. Ở Hà Nội, năm 2004, kết quả điều tra của Ủy ban dân số
gia đình trẻ em cho thấy 12.3% số trẻ em lang thang được phỏng vấn có cha mẹ li hôn.
Còn ở thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), mỗi năm có hơn 50.000 trẻ em rơi vào
hoàn cảnh cha mẹ bỏ nhau và 30% trẻ em lang thang đường phố xuất thân từ hoàn
cảnh này [22]. Theo một kết quả điều tra của Bộ Công an có đến 8% số trẻ vị thành
niên phạm tội có cha mẹ li hôn [83]. Thêm đó, theo khảo sát của nhóm Young Lives,
trong số 491 trẻ được nghiên cứu, có 7% trẻ cho biết lí do bỏ học vì cha mẹ thường
2
xuyên xảy ra xung đột, li thân, li dị [87]. Cùng với việc li hôn của các cặp vợ chồng,
hiện nay mô hình gia đình mẹ đơn thân xuất hiện và có xu hướng ngày một tăng phần
nào cho ta thấy bức tranh về một gia đình không toàn vẹn (GĐKTV) trong hệ thống
gia đình Việt Nam. Theo kết quả điều tra năm 2007 của Tổng cục Thống kê, Viện Gia
đình và Giới tiến hành có tới hơn 2 triệu người phụ nữ tuổi trưởng thành chọn lối sống
độc thân, trong đó ba phần tư chấp nhận nuôi con một mình. Sau khi nghiên cứu 15
thông số chính về sức khỏe và học tập của trẻ em, Viện Y tế và Phúc lợi Úc cho biết,
hơn 35% trẻ em trong gia đình chỉ có cha hoặc mẹ bị thừa cân hoặc béo phì; so với
24% ở trẻ mà gia đình có đầy đủ cả cha lẫn mẹ,… [81]. Những thông tin và những con
số thống kê đã chứng minh rằng trẻ em khi trải qua những biến động, chấn thương tâm
lí xuất phát từ gia đình là đối tượng phải đối diện với nhiều nguy cơ về sức khỏe cùng
các tác động tiêu cực đến sự phát triển nhân cách của trẻ em.
Tuổi thiếu niên được xác định vào khoảng từ 11 - 15 tuổi, tương ứng với những
năm học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường trung học cơ sở (THCS), là lứa tuổi chưa phát
triển vượt bậc về thể chất và tâm sinh lí. Đây là lứa tuổi thường dễ bị tác động về mặt
cảm xúc, hay nhạy cảm với các vấn đề của cuộc sống. Đồng thời, tự ý thức phát triển,
trẻ nhận thức và rất kì vọng vào bản thân, gia đình, cha mẹ. Vì thế khi gặp một sự cố,
có thể rất nhỏ đối với người khác nhưng là một cú sốc rất lớn đối với trẻ và dễ dẫn đến
hiện tượng trẻ không chấp nhận bản thân dẫn đến những hành vi lệch chuẩn. Ngay cả
về chú ý, có vấn đề về giao tiếp xã hội, hành vi vi phạm qui tắc ứng xử và hành vi
hung tính như những biểu hiện cơ bản trong các biểu hiện TTTL của trẻ.
4.2. Về khách thể nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên khách thể là trẻ em từ 11 - 15 tuổi đang sinh
sống trong gia đình có cha mẹ li hôn và gia đình mẹ đơn thân (dạng GĐKTV) tại
TP.HCM. Không nghiên cứu những dạng GĐKTV khác trong đề tài nghiên cứu này.
5. Giả thuyết khoa học
Trẻ em trong GĐKTV tại TP.HCM có TTTL với các biểu hiện: lo âu - trầm cảm,
thu mình, rối loạn dạng cơ thể, hành vi hung tính, có vấn đề về chú ý, có vấn đề về tư
duy, có vấn đề về giao tiếp xã hội, hành vi vi phạm qui tắc ứng xử. Trẻ có TTTL tập
trung ở mức khá nặng.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận về TTTL của trẻ em trong GĐKTV gồm:
TTTL; GĐKTV và sự ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí trẻ em; TTTL của trẻ em
trong GĐKTV.
4
6.2. Khảo sát thực trạng TTTL của trẻ em trong GĐKTV tại TP.HCM và các yếu
tố ảnh hưởng đến TTTL của trẻ em trong GĐKTV. Trên cơ sở đó, đề xuất biện pháp
góp phần giảm thiểu TTTL của trẻ em trong GĐKTV.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp luận
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp luận khác nhau, trong đó quan điểm
hệ thống cấu trúc và quan điểm thực tiễn đóng vai trò chủ yếu.
7.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lí luận như tổn
thương, TTTL, gia đình, GĐKTV, TTTL của trẻ em trong GĐKTV. Nghiên cứu đề tài
(xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập
theo quan điểm hệ thống cấu trúc toàn vẹn nhưng có tính động.
gồm phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp mô
tả chân dung tâm lí là các phương pháp bổ trợ.
7.2.2.1. Phương pháp trắc nghiệm
a. Mục đích
Đây là phương pháp chủ đạo của đề tài. Phương pháp này được sử dụng trong
đề tài để đánh giá những TTTL của trẻ em trong GĐKTV gặp phải nhằm làm sáng tỏ
vấn đề mà các phương pháp khác không thực hiện được.
b. Cách thực hiện
Trong nghiên cứu này, sử dụng công cụ nghiên cứu nằm trong bộ công cụ được
xây dựng dựa trên thực chứng và đã được tiêu chuẩn hóa ASEBA của tác giả
Achenbach là bản mô tả về cảm xúc - hành vi của thiếu niên (YSR) [54].
YSR là các công cụ đánh giá được xây dựng nhằm đánh giá cảm xúc - hành vi
của trẻ em trong độ tuổi từ 11 - 18 tuổi trong thời gian 6 tháng trước thời điểm điền
phiếu, được thiết kế phù hợp để hầu hết các trẻ em trong độ tuổi 11 - 18 tuổi có thể tự
điền.
Cấu trúc của thang YSR bao gồm 112 biểu hiện vấn đề cảm xúc, hành vi ở trẻ
em. Các vấn đề này được phân thành 8 trục hội chứng chính của các vấn đề cảm xúc hành vi thường gặp ở trẻ em và vị thành niên theo bảng phân loại bệnh lần thứ 4 của
Hoa Kì (DSM - IV): thu mình, rối loạn dạng cơ thể, lo âu - trầm cảm, có vấn đề về chú
ý, có vấn đề về giao tiếp xã hội, có vấn đề về tư duy, hành vi hung tính và hành vi vi
phạm qui tắc ứng xử. Công cụ YSR được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức trên
6
khách thể.
7.2.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a. Mục đích
Đề tài xây dựng bảng hỏi nhằm đánh giá nhận thức của trẻ về hoàn cảnh gia
đình; mối quan hệ của trẻ với cha mẹ; các yếu tố ảnh hưởng đến TTTL của trẻ em
trong GĐKTV và những khó khăn của trẻ trong GĐKTV gặp phải.
b. Cách thực hiện
7.2.3.2. Cách thực hiện
Các phép tính thống kê suy luận được sử dụng để tính hệ số tin cậy, tần số, tỉ lệ
phần trăm, điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm nghiệm T - Test, kiểm
nghiệm Anova, tương quan Pearson để bình luận số liệu thu được từ phương pháp trắc
nghiệm và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
8
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔN THƢƠNG TÂM LÍ CỦA
TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH KHÔNG TOÀN VẸN
1.1. Lịch sử nghiên cứu về tổn thƣơng tâm lí của trẻ em trong gia đình không
toàn vẹn
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu về tổn thƣơng tâm lí của trẻ em trong gia đình không
toàn vẹn ở nƣớc ngoài
1.1.1.1 Một số nghiên cứu về tổn thương tâm lí
Từ cuối thế kỷ 19, vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung và TTTL ở con người
nói riêng chính thức được nghiên cứu và đến nay đã tồn tại một số hướng tiếp cận sau:
a. Một số nghiên cứu sơ khai về tổn thương tâm lí
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các vấn đề lớn
như nguồn gốc, triệu chứng lâm sàng của TTTL. Đáng có vấn đề về chú ý là nghiên
cứu của nhà tâm thần học người Đức Herman Oppenheim (1984) đã miêu tả đầu tiên
những triệu chứng TTTL lâm sàng ở những bệnh nhân trải qua tai nạn đường sắt hoặc
tai nạn lao động như sau: “Ở họ luôn có nỗi lo thường trực, họ sợ phải đối mặt với
những kích thích gợi lại sự kiện gây ra tai nạn, rối loạn giấc ngủ kèm theo cơn ác
mộng, dễ cáu gắt, quá cảnh giác và thu mình lại”. Đồng thời, tác giả là người đầu tiên
gọi những rối nhiễu tâm lí ở các bệnh nhân này bằng thuật ngữ nhiễu tâm sau sang
chấn [8].
Ở một nghiên cứu khác, thông qua quá trình làm việc với phụ nữ tổn thương
trong bệnh viện Salpetriere, Jean Martin Charcot được xem như người đầu tiên nghiên
Đến năm 1986, tác giả đã chỉ ra nguyên nhân cụ thể của chứng cuồng loạn (“hysteria”)
xuất phát từ việc bị lạm dụng tình dục bởi người khác. Từ đó, tác giả đã phát triển khái
niệm chứng cuồng loạn (“hysteria”) trở thành lí thuyết tình dục, sau đó phát triển
thành “lí thuyết quiến rũ” (seduction theory). Tuy nhiên, lí thuyết này sau đó không
được chấp nhận nên nó đã thay đổi để tập trung vào xung đột nội tâm (nó/ cái ấy, cái
tôi và cái siêu tôi với tên gọi là lí thuyết xung đột với cách hiểu không phải kí ức về
tổn thương ở bên ngoài đã gây ra chứng cuồng loạn (“hysteria”) mà chính là bản chất
không thể chấp nhận những mong muốn tình dục và hung tính [49]. Như vậy, có thể
nhận thấy rằng, đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu cuối thế kỷ 19, S.Freud thừa
nhận TTTL sinh ra từ thực tiễn nhưng khi giải thích về chứng nhiễu tâm sau chiến
tranh, ông xem rối nhiễu tâm lí này là kết quả của xung đột tâm lí giữa các hiện tượng
tâm lí đã có, đã được hình thành ở cá nhân với những hiện tượng tâm lí mới đang được
10
hình thành trong cá nhân .
Gần với quan điểm của Freud, trong cuốn sách viết về “Lí thuyết phân tâm học
và nhiễu tâm” (năm 1945), nhà phân tâm học người Áo Otto Fénichel đã viết về các
tình huống gắn với sự kiện gây sang chấn được hồi tưởng lại hoặc xuất hiện trong giấc
mơ của cá nhân là kết quả của các quá trình chuyển dịch giữa các hiện tượng tâm lí
bên trong cá nhân như là sự dồn nén bảo vệ cái tôi. Quan điểm này của tác giả nhận
được sự đồng tình và kế thừa trong các nghiên cứu sau này, tiêu biểu là những nghiên
cứu liên quan đến nhiễu tâm sang chấn tâm lí của bác sĩ đa khoa người Pháp là Louis
Croucp [9].
Như vậy, thông qua các nghiên cứu theo trường phái phân tâm mà trong đó tiêu
biểu là lí thuyết TTTL sau sang chấn, lí thuyết xung đột của Freud (1919) và sự dồn
nén bảo vệ cái tôi (O.Fénichel, 1945) đã thể hiện rõ bản chất của TTTL. Đây là những
tư tưởng tiến bộ, là nền tảng để nghiên cứu và điều trị trong ngành Y - Tâm bệnh tại
Mỹ từ năm 1895 đến 1975.
c. Một số nghiên cứu về tổn thương tâm lí theo lí thuyết hiện đại
năm 1980. Đây là thuật ngữ để chỉ sự TTTL của những cá nhân do phải trải qua hoặc
chứng kiến một sự kiện nguy hiểm nằm ngoài phạm vi kinh nghiệm của con người như
chiến đấu, thảm họa thiên niên, hiếp dâm, bao lực,… đã ảnh hưởng đến sự sống, sự
toàn vẹn của một cá nhân hay một nhóm người.
Từ cuối thế kỷ 20 đến nay, nghiên cứu sự TTTL về mặt triệu chứng lâm sàng
trên thế giới chủ yếu tập trung nghiên cứu PTSD theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM - IV
của Hội các nhà Tâm thần học Mỹ đưa ra với bốn nhóm hội chứng cơ bản sau: Thứ
nhất, bệnh nhân chứng kiến hoặc gặp lại sự kiện gây sang chấn; Thứ hai, hội chứng
xâm nhập: sự kiện gây sang chấn tâm lí luôn tái hiện trong tâm trí bệnh nhân; Thứ ba,
hội chứng né tránh hoặc giảm khả năng hoạt động, bệnh nhân né tránh các kích thích
gắn với sự kiện gây sang chấn và giảm hoạt động nói chung; Thứ tư, hội chứng suy
nhược thần kinh giao cảm: ở bệnh nhân tồn tại dai dẳng những triệu chứng dẫn đến
suy nhược thần kinh giao cảm. Các triệu chứng lâm sàng thuộc nhóm thứ hai, ba và
bốn kéo dài hơn một tháng. Các triệu chứng lâm sàng ảnh hưởng đến hoạt động xã hội,
nghề nghiệp, cuộc sống gia đình hoặc những lĩnh vực quan trọng khác [10].
Hiện nay, bên cạnh những quan điểm trái chiều cho rằng khái niệm PTSD là
quá nghiêm khắc, chặt chẽ, không xác định thỏa đáng hết các đối tượng TTTL (John
Briere, 2006), (Bessel A.van der Kolk, 2001),… thì nhiều nghiên cứu sử dụng tiêu chí
12
chẩn đoán PTSD để đánh giá tình trạng TTTL (Margaret J.Hughes & Loring Jones,
2000), (Dutton M.A., 2009), (Kathleen J.Moroz (2005),… và nhất quán cho rằng một
người có TTTL không nhất thiết sẽ phát triển thảnh PTSD, nhưng một người có triệu
chứng PTSD thì luôn chứng tỏ rằng họ đã trải qua sang chấn và có TTTL [49].
1.1.1.2. Một số nghiên cứu về gia đình không toàn vẹn
Cho đến nay, có không ít các công trình nghiên cứu về GĐKTV trên thế giới đã
được công bố rộng rãi, đặc biệt ở các quốc gia mà chính sách phúc lợi đi đầu như Anh,
Đức, Na - Uy, Pháp, Hàn Quốc,... Qua các công trình nghiên cứu này đã cho thấy một
bức tranh toàn cảnh về thực trạng, khó khăn của trẻ trong GĐKTV gặp phải, cần có sự
cứu liên quan đến GĐKTV, trong đó phần lớn là các nghiên cứu thực trạng, nguyên
nhân phát sinh của hiện tượng người mẹ đơn thân, những khó khăn và định kiến, dư
luận xã hội, mạng lưới người mẹ đơn thân và những nghiên cứu nhằm đưa ra những đề
án, chính sách xã hội hỗ trợ người mẹ đơn thân và con cái của họ [48]. Các nghiên cứu
chủ yếu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu Xã hội học, Thống kê học hay Y
tế học, có rất ít nghiên cứu về GĐKTV được tiến hành theo nghiên cứu Tâm lí học.
Các nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra hiện tượng mà chưa gắn với các lí
luận có liên quan đến gia đình để phân tích sâu sắc hơn về vấn đề này.
Nhìn chung các nghiên cứu kể trên đề cập đến gồm nhiều khía cạnh đa dạng
của GĐKTV như vấn đề nhân quyền, vấn đề phúc lợi xã hội, những khó khăn mà
GĐKTV phải đối diện,… đã đem đến cái nhìn tổng quát về GĐKTV ở các xã hội khác
nhau, đặc biệt ở các nước phương Tây - nơi có cái nhìn “thoáng” hơn so với xã hội
phương Đông và có sự ưu ái nhiều hơn cho loại hình gia đình này thông qua các chính
sách phúc lợi xã hội hỗ trợ như về nhà cửa, tiền trợ cấp, dịch vụ phúc lợi chăm sóc con
cái,… Tuy vậy, cần có những nghiên cứu xem xét đầy đủ hơn ở góc độ khác nhau,
trong đó có ảnh hưởng của GĐKTV đến hành vi, suy nghĩ, nhận thức cũng như cuộc
sống của trẻ em lớn lên trong những gia đình này.
1.1.1.3. Một số nghiên cứu về tổn thương tâm lí của trẻ em trong gia đình
không toàn vẹn
Nhìn chung, các nghiên cứu chuyên sâu vào từng dạng GĐKTV, trong đó,
nghiên cứu về tâm lí trẻ trong gia đình có cha mẹ li hôn là chủ yếu.
Năm 1992, Hetherington và Clingempeel đã nghiên cứu và đi đến kết luận rằng
trẻ em và thanh thiếu niên trong các gia đình cha mẹ đơn thân chiếm tỉ lệ cao trong các
vấn đề cảm xúc và lạm dụng chất kích thích, mức độ tự trọng, năng lực xã hội và sự
14
thành công thấp hơn so với các cá nhân trong gia đình có cả cha lẫn mẹ [61].
Giáo sư Kevin Beaver thuộc ĐH Florida nghiên cứu trên 1.816 nam thiếu niên
tuổi từ 12 - 18 và ông đã phát hiện ra một gen mang tên DAT - 1 có ảnh hưởng lên
và trẻ càng nhỏ thì TTTL càng cao [65].
Cuốn sách Khi cha mẹ chia tay của tác giả G.S. Gerard Poussin Elisabeth
Martin Lebrun (2003) đã khái quát một bức tranh khá đầy đủ mô tả về việc li hôn của
các cặp vợ chồng. Ở đó hình ảnh của đứa trẻ trong gia đình có cha mẹ li hôn được mô
tả tương đối rõ nét. Từ sự phát triển tâm sinh lí qua các giai đoạn tương ứng với những
mẫu ứng xử hành vi mà trẻ có cha mẹ li hôn trong giai đoạn đó; từ những TTTL mà trẻ
gặp phải trước và sau khi cha mẹ li hôn cho đến những cách phòng ngừa và điều trị để
giúp trẻ vượt qua khủng hoảng của gia đình. Kể cả vị trí của trẻ trong gia đình khi còn
có cha mẹ đến lúc phải ở với một trong hai người thì vị trí đó có ảnh hưởng như thế
nào đến tâm lí trẻ [13]. Tuy nhiên, những phương pháp trị liệu, những biện pháp khắc
phục khó khăn sau khi li hôn được đề cập trong tác phẩm được mô tả nhưng chưa đầy
đủ, do vậy việc ứng dụng vào trong thực tiễn chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Những các nghiên cứu của các tác giả trên nhất quán thừa nhận rằng trẻ trong
GĐKTV gặp nhiều vấn đề về cảm xúc, hành vi, quan hệ xã hội kém thích nghi và dễ
sa vào các tệ nạn xã hội hơn so với trẻ trong gia đình toàn vẹn.
1.1.2. Một số nghiên cứu về tổn thƣơng tâm lí của trẻ em trong gia đình
không toàn vẹn ở trong nƣớc
1.1.2.1. Một số nghiên cứu về tổn thương tâm lí
Nghiên cứu về TTTL ở trong nước bắt đầu từ những nghiên cứu đầu tiên vào
năm 1984 của Nguyễn Việt đã đề cập đến các bệnh tâm căn - bệnh tâm thần chức năng
xuất hiện do những sang chấn tâm thần có ý nghĩa thông tin riêng tác động vào những
nhân cách có cấu trúc đặc biệt. Nguyên nhân gây ra các bệnh tâm căn là các sang chấn
tâm lí trong mối quan hệ liên quan phức tạp giữa cá nhân và cá nhân, tác động vào tâm
thần, gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, tức giận, ghen
tuông, thất vọng [51].
Nghiên cứu về hậu quả TTTL ở các cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam
của tác giả Lê Văn Hảo và M. Martinez (2010) đã chỉ ra rằng đại đa số các cựu chiến
binh bị nhiễm chất độc da cam đã phải chịu TTTL trong những năm tháng đầu sau
chiến tranh. Họ có nhiều triệu chứng PTSD. Các triệu chứng này giảm dần theo thời
gian và chấm dứt với một số người, một số người còn lại vẫn phải tiếp tục chịu hậu