1 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Suy dinh dưỡng (SDD) ở bà mẹ và trẻ em là vấn đề thời sự ở các nước
nghèo và đang phát triển. Tổ chức Y tế thế giới đã nhận định trên thế giới
hiện còn 36 nước có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cao, trong đó có nước
ta[12]. Hiện nay trên thế giới mỗi năm có hàng triệu bà mẹ và trẻ em tử vong
do các nguyên nhân liên quan đến dinh dưỡng và có các biểu hiện kém phát
triển về thể chất, tinh thần do bị suy dinh dưỡng từ nhỏ. Các bằng chứng khoa
học đã cho thấy, những năm đầu tiên của cuộc đời nếu trẻ bị suy dinh dưỡng
có thể để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không phục hồi được và
kéo sang thế hệ sau. Suy dinh dưỡng không những ảnh hưởng trước mắt, trực
tiếp đến phát triển của trẻ mà còn dẫn đến những hậu quả không thể sửa chữa
được như tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết quả học tập kém, giảm khả
năng lao động của người lớn và ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân.
Ở nước ta từ những năm 1980 trở về trước, trẻ SDD thể Kwashiorkor,
Marasmus gặp khá nhiều trong bệnh viện và cũng như cộng đồng. Những
năm gần đây, các thể này đã trở nên hiếm gặp hiện nay chủ yếu là thể vừa và
thể nhẹ, biểu hiện là trẻ chậm lớn, nhẹ cân, thấp, còi. Năm 2005 tỉ lệ SDD cân
nặng thấp ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 25,2% đã giảm đi một nửa so
với thập kỉ 80 (51,2%). Kết quả của Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm
2010 cho thấy khoảng 17,5% trẻ < 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cân và khoảng
29,3% bị SDD thể thấp còi. Kết quả điều tra cũng cho thấy phân bố SDD
không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau. [12]
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam đã được cải thiện nhưng
vẫn chưa đạt được mục tiêu thiên niên kỷ cũng như chỉ số phát triển con
Kinh tế, tăng gấp 2 lần so với tốc độ trung bình của cả nước [1]. Tỉ lệ trẻ em
SDD thể thấp còi của tỉnh Vĩnh phúc năm 2010 là 27,9% thấp hơn so với tỉ lệ
chung của cả nước. Tuy nhiên kết quả này chưa phản ánh được thực trạng tại
các xã vùng sâu vùng xa (với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh
dưỡng của người dân khác với mặt bằng chung của tỉnh) như xã Ngọc Thanh,
thị xã Phúc Yên. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát tình hình suy
dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình
trạng suy dinh dưỡng trẻ em tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc” mong muốn góp phần nhỏ vào việc phòng chống SDD trẻ em ở địa
phương ngày càng hiệu quả hơn.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Ngọc
Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc năm 2011.
- Tìm hiểu về một số yếu tố liên quan đến tình hình suy dinh dưỡng của
trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
2
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
3 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
4 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
< 6 tháng: 550 kcal/ ngày.
7 – 12 tháng tuổi: 710 kcal/ ngày.
1 – 3 tuổi: 1180 kcal/ngày.
4 – 6 tuổi: 1470 kcal/ngày.
Để đảm bảo mức kết hợp tối ưu giữa các chất sinh năng lượng, tỉ lệ
năng lượng do protein cung cấp chiếm 14 – 16%, lipid chiếm 20 – 30%, và
glucid chiếm 60 – 70% tổng số năng lượng cả ngày. Nếu năng lượng được
cung cấp vượt quá nhu cầu kéo dài sẽ dấn đến tích năng lượng thừa dưới dạng
mỡ, đưa đến tình trạng thừa cân và béo phì với những hậu quả về bệnh tim
mạch, tăng huyết áp, tiểu đường… Nếu năng lượng cung cấp không đủ, có thể
dẫn đến những biểu hiện thiếu năng dượng trường diễn ở người lớn và thiếu
dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em.
2.1.2. Vai trò và nhu cầu protid
Protid là yếu tố tạo hình chính mà không có chất dinh dưỡng nào có thể
thay thế được. Nó tham gia vào thành phần cơ bắp, máu, bạch huyết, nội tiết
tố, kháng thể... Bình thường chỉ có mật và nước tiểu là không có protid.
Protid liên quan đến mọi chức năng sống của cơ thể, nó cần thiết cho
trong đó có một số acid amin cần thiết cơ thể không tự tổng hợp được mà phải
lấy từ thức ăn. Trong tự nhiên không có loại thức ăn nào có thành phần acid
amin hoàn toàn giống với thành phần acid amin của cơ thể, do đó để đáp ứng
được nhu cầu của cơ thể cần phải phối hợp các loại protid của nhiều nguồn
thức ăn để có thành phần acid amin phù hợp.
Nhu cầu protid thay đổi tuỳ thuộc vào lứa tuổi, trọng lượng, giới tính, tình
trạng sinh lý như có thai, cho con bú hoặc bệnh lý. Nếu protid trong khẩu phần
thiếu trường diễn cơ thể sẽ gầy, ngừng lớn, chậm phát triển thể lực và tinh thần,
mỡ hoá gan, rối loạn chức phận nhiều tuyến nội tiết, giảm nồng độ protid máu,
giảm khả năng miễn dịch và cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng.
Nếu cung cấp protid vượt quá nhu cầu, protid sẽ chuyển thành lipid và
dự trữ ở mô mỡ của cơ thể. Sử dụng thừa protid quá lâu có thể sẽ dẫn tới các
bệnh thừa cân, béo phì, bệnh tim mạch, ung thư đại tràng, bệnh Gút và tăng
đào thải calci.
Theo đề nghị của Viện Dinh Dưỡng [5] nhu cầu protid khuyến nghị
dành cho trẻ em như sau:
< 6 tháng tuổi : 12 gr/ngày.
7 – 12 tháng tuổi: 21 – 25 gr/ngày.
1 – 3 tuổi: 35 – 44 gr/ngày.
4 – 6 tuổi: 44 – 55 gr/ngày.
Do các protid nguồn gốc động vật và thực vật khác nhau về chất lượng
nên người ta hay dùng tỷ lệ % protid nguồn gốc động vật trên tổng số protid
để đánh giá tính cân đối của protid khẩu phần. [5]
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
5
Khoa GDTH
thức ăn, tạo hương vị thơm ngon trong các bữa ăn và còn gây cảm giác no lâu.
Để đánh giá tính cân đối của lipid trong khẩu phần một mặt căn cứ vào
tỷ lệ năng lượng do lipid cung cấp so với tổng số năng lượng, mặt khác là yêu
cầu cân đối giữa các axit béo trong khẩu phần, trên thực tế biểu hiện bằng
tương quan giữa lipid nguồn gốc động vật và thực vật. Theo khuyến cáo của
Viện dinh dưỡng đối với trẻ em tỷ lệ % giữa lipid nguồn gốc động vật và thực
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
6
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
7 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
vật: 70% và 30%. Thiếu lipid làm cơ thể thiếu năng lượng, thiếu các vitamin
tan trong dầu mỡ, ảnh hưởng đến chức phận nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ
thể, đặc biệt là não bộ và thần kinh.
Do đó, nhu cầu khuyến nghị về lipid cho trẻ em như sau: [5]
- Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi, năng lượng do lipid cung cấp là 45 –
50% năng lượng tổng số.
- Đối với trẻ 6 – 11 tháng năng lượng do lipid cung cấp là 40%.
- Đối với trẻ 1 – 3 tuổi năng lượng do lipid cung cấp là 35 – 40%.
8 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Ăn uống quá nhiều, glucid thừa sẽ chuyển thành lipid và đến mức độ
nhất định sẽ gây ra hiện tượng béo phì.
2.1.5. Vai trò và nhu cầu vitamin
Vitamin là những chất hữu cơ cần thiết với cơ thể. Tuy cơ thể con người
hàng ngày chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng các vitamin có vai trò thiết yếu cho
việc duy trì và nâng cao tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe. Phần lớn các vitamin
phải đưa từ thức ăn vào cơ thể, chúng thuộc nhóm chất cần thiết cho cơ thể
tương tự như acid amin cần thiết. Người ta chia vitamin thành 2 nhóm:
Nhóm vitamin tan trong chất béo: A, D, E, K. Trong số này, chức năng
của vitamin A và D đã được tìm hiểu rộng rãi. Vitamin A cần thiết cho quá
trình nhìn, sự bền vững của da và chức năng miễn dịch. Vitamin D giúp cho
cơ thể tăng hấp thu calci và phospho để hình thành và duy trì hệ xương, răng
vững chắc. Beta – carotene, tiền chất của vitamin A, vitamin E, có vai trò là
chất anti oxidant, bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây oxy hóa. Vitamin
K cần thiết cho quá trình đông máu và tham gia vào quá trình tạo xương. Mặc
dù, các vitamin này có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe, nhưng khi dùng với liều
lượng cao có thể gây ngộ độc.
Nhóm vitamin tan trong nước: bao gồm vitamin nhóm B, vitamin C,
vitamin PP… Trong các vitamin nhóm B: B1 giúp chuyển hóa glucid thành
năng lượng, tham gia điều hoà quá trình dẫn truyền các xung động thần kinh
do nó ức chế khử axetyl – cholin; vitamin B2 là thành phần của nhiều hệ
thống men tham gia chuyển hoá trung gian. Vitamin C tăng cường sức đề
kháng của cơ thể, là chất chống oxy hóa, tham gia nhiều quá trình chuyển hoá
quan trọng, ngoài ra còn kích thích tạo colagen của mô liên kết, sụn, xương,
B2
PP
D
E
K
C
(mcg)
(mg)
(mg)
(mg)
(mcg)
(mg)
(mg)
(mg)
3–6
9
30
12 – 36
400
0,5
0,5
6
5
5
13
30
36 – 60
450
0,6
0,6
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
10 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Các chất khoáng giữ vai trò quan trọng đối với cơ thể đang phát triển.
Tuy nhiên, yêu cầu chung về chúng vẫn còn chưa đầy đủ. Hiện nay chúng ta
có thể áp dụng mức nhu cầu chất khoáng cho trẻ như trong bảng sau:
Bảng 2: Nhu cầu khuyến nghị đối với các chất khoáng [5]
Loại khoáng
Tháng tuổi
Calxi
P
Mg
Fe
I
Zn
6
6 – 12
400
275
54
12,4
90
4,1
10
12 – 36
500
460
65
7,7
90
2.2.1.2. Phát hiện, đánh giá, phân loại SDD trẻ em
Để phát hiện SDD trẻ em đơn giản nhất là dùng biểu đồ tăng trưởng
đánh giá cân nặng của trẻ theo độ tuổi. Biểu đồ tăng trưởng được đính kèm
trong sổ theo dõi sức khỏe trẻ em, cấp cho mỗi trẻ sau sinh và dùng đến 6 tuổi.
Trẻ sẽ được định kỳ cân đo tại các cơ sở y tế địa phương, ghi nhận cân nặng
vào biểu đồ và vẽ đường phát triển cân nặng theo tuổi. Trẻ được xem là có
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
10
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
11 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
nguy cơ suy dinh dưỡng nếu đứng cân liên tục trong vòng 3 tháng, đường phát
triển cân nặng theo tuổi đi theo hướng nằm ngang. Trẻ suy dinh dưỡng nếu
đường phát triển cân nặng theo tuổi nằm bên dưới đường chuẩn của biểu đồ.
Để đánh giá dinh dưỡng toàn diện cần có ít nhất 3 chỉ số:
Cân nặng theo tuổi (W/A).
11
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
12 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Sau hai thập kỷ áp dụng một số nhược điểm của quần thể NCHS Hoa
Kỳ đã bộc lộ: được xây dựng trên quần thể trẻ em Hoa Kỳ, đa số trẻ không
được nuôi bằng sữa mẹ mà nuôi bằng sữa công thức, do vậy cân nặng có phần
cao hơn, chiều cao có phần thấp hơn so với trẻ nuôi bằng sữa mẹ. Từ 1993,
WHO đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm lớn về tăng trưởng trên trẻ
em ở 6 nước có điều kiện phát triển và chủng tộc khác nhau (Braxin, Ghana,
Ấn Độ, Nauy, Oman và Hoa Kỳ). Kết luận cho thấy, trẻ em từ 0 đến 5 tuổi
được bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi và ăn bổ sung hợp lý đều có đường
tăng trưởng tương tự nhau. Trên cơ sở đó, năm 2006, WHO đã công bố chuẩn
tăng trưởng mới cho trẻ em và khuyến nghị ứng dụng thống nhất toàn cầu,
vẫn sử dụng thang phân loại WHO (1981) ngưỡng phân loại không thay đổi.
Một số chỉ số nhân trắc khác cũng được dùng để phát hiện đánh giá suy
dinh dưỡng như số đo vòng đầu, vòng cánh tay... Nhưng thời gian sau này ít
được áp dụng do không cụ thể, chi tiết và không chính xác vì phải phụ thuộc
vào cách đo, kỹ năng thực hành...
2.2.2. Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em
cọc học kém hơn. Tỷ lệ trẻ thấp còi cao nhất ở Châu Phi và Châu Á, ở vùng
Trung Nam Á, tỉ lệ này lên tới 36% trong năm 2010.
Theo dõi diễn biến SDD thấp còi các vùng và lãnh thổ khác nhau
trên thế giới từ năm 1980 đến 2005 cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi đều giảm,
tuy nhiên châu Phi và châu Á vẫn là những vùng có tỷ lệ cao theo đánh giá
của WHO (châu Phi 33,8% và châu Á 29,9% vào năm 2005). Tỷ lệ thấp nhất
thuộc vùng châu Mỹ La tinh và Carribe, chỉ có khoảng gần 10% trẻ em dưới
5 tuổi bị SDD thấp còi.
2.2.2.2. SDD trẻ em tại Việt Nam [3]
SDD protein năng lượng ở trẻ em Việt Nam v ẫ n còn là một thách
thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội.
Phân bố SDD không đồng đều ở các vùng khác nhau. Phân bố SDD không,
nhiều địa phương như khu vực miền núi, Tây nguyên, miền Trung tỷ lệ cao
hơn hẳn so với các vùng khác.
Tỷ lệ trẻ SDD tính chung trên toàn quốc đã giảm nhiều nếu tính từ
1985 (51,5%) đến 1995 (44,9%) mỗi năm giảm trung bình 0,66%.
Từ năm bắt đầu Kế hoạch Hành động Quốc gia về dinh dưỡng (1995),
chỉ sau 4 năm tỷ lệ SDD đã giảm xuống còn 36,7% (1999), trung bình mỗi
năm giảm 2%, là tốc độ được quốc tế công nhận là giảm nhanh. Như vậy, mỗi
năm đã đưa khoảng gần 200 ngàn trẻ dưới 5 tuổi thoát khỏi SDD
Năm 2000, theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, tỷ lệ SDD trẻ
em còn 33,1%. Có thể nói thành tựu giảm nhanh tỷ lệ SDD trẻ em trong 5
năm đó rất đáng ghi nhận. SDD nặng đã giảm hẳn (0,8%) và SDD ở nước ta
hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa.
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
13
Khoa GDTH
hình nguyên nhân của SDD cho thấy, SDD là do tác động của nhiều yếu tố,
có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực – thực phẩm và thực
hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Mô hình chỉ ra các nguyên nhân ở các
cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân
sâu xa và các yếu tố ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác.
Nguyên nhân trực tiếp phải kể đến là thiếu ăn về số lượng hoặc chất
lượng (tình trạng nghèo đói) và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Trẻ em trước tuổi
học đường là đối tượng bị SDD cao nhất bởi vì cơ thể ở giai này phát triển
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
14
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
15 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
nhanh, nhu cầu dinh dưỡng cao và nhiều lí do khác nhau chúng không được
ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng.
Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian
bị suy dinh dưỡng và thể loại SDD. Khi cho ăn bổ sung muộn, như ở một số
nước châu Phi, các trường hợp SDD nặng xảy ta vào năm tuổi thứ hai, thứ ba
hoặc thứ tư và thường là thể Kwashiorkor. Thể Marasmus lại hay xảy ra vào
16 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2.2.4. Nguy cơ của SDD [7]
SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành
của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành. SDD trẻ em thường để lại
những hậu quả nặng nề. Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở giai
đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của
đời người. Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ.
Tác giả Baker nêu ra một thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số
bệnh mạn tính. Theo ông, các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển
hóa ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ SDD bào thai. Chính vì thế,
phòng chống SDD bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có
một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời.
SDD có thể dẫn tới các nguy cơ sau:
- Tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi: Theo Tổ chức Y tế Thế giới,
54% trường hợp tử vong của trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển có liên
quan đến thiếu dinh dưỡng ở mức độ vừa và nhẹ.
- Tăng các nguy cơ bệnh lý: Nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy... SDD
dưỡng là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy ra và kéo dài, bệnh lý làm
cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng và vì vậy suy dinh dưỡng
ngày càng trở nên nặng nề hơn.
- Chậm phát triển thể chất: Ảnh hưởng trên tầm vóc. Thiếu dinh
dưỡng là nguyên nhân trực tiếp làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm
phát triển, bao gồm của cả hệ cơ xương, nhất là khi tình trạng thiếu dinh
dưỡng diễn ra sớm như SDD trong giai đoạn bào thai và giai đoạn sớm trước
SDD trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối ưu, là
một sự lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển có nhu cầu về
nguồn nhân lực rất cao.
Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể
lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản.
2.2.5. Các biện pháp phòng chống SDD [7]
Hiện nay công tác phòng chống SDD trẻ em đã trở thành một hoạt động
dinh dưỡng quan trọng ở nước ta. Phương châm dự phòng là chủ đạo tức là
thực hiện chăm sóc sớm, chăm sóc mọi đứa trẻ và tập trung ưu tiên vào giai
đoạn hai năm đầu tiên. Các biện pháp phòng chống SDD bao gồm:
Thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho bà mẹ có thai, nuôi
con bú
- Quản lý tốt thai nghén và chăm sóc bà mẹ sau đẻ.
- Thực hiện tư vấn, giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai.
- Cho bà mẹ uống viên sắt/axit folic đầy đủ để phòng chống thiếu máu,
uống vitamin A liều cao ngay sau đẻ.
- Cải thiện bữa ăn gia đình và bữa ăn của bà mẹ có thai, cho con bú.
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
17
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
Thực hiện nuôi dưỡng tốt khi trẻ bị bệnh
Các bệnh nhiễm khuẩn nhất là tiêu chảy và viêm đường hô hấp khá phổ
biến và là nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy dinh dưỡng. Vì vậy cần kết
hợp với các hoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ ốm cả về y tế và nuôi dưỡng.
Cần thay đổi những quan niệm không phù hợp như kiêng mỡ, kiêng rau xanh
khi trẻ bị tiêu chảy.
Đây là một điểm quan trọng. Trẻ cần được giữ sạch sẽ, rửa chân tay,
tắm rửa thường xuyên. Cần đảm bảo vệ sinh trong chế biến thức ăn và cho trẻ
ăn. Định kì tẩy giun cho trẻ theo chỉ định của y tế.
Tổ chức giáo dục, tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng và tại gia đình,
theo dõi biểu đồ phát triển.
Công tác giáo dục và tư vấn dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
18
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
19 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
19
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
20 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
tháng đầu. Tác giả cũng nhận thấy việc nuôi con bằng sữa mẹ không hoàn
toàn và trẻ cai sữa sớm sẽ lớn chậm hơn những trẻ được nuôi bằng sữa
mẹ hoàn toàn. [4 ]
Các nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương được thực hiện tại huyện
Cẩm Thủy, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa và huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng
Trị năm 2007 và 2008 cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong nửa giờ
đầu sau khi sinh là khá cao (gần 90%). Tuy nhiên tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn
toàn đến 4 tháng ở Cẩm Thủy là 23,0%; Lang Chánh là 17,8% và Hải Lăng
là 28,5% và đến 6 tháng là 19,0%; 8,6% và 18,3%. Trong số trẻ đã được ăn
bổ sung có 28,1%; 53,7% và 31,9% số trẻ tương ứng tại ba địa phương
được cho ăn bổ sung sớm trước 4 tháng tuổi. Có mối liên quan giữa SDD
và trình độ học vấn của mẹ, và tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp trong hai tuần
qua. [4]
Nghiên cứu của Vũ Phương Hà và cộng sự tại hai huyện Hướng
- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi (mẹ của những trẻ là đối tượng nghiên cứu)
đang có mặt trên địa bàn tại thời điểm nghiên cứu.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi tại xã Ngọc Thanh
3.2.2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em
tại xã Ngọc Thanh
- Mối liên hệ SDD trẻ em < 5 tuổi và đặc điểm cơ bản của bà mẹ, hộ gia
đình.
- Kiến thức nuôi con của người mẹ.
- Thực hành nuôi con của người mẹ.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Thu thập thông tin
3.3.1.1. Đo các chỉ số nhân trắc của trẻ
Đối với trẻ < 2 tuổi kết hợp cùng các cộng tác viên tiến hành cân đo tại
trạm y tế.
Đối với trẻ từ 2 - < 5 tuổi tiến hành cân đo tại trường mầm non.
o
Đo chiều dài nằm đối với trẻ < 2 tuổi
Để thước trên mặt phẳng nằm ngang. Đặt trẻ nằm ngửa, một người giữ
đầu để mắt trẻ nhìn thẳng lên trần nhà, mảnh gỗ chỉ số không của thước áp sát
đỉnh đầu. Một người ấn thẳng đầu gối trẻ và đưa mảnh gỗ ngang thứ hai áp sát
gót bàn chân. Đọc kết quả và ghi số cm với một số lẻ.
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
21
Khoa GDTH
+ Người cân trẻ ngồi đối diện chính giữa mặt cân, khi cân thặng bằng
đọc kết quả cân theo đơn vị là kg với 1 số thập phân.
Đối với trẻ nhỏ chưa tự ngồi để cân được: một người bế trẻ cân sau đó
trừ cân nặng của người bế để có cân nặng của trẻ.
3.3.1.2. Sử dụng bộ phiếu phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp bà mẹ của các trẻ
đã được cân đo. Mục đích thu thập thông tin về đặc điểm chung của đối
tượng nghiên cứu và các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
22
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag
23 of 128.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Ngọc Thanh, thị
xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc [11]
Ngọc Thanh là một xã thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Ranh
giới xã Ngọc Thanh về phía Bắc giáp với tỉnh Thái Nguyên, phía Đông giáp
với huyện Sóc Sơn, phía Tây giáp với huyện Bình xuyên, phía Nam giáp với
thị trấn Xuân Hòa.
Khóa luận tốt nghiệp
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
hộ nghèo ở xã Ngọc Thanh là 227 hộ chiếm 10,03% số hộ dân toàn xã. Tổng
thu nhập kinh tế từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, dịch vụ đạt
83.694.227.000 đồng/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 7.744.375
đồng/người/năm, so với kế hoạch đạt 106%, tăng 10% so với cùng kì năm
trước. Tuy nhiên so với thu nhập bình quân theo đầu người của tỉnh Vĩnh
Phúc (42,9 triệu đồng/người/năm) thì thu nhập bình quân theo đầu người của
xã Ngọc Thanh chỉ xấp xỉ 1/6 thấp hơn rất nhiều. Vĩnh Phúc xếp Ngọc Thanh
là một trong các xã nghèo, vùng sâu, xa của tỉnh.
Về giáo dục Mầm non, Ngọc Thanh có 2 trường: Trường Mầm non
Ngọc Thanh A và Trường Mầm non Ngọc Thanh B. Với 389 trẻ mẫu giáo, 98
trẻ nhà trẻ. Do địa bàn xã có diện tích đất tự nhiên rộng địa hình phức tạp nên
còn có nhiều điểm trường mầm non trực thuộc 2 trường mầm non trên được
đặt tại các xóm. Nhưng đến nay hầu hết các điểm trường mầm non trong xã
đều tổ chức ăn bán trú cho trẻ. Vì vậy phần lớn thời gian trong ngày trẻ được
học tập, vui chơi, ăn ngủ tại trường. Về công tác y tế xã đã duy trì tốt chế độ
khám chữa bệnh cho nhân dân, thực hiện tốt các trương trình về y tế. Thực
hiện tiêm ngừa phòng bệnh và tiến hành cân đo định kì cho trẻ.
4.2. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi tại xã Ngọc Thanh
SDD hiện v ẫ n còn là một thách thức đối với sức khỏe cộng đồng và
phát triển kinh tế xã hội. Tỷ lệ SDD phân bố không đồng đều giữa các vùng
có điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau. Theo số liệu của Viện Dinh dưỡng và
UNICEFF [12] tỉnh Vĩnh Phúc có tỷ lệ trẻ < 5 tuổi SDD thể nhẹ cân (W/A
thấp) là 19,3% cao hơn tỷ lệ chung toàn quốc 1,8%, đối với SDD thấp còi
(H/A thấp) và gầy còm (W/H thấp) lần lượt là 27,9% và 6,8% thấp hơn so với
toàn quốc là 1,6% và 0,3%.
nhóm tuổi của trẻ. Kết quả thu được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1: Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi phân bố theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi
Số mẫu
W/A thấp
H/A thấp
W/H thấp
< 12 tháng tuổi
42
2(4,8%)
2(4,8%)
1(2,4%)
12 - < 24 tháng
34
6 (17,6%)
10(29,4%)
4(12,5%)
Chung
186
42 (22,6%)
59(31,7%)
15(8,1%)
Số liệu ở bảng 1 cho thấy: ở Ngọc Thanh tỷ lệ trẻ < 5 tuổi SDD thể nhẹ
cân, thấp còi, gầy còm là: 22,6%; 31,7% và 8,1% cao hơn so với tỷ lệ SDD
các thể này của trẻ < 5 tuổi tỉnh Vĩnh Phúc lần lượt là: 3,3%; 3,8% và 1,3%.
Lê Thị Hải Anh K34 GDMN
25
Khoa GDTH
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Pag