Vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Bắc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh (qua thực tế ở Sơn La) (tt) - Pdf 48

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc (quốc gia) nói chung và ĐĐKCDT (tộc
người) nói riêng là một trong những nội dung lớn, xuyên suốt, nhất quán trong lý luận
và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Theo Người: “Lúc nào dân ta đoàn kết
muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn
kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [75, tr.256]. Để tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề đoàn kết, chúng tôi chọn “Vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết các
dân tộc ở Tây Bắc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh (qua thực tế ở Sơn La)” làm
đề tài nghiên cứu trong luận án, xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, tư tưởng ĐĐKCDT là một bộ phận cấu thành tư tưởng đại đoàn kết
toàn dân tộc của Hồ Chí Minh. Trong những năm qua, các công trình nghiên cứu về
tư tưởng Hồ Chí Minh đã đề cập đến một số khía cạnh nhất định của vấn đề này. Tuy
nhiên, do mục đích nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc
nên vấn đề ĐĐKCDT chưa được nghiên cứu một cách chi tiết và hệ thống. Do vậy,
cần phải tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKCDT nhằm góp phần làm
rõ tính khoa học và cách mạng cũng như tính tất yếu phải nhận thức và vận dụng sáng
tạo tư tưởng của Người vào xây dựng khối ĐĐKCDT. Đồng thời, nghiên cứu tư
tưởng ĐĐKCDT Hồ Chí Minh để thấy được sức mạnh, động lực của khối ĐĐKCDT
Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.
Thứ hai, Tây Bắc là vùng có vị chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã
hội, quốc phòng - an ninh của cả nước. Nơi đây được coi là “phên giậu” phía Tây
Bắc của Tổ quốc và là địa bàn cư trú của 24 dân tộc anh em 1. Do những đặc điểm về
địa lý, lịch sử và dân tộc nên việc xây dựng khối ĐĐKCDT có ý nghĩa sống còn
trong việc duy trì sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của vùng và của đất
nước. Sơn La là địa phương hội tụ đầy đủ và điển hình những đặc điểm về kinh tế,
xã hội, dân cư, dân tộc,... và được coi là trung tâm của vùng Tây Bắc. Do vậy, phân
tích, đánh giá được thực trạng, nguyên nhân và giải quyết được các vấn đề đặt ra
trong việc xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La có một ý nghĩa rất lớn không chỉ đối

suy giảm lòng tin của đồng bào Tây Bắc đối với Bác Hồ, Đảng và Nhà nước. Do vậy,
việc tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về
ĐĐKCDT nhằm giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc, tăng cường hơn
nữa khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay là vấn đề vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa cơ bản,
lâu dài, góp phần đưa vùng Tây Bắc cùng cả nước tiến lên CNXH.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng xây dựng khối
ĐĐKCDT ở Tây Bắc (qua thực tế ở Sơn La) theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất quan
điểm và những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn nữa việc xây dựng khối
ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở hình thành và nội dung ĐĐKCDT theo tư tưởng Hồ Chí
Minh; thực chất việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKCDT vào xây dựng
khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay.
- Phân tích, đánh giá thành tựu, hạn chế, cũng như nguyên nhân của thành tựu
2. Ở Trung quốc có phong trào ly khai của Tây Tạng, Nội Mông, Tân Cương; ở Inđônêxia có phong trào đòi độc lập của
Acenh; ở Philippin có trong trào đòi tự do của du kích hồi giáo Moro…
3 . Mục đích chính trị bạo loạn năm 2011, tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên: “Mục đích
chính trị của các thế lực thù địch trong vấn đề Tin lành Vàng Chứ là rất thâm độc: nhằm tách đồng bào Mông ra khỏi cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, thành lập “Vương quốc Mông”, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc thống nhất, tạo điều kiện lãnh
thổ - địa lý và chính trị - xã hội cho chúng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loại lật đổ chống phá cách mạng
nước ta.


3

và hạn chế trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc (qua thực tế ở Sơn La) hiện nay
theo tư tưởng Hồ Chí Minh và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng này.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm thực hiện hiệu quả hơn nữa

4. Tây Bắc được xác định gồm 4 tỉnh là Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu và Điện Biên (Theo Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày
30/8/1997 của Thủ Tướng Chính Phủ, phê duyệt Quy hoạch tổng thể kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc thời
kỳ 1996-2010).
5. Sơn La được chúng tôi xác định trong luận án là tỉnh Sơn La.
6. Lý do chúng tôi chọn mốc thời gian năm 2001 vì: tại Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên trong văn
kiện của Đảng ta xác định vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược của cách mạng: “Vấn đề dân tộc
và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp của cách mạng…” [24, tr.127].


4

- Làm sáng tỏ thêm một số nội dung cơ bản tư tưởng ĐĐKCDT của Hồ Chí
Minh dưới góc độ triết học. Phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong
xây dựng khối ĐĐKCDT Tây Bắc (qua thực tế ở Sơn La) theo tư tưởng Hồ Chí Minh
từ sau Đại hội lần thứ IX của Đảng. Từ đó tìm ra mâu thuẫn trong xây dựng
ĐĐKCDT ở Tây Bắc (qua thực tế ở Sơn La) để giải quyết vấn đề xây dựng
ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đề xuất một số quan điểm,
giải pháp xây dựng khối ĐĐKCDT Tây Bắc hiện nay theo tư tưởng ĐĐKCDT của Hồ
Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận án góp phần làm rõ tư tưởng ĐĐKCDT của Hồ Chí Minh dưới góc độ
triết học; khẳng định chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
nước ta trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay.
- Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận của Đảng và Nhà nước ta hoạch định
đường lối, chính sách giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc và việc xây dựng khối
ĐĐKCDT trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, thống nhất về nhận thức và tổ chức
thực hiện việc xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy những nội dung

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã tiếp cận, đánh giá và có
những công trình đánh giá khá sâu sắc vấn đề thực trạng của khối đại đoàn kết toàn
dân và khối đoàn kết các dân tộc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở các khía
cạnh khác nhau. Trong đó, đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế,... trong quá trình thực hiện CSDT nhằm xây
dựng khối ĐĐKCDT. Các tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá vấn đề quan hệ
dân tộc - tộc người và việc thực hiện CSDT trong việc đảm bảo sự công bằng, hợp tác
giữa các dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng đa dân tộc ở
miền núi. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu có hệ thống về thực
trạng vấn đề xây dựng khối đoàn kết các dân tộc ở Tây Bắc nói chung và Sơn La nói
riêng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.3. Những công trình nghiên cứu đề cập quan điểm, giải pháp xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc Đảng ta đã xác
định đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung và đại đoàn kết các dân tộc nói riêng là
đường lối chiến lược của cách mạng của nước ta. Do đó, Đảng và Nhà nước đã có
những chủ trương, quan điểm và giải pháp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
nói chung và đoàn kết các dân tộc nói riêng phù hợp với thực tiễn trong từng giai
đoạn cách mạng. Bên cạnh đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu về quan điểm,
phương hướng và giải pháp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và đoàn kết các dân
tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Để xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc theo tư
tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học cơ bản có quan điểm chung thống nhất về
quan điểm và các giải pháp. Trong đó, về quan điểm: nâng cao nhận thức của cả
HTCT và toàn xã hội về sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc; quán triệt chủ trương,
chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu
dài của sự nghiệp cách mạng nước ta; xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc phải
trên cơ sở quyền lợi tối cao của dân tộc và quyền lợi chân chính của đồng bào… Về
giải pháp: về xây dựng đại đoàn kết các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà
khoa học đều cho rằng cần phải: phát triển kinh tế bền vững; củng cố và tăng cường


THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc
1.1.1. Tiền đề tư tưởng và lý luận
Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt Nam là tiền
đề khách quan đầu tiên góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKCDT Hồ
Chí Minh đã nâng chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết truyền thống lên tầm cao
mới - gắn lý tưởng độc lập dân tộc với khát vọng dân chủ, tự do, hạnh phúc của đồng
bào. Tiếp thu các giá trị văn hóa Đông - Tây về vấn đề dân tộc và đoàn kết. Về văn
hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu hạt nhân hợp lý Nho giáo, Phật giáo để


7

hình thành các quan điểm về phương pháp, nguyên tắc thực hiện sự bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp nhau giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt
Nam. Về văn hóa phương Tây, Người tiếp thu, kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn
hóa phương Tây để xây dựng các quan điểm về ĐĐKCDT nói riêng và lý luận cách
mạng nói chung.
Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, Tiếp thu ở chủ
nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là Luận cương của Lênin đã tạo ra bước ngoặc trong tư tưởng
Hồ Chí Minh. Với thế giới quan, phương pháp luận khoa học, Hồ Chí Minh đã phân tích,
đánh giá, tổng kết các học thuyết, tư tưởng, cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam và
thế giới một cách khoa học. Với thế giới quan, phương pháp luận khoa học của Hồ Chí
Minh, Người đã xây dựng quan điểm khoa học về ĐĐKCDT Việt Nam trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có thể khẳng định, những quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là nguồn gốc lý luận, cơ
sở khách quan đặc biệt quan trọng trong việc hình thành, phát triển và quyết định bản
chất khoa học và cách mạng về ĐĐKCDT của Hồ Chí Minh.
1.1.2. Thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới
Thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Hồ

tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vấn đề dân tộc và
đoàn kết dân tộc để xây dựng các quan điểm về mục tiêu, nguyên tắc, phương pháp,
… ĐĐKCDT. Chính những phẩm chất, bản lĩnh trí tuệ và năng lực hoạt động thực
tiễn là những nhân tố quyết định để Hồ Chí Minh tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hoá và
phát triển những tinh hoa văn hoá dân tộc và thời đại để hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung và ĐĐKCDT nói riêng.
Tóm lại, tư tưởng ĐĐKCDT của Hồ Chí Minh là sản phẩm sáng tạo của sự tích
hợp, phát triển biện chứng các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Trong đó,
những điều kiện khách quan chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam; văn hóa của phương Đông và phương Tây; đặc biệt là chủ nghĩa
Mác - Lênin; thực tiễn sống động của dân tộc và thời đại đã được nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh tiếp biến và phát triển một cách sáng tạo. Hồ Chí Minh không chỉ xây
dựng khối ĐĐKCDT mà còn đã khéo léo vận dụng, tổ chức và thúc đẩy hoạt động của
nó để tạo ra sức mạnh nội sinh vô cùng vĩ đại cho cách mạng Việt Nam.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc
1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đoàn kết và đại đoàn kết các dân tộc
* Quan niệm về đoàn kết.
Khái niệm đoàn kết theo Từ điển Chính trị vắn tắt: “Đoàn kết là hợp nhiều người
thành một khối vững chắc, cùng một lòng một dạ nhất trí với nhau; sự ủng hộ các phong
trào, các tổ chức hoặc cá nhân trên cơ sở quan điểm và lợi ích gần nhau hoặc thống nhất.
Sự phối hợp hoạt động và hành động…” [98, tr.128]. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Đoàn
kết là kết thành một khối thống nhất ý chí, không mâu thuẫn, chống đối nhau” [169,
tr.645]. Một số từ điển khác có cùng quan điểm chung về đoàn kết, đó là: đoàn kết là kết
thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì mục đích chung.
* Quan niệm của Hồ Chí Minh về đoàn kết.
Quan niệm đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Đoàn kết là sự liên minh chặt
chẽ thành một khối thống nhất của số đông người có chung một ý chí, lý tưởng, biết
đồng tâm hiệp lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn nhằm thực hiện mục đích
chung: chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước...
* Quan niệm của Hồ Chí Minh về “đại đoàn kết”.


Theo Hồ Chí Minh, ĐĐKCDT nhằm thực hiện sự thống nhất lợi ích chung giữa
đồng bào các dân tộc với Tổ quốc - Độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho các dân
tộc. Ph.Ăngghen khẳng định: Ở đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự
thống nhất về mục đích và càng không thể có sự thống nhất về hành động. ĐĐKCDT
theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng. ĐĐKCDT nhằm tạo ra sức mạnh, động lực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.2.2. Chủ thể thực hiện đại đoàn kết các dân tộc
Tác giả xác định, chủ thể xây dựng khối ĐĐKCDT theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
Chủ thể là HTCT các cấp (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc… từ Trung ương đến
địa phương) và đồng bào các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt


10

Nam. Trong đó, Đảng là hạt nhân lãnh đạo, Đảng đề ra các quan điểm, chủ trương,
đường lối xây dựng khối ĐĐKCDT. Nhà nước thể chế hóa, hiện thực hóa thành pháp
luật, chính sách và tổ chức thực hiện có hiệu quả, Nhà nước thông qua hệ thống chính
quyền từ Trung ương đến cơ sở để đem lại lợi ích chính đáng và nâng cao đời sống
cho nhân dân trong thực hiện xây dựng khối đoàn kết các dân tộc. Mặt trận Tổ quốc
có trách nhiệm tập hợp, động viên đồng bào tham gia các phong trào, các cuộc vận
động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện dân chủ, tham gia xây dựng Đảng và
chính quyền… Đồng bào các dân tộc là chủ nhân của đất nước, Hồ Chí Minh khẳng
định: Tất cả nhân dân các dân tộc đều có quyền làm chủ nước nhà… Đã là chủ thì
mọi người, mọi dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, phải ra sức tăng gia sản xuất và thực
hành tiết kiệm, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước để xây dựng Tổ quốc, xây dựng
chủ nghĩa xã hội làm cho toàn dân ấm no, nước nhà giàu mạnh.
1.2.2.3. Nguyên tắc đại đoàn kết các dân tộc
Nguyên tắc ĐĐKCDT của Hồ Chí Minh là những quan điểm chỉ đạo sự tập
hợp, gắn kết các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam thành một khối thống
nhất nhằm thực hiện mục tiêu độc lập, tự do của Tổ quốc và vì ấm no, hạnh phúc

kiện nước ta; là hệ thống luận điểm về mục tiêu, chủ thể, nguyên tắc và phương pháp
nhằm định hướng cho việc xây dựng khối ĐĐKCDT Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí
Minh về ĐĐKCDT còn là một trong những cơ sở lý luận trực tiếp của công tác dân tộc
và thực hiện CSDT ở nước ta. Do đó, tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo hơn nữa
tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng khối ĐĐKCDT trên phạm vi cả nước cũng như ở
Tây Bắc là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hiện nay.
1.3. Thực chất của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại
đoàn kết các dân tộc ở Tây Bắc hiện nay
Xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí
Minh là quá trình vận dụng sáng tạo và hiện thực hóa tư tưởng
ĐĐKCDT của Người vào hoạch định hệ thống chính sách và tổ chức
thực hiện phù hợp với thực tế của Tây Bắc; đoàn kết các DTTS với
nhau và đoàn kết DTTS với dân tộc Kinh trong khối thống nhất nhằm
tạo ra sức mạnh, động lực to lớn, có ý nghĩa quyết định cho thắng lợi
của sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam XHCN ở vùng Tây Bắc.
Cụ thể: Một là, Mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Bắc hiện
nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng
bào; xây dựng và phát triển khu vực Tây Bắc giàu mạnh. Hai là, chủ thể xây dựng
khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm hệ thống
chính trị và đồng bào các dân tộc. Ba là, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng và
giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc ở Tây Bắc trong phát triển kinh tế - xã hội, xây
dựng khối đại đoàn kết các dân tộc. Bốn là, phương pháp xây dựng khối đại đoàn kết
các dân tộc là thực hiện công tác dân vận nhằm truyên truyền, vận động đồng bào các
dân tộc nâng cao nhận thức và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các chủ trương,
chính sách, đặc biệt là chính sách dân tộc dân tộc trong xây dựng khối đại đoàn kết
các dân tộc Tây Bắc.
Tiểu kết chương 1
Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; từ một người yêu nước
trở thành anh hùng giải phóng dân tộc, trở thành lãnh tụ Hồ Chí Minh, một trong

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC Ở TÂY BẮC HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
(Qua thực tế ở Sơn La)
2.1. Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Sơn La hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh - thực trạng và nguyên nhân
2.1.1. Khái quát các nhân tố tác động đến xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc
ở Sơn La
Các nhân tố tác động đến xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La, được tác giả xác
định là đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư, dân tộc và tôn
giáo… ở Sơn La và khu vực Tây Bắc. Các nhân tố đó có những mặt, yếu tố thuận lợi


13

đan xen với khó khăn, tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn
La theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, đòi hỏi các chủ thể cần phải phải phát huy những
yếu tố thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên (đất, rừng, thủy điện, khoáng sản…), giá trị
văn hóa truyền thống của các dân tộc. Bên cạnh đó, khắc phục những khó khăn về địa
hình, khí hậu, sự thấp kém về trình độ kinh tế - xã hội của đồng bào các DTTS,… trong
quá trình xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La.
2.1.2. Thành tựu trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Sơn La theo tư
tưởng Hồ Chí Minh và nguyên nhân của thành tựu
2.1.2.1. Những thành tựu
Các chủ thể đã từng bước nhận thức đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề dân
tộc, đoàn kết các dân tộc của Đảng và Nhà nước vào hoạch định hệ thống các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La. Các chủ thể ở
Sơn La tổ chức thực hiện các chính sách (đặc biệt là CSDT), chương trình, dự án
phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng khối ĐĐKCDT Sơn La. Sự hiện thực
hóa nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc trong xây dựng khối ĐĐKCDT từng

khối ĐĐKCDT; sự tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc còn hạn chế; các thế
lực thù địch còn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối ĐĐKCDT; công tác
vận động và tuyên truyền đồng bào các dân tộc tham gia xây dựng khối ĐĐKCDT
còn những hạn chế.
2.1.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc ở Sơn La
Tác giả xác định những nguyên nhân cơ bản sau: Điều kiện tự nhiên có những
mặt không thuận lợi trong xây dựng khối ĐĐKCDT, vì đồng bào các DTTS phần lớn
cư trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; Nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội
còn hạn chế đã cản trở việc xây dựng khối ĐĐKCDT; trình độ phát triển kinh tế - xã
hội ở Sơn La còn thấp, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc; trình độ, năng lực hoạch định
và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, CSDT và xây dựng khối
ĐĐKCDT của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong HTCT cấp cở sở còn nhiều hạn
chế; phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào
DTTS chưa phù hợp yêu cầu phát triển mới; một bộ phận cán bộ, nhân dân nhất là
đồng bào DTTS chưa thực sự cố gắng vươn lên, còn biểu hiện tự ti, trông chờ, ỷ lại
vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
2.2. Những vấn đề đặt ra trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở tỉnh
Sơn La theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết các dân tộc
2.2.1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu toàn bộ chủ thể phải nhận thức
sâu sắc với thực tế một bộ phận chủ thể nhận thức còn hạn
chế về đại đoàn kết các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Sơn La hiện
nay
Vấn đề đặt ra là phải giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu toàn bộ chủ thể phải
nhận thức sâu sắc với thực tế một bộ phận chủ thể nhận thức còn hạn chế về đại đoàn
kết các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành yêu cầu cấp bách trong xây
dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Sơn La hiện nay.
2.2.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu gắn phát triển kinh tế - xã hội với thực hiện chính
sách dân tộc trong xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Sơn La với thực tế còn

2.2.4. Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát huy tốt vai trò công tác dân vận trong xây
dựng khối đại đoàn kết các dân tộc với thực tế chưa phát huy tốt vai trò của công
tác này
Trong những năm qua, HTCT các cấp ở tỉnh Sơn La đã xây dựng chương trình,
kế hoạch triển khai và bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức
cho cán bộ, đảng viên, về vai trò, vị trí và trách nhiệm của HTCT đối với công tác
dân vận trong xây dựng khối ĐĐKCDT. Tuy nhiên, công tác dân vận hiện nay của
không ít cấp ủy các cấp vẫn còn những hạn chế, yếu kém cần khắc phục.
Để xây dựng khối ĐĐKCDT, HTCT tỉnh Sơn La đã cơ bản thực hiện tốt công
tác dân vận trong tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS ở Sơn La nói chung, vùng
DTTS nói riêng. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, vận động đồng bào DTTS xây
dựng khối ĐĐKCDT vẫn chưa đồng bộ, chưa hiệu quả và chưa có chiều sâu. Công
tác tuyên truyền, vận động, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và của
Nhà nước đến đoàn viên, hội viên và đồng bào các dân tộc về xây dựng khối


16

ĐĐKCDT còn hạn chế.
Tiểu kết chương 2
Xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La theo tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến
nay đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Các chủ thể cơ bản đã nhận thức được
tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKCDT cùng với chủ trương đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc vào hoạch định và tổ chức
thực hiện xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La. Nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ
nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong xây dựng khối ĐĐKCDT từng bước được
thực hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Đã cơ bản thực hiện tốt công tác dân
vận tuyên truyền động đồng bào các dân tộc xây dựng khối ĐĐKCDT.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La
theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn những hạn chế do những nguyên nhân khách quan và

dựng được khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc vững chắc. Qua thực tế nghiên cứu xây dựng
khối ĐĐKCDT ở Sơn La, nơi vừa được coi là địa bàn hội tụ đầy đủ những đặc điểm
chung của khu vực Tây Bắc, lại vừa có tính đặc thù của địa phương (phụ lục 10, 11),
nhận thấy bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì việc xây dựng khối ĐĐKCDT ở
Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung còn nhiều vấn đề đặt ra. Để giải
quyết các vấn đề đó, việc đề ra quan điểm và giải pháp xây dựng khối ĐĐKCDT theo
tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn.
3.1. Quan điểm xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Bắc hiện nay theo
tư tưởng Hồ Chí Minh
3.1.1. Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
vừa là nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách hiện nay
Quan điểm này đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng
của việc xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc nhằm thực hiện mục tiêu phát triển
vùng Tây Bắc giàu về kinh tế, vững về chính trị, phát triển nhanh về văn hoá - xã hội,
mạnh về quốc phòng - an ninh, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN. Xây dựng khối ĐĐKCDT Tây Bắc là nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài.
Bởi vì đây là yếu tố quan trọng hàng đầu để các dân tộc anh em ở Tây Bắc bình đẳng,
đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn, góp phần làm thất bại âm mưu của
các thế lực thù địch chia rẽ khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc. Xây dựng khối ĐĐKCDT Tây
Bắc là nhiệm vụ cấp bách hiện nay, bởi tỷ lệ nghèo đói, lạc hậu, chậm phát triển của
đồng bào các dân tộc, đặc biệt là đồng bào DTTS ở vùng sâu, vùng xa còn cao. Tây
Bắc còn là vùng nghèo nhất trong cả nước. Do đó, HTCT các cấp phải quy tụ sức
mạnh và niềm tin của cộng đồng các dân tộc, cùng chung sức, chung lòng, đồng tâm,
hiệp lực vào xây dựng khối ĐĐKCDT nhằm thực hiện mục tiêu chung xóa bỏ đói
nghèo, lạc hậu, phấn đấu xây dựng vùng Tây Bắc giàu mạnh.
3.1.2. Xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí
Minh phải vì sự phát triển của chính đồng bào các dân tộc Tây Bắc
Thứ nhất, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh vì
sự phát triển của đồng bào các dân tộc. Xây dựng khối ĐĐKCDT theo tư tưởng Hồ
Chí Minh là nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy thực hiện

xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc.
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các chủ thể trong xây khối ĐĐKCDT ở Tây
Bắc phải thực hiện toàn diện và phù hợp với từng đối tượng. Các chủ thể cần nâng
cao nhận thức, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các chủ trương, đường
lối, chính sách vào xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc. Các chủ thể phải nhận thức
sâu sắc xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc vững chắc là yếu tố quan trọng hàng đầu
đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm
an ninh - quốc phòng vùng Tây Bắc.
Thứ hai, nâng cao nhận thức, khơi dậy tình cảm đặc biệt của Bác Hồ dành cho
đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Do đó, phải tuyên truyền, giáo dục để đồng bào các dân
tộc, nhất là DTTS ở Tây Bắc thấu hiểu đầy đủ tư tưởng ĐĐKCDT của Hồ Chí Minh,
cũng như quyền lợi được hưởng do chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mang
lại trong phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng
bào. Nâng cao nhận thức, khơi dậy tình cảm đặc biệt của Bác Hồ dành cho đồng bào các
dân tộc Tây Bắc sẽ góp phần quan trọng để phát huy sự nhiệt tình, khả năng và tính sáng
tạo của đồng bào trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc.


19

Thứ ba, xây dựng, củng cố HTCT và nâng cao hiệu quả năng lực tổ chức thực
hiện của các chủ thể trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí
Minh. Cùng với việc nâng cao nhận thức tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKCDT thì còn
phải tổ thức thực hiện vấn đề đó trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc. Để tư
tưởng đoàn kết các dân tộc của Hồ Chí Minh thành sức mạnh to lớn trong thực tế
cuộc sống đối với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, đòi hỏi phải có quá trình tổ chức
thực hiện trên thực tế. Để tổ chức xây dựng khối ĐĐKCDT theo tư tưởng Hồ Chí
Minh thành công cần tập trung làm tốt một số nội dung sau: Một là, xây dựng HTCT
trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt CSDT. Hai là, có kế hoạch đào


Thứ nhất, đảm bảo sự phát triển, cùng tiến bộ của các dân tộc một cách toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Do đó cần: Một là, về
kinh tế là việc giải quyết yêu cầu nâng cao trình độ phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần trong vùng đồng bào dân tộc, phải tiến hành chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tạo điều kiện cho đồng bào phát triển sản xuất, phát triển kinh tế, đảm bảo lợi
ích thiết thân của đồng bào các DTTS gắn liền với lợi ích chung của đất nước. Hai
hai, cần bảo đảm cho mọi công dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng,
nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế… được bình đẳng về cơ
hội học tập. Ba là, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt cần nhanh
chóng ban hành Luật Dân tộc để bảo đảm cho đồng bào các dân tộc được bình đẳng
về quyền làm chủ đất nước; bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, được thực hiện
quyền tham chính của mình thông qua thực hiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp
qua bầu cử và ứng cử. Bốn là, thực hiện tốt việc giữ gìn, phát huy và phát triển bản
sắc văn hóa các dân tộc; bảo đảm cho các dân tộc được phát triển hài hòa trong một
nền văn hóa đa dân tộc; bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc được
trân trọng, giữ gìn, phát huy và phát triển.
Thứ hai, tôn trọng nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các
DTTS. Tôn trọng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các DTTS, nhưng cũng
cảnh giác, ngăn chặn và đẩy lùi mọi âm mưu hoạt động lợi dụng tôn giáo để phát
triển đạo trái phép trong đồng bào các dân tộc, chống lại khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc
nói riêng và đại đoàn kết toàn dân tộc nói chung.
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền trong công tác dân tộc,
tôn giáo; tích cực chỉ đạo và tổ chức điều hành, hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tôn
giáo hoạt động đúng theo hiến chương, điều lệ của giáo hội và tuân thủ các qui định
của pháp luật. Có kế hoạch phân công các ban, ngành, đoàn thể bám sát cơ sở, lấy cơ
sở làm địa bàn hoạt động, giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề nổi cộm, bức
xúc, những vụ việc phát sinh có liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo.
Tích cực triển khai có hiệu quả các chương trình “giữ vững an ninh chính trị,
chống bạo loạn tại địa phương”; tăng cường kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung hoàn chỉnh

gần đồng bào, kính trọng đồng bào, hiểu đồng bào, có trách nhiệm với đồng bào”, “nghe
đồng bào nói, nói đồng bào hiểu, làm đồng bào tin”. Đối với người có uy tín (già làng,
trưởng thôn, bản, trưởng dòng họ…) trong cộng đồng cần tranh thủ và phát huy vai trò
của họ trong tuyên truyền, giáo dục đồng bào, khơi dậy lòng tự hào, truyền thống, văn
hoá của dân tộc mình; truyền thống cố kết cộng đồng, đấu tranh anh dũng bất khuất và
giá trị văn hoá - dân tộc tạo nên bản sắc độc đáo của con người Tây Bắc.
Thứ ba, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng phải cụ thể, thiết thực,
phù hợp với trình độ nhận thức và tâm lý của đồng bào.Thực hiện công tác tuyên
truyền, vận động đồng bào phải thực hiện tốt phương châm: Một mặt là làm sao mưu
lợi ích cho đồng bào. Một mặt nữa là làm sao tránh được hại cho đồng bào.
3.2.5. Phát huy tính tích cực của đồng bào các dân tộc trong xây dựng khối đại
đoàn kết các dân tộc Tây Bắc
Một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng là biết phát huy tính tính tích cực của đồng
bào các dân tộc trong thực hiện CSDT, thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, xây dựng
khối ĐĐKCD. Đây là một trong những cơ sở để tạo ra sức mạnh to lớn trong xây dựng
khối ĐĐKCDT. Để phát huy tính tích cực của đồng bào các dân tộc trong xây dựng
khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc cần tập trung vào thực hiện tốt các biện pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc
ở Tây Bắc. Đây là một trong những biện pháp quan trọng nhằm khơi dậy sức mạnh nội
lực, tính tích cực của đồng bào các dân tộc trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc.
Trong giữ gìn và phát huy hệ giá trị tổng quát của bản sắc văn hóa các dân tộc Tây


22

Bắc như: lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân - gia đình - làng bản - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung,… cần phải gắn với
các buổi sinh hoạt cộng đồng, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các ngày lễ lớn của
dân tộc, của địa phương,... Việc giữ gìn và phát huy giá trị bộ phận của bản sắc văn
hóa các dân tộc Tây Bắc như lễ hội dân tộc, nghệ thuật truyền thống, trang phục, chữ

dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc, đó là: xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc theo tư
tưởng Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp
bách hiện nay; xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải
vì sự phát triển của chính đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Trên cơ sở những quan điểm


23

trên, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp: vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí
Minh, nâng cao nhận thức của các chủ thể trong việc xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây
Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện tốt CSDT
nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào trong xây dựng khối
ĐĐKCDT; thực hiện nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các
dân tộc để cùng tiến bộ; phát huy tính tích cực của đồng bào các dân tộc trong xây
dựng khối ĐĐKCDT Tây Bắc.
Mỗi giải pháp có vai trò, vị trí, tác dụng riêng, song chúng có quan hệ mật thiết,
tác động qua lại, bổ sung, hỗ trợ nhau, cùng hướng tới đích vận dụng tốt hơn nữa tư
tưởng đoàn kết các dân tộc của Hồ Chí Minh trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây
Bắc, góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng,
Nhà nước ta hiện nay. Trong đó, giải pháp thứ nhất mang tính cơ bản; giải pháp thứ
hai, thứ ba, thứ tư là mang tính đột phá; giải pháp thứ năm mang tính nền tảng.
KẾT LUẬN
1. Tư tưởng ĐĐKCDT của Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng, gắn bó
khăng khít với chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, do đó đã và đang được
nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu. Có nhiều công trình khoa học đã đề cập,
nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKCDT dưới các góc độ, phạm
vi khác nhau. Trong phạm vi luận án, tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng
khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm thực hiện đoàn kết
trong nội bộ từng dân tộc, đoàn kết giữa các DTTS với nhau và đoàn kết DTTS với
dân tộc Kinh trong khối thống nhất để tạo ra sức mạnh, động lực to lớn, có ý nghĩa

trọng đối với sự phát triển bền vững ở Tây Bắc hiện nay.
5. Những năm qua, các chủ thể xây dựng khối ĐĐKCDT ở Sơn La nói riêng và
vùng Tây Bắc nói chung cơ bản đã nhận thức, quán triệt đúng đắn và vận dụng sáng tạo
tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKCDT và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả trên thực tế. Do
đó, đời sống của đồng bào các dân tộc ở Sơn La cũng như vùng Tây Bắc đã từng bước
được cải thiện rõ rệt, quyền bình đẳng của các dân tộc từng bước được thể hiện trên mọi
lĩnh vực đời sống xã hội; các dân tộc đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển,
kịp thời làm thất bại âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực
thù địch. Tuy nhiên, đồng bào các DTTS, đặc biệt là đồng bào DTTS ở vùng sâu, vùng
xa của Sơn La nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung còn nhiều khó khăn trong đời sống,
sự chênh lệch trên các lĩnh vực của đời sống xã hội giữa các dân tộc còn lớn, một bộ
phận đồng bào còn bị lôi kéo vào các vụ biểu tình, bạo loạn, gây rối ở địa bàn.
6. Thực trạng trên do những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau
tạo nên. Trong đó, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế, yếu kém là do
nhận thức, trách nhiệm, năng lực của một bộ phận chủ thể còn hạn chế. Việc tổ chức
thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, CSDT chưa thật sự gắn với xây
dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc. Việc thực hiện công tác tuyên truyền, vận động
đồng bào các dân tộc trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở vùng dân tộc chưa tốt. Do
đó, để xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc ngày càng vững chắc cần tập trung giải
quyết những vấn đề cấp bách đặt ra đã nêu trong luận án.
7. Xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần
quán triệt, thực hiện tốt các quan điểm và thực hiện đồng bộ những giải pháp. Về quan
điểm, phải quán triệt sâu sắc các quan điểm cơ bản sau: xây dựng khối ĐĐKCDT Tây
Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài, vừa là
nhiệm vụ cấp bách hiện nay; xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí
Minh phải vì sự phát triển của chính đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Về giải pháp, cần
phải thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp cơ bản sau: cần nâng cao nhận thức và
trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng khối ĐĐKCDT ở Tây Bắc theo tư tưởng Hồ
Chí Minh; phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện tốt CSDT nhằm nâng cao đời sống vật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status