KHẢO sát TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN sán TRÊN ĐƯỜNG TIÊU hóa ở bò tại lò mổ tập TRUNG THỊ xã SA đéc TỈNH ĐỒNG THÁP - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẨN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
......

VÕ THẾ HƯNG

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN
SÁN TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở BÒ
TẠI LÒ MỔ TẬP TRUNG THỊ XÃ
SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP

Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y

Cần Thơ, 2012


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
….….
Luận văn tốt nghiệp
Ngành: THÚ Y

Tên đề tài:

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN
TRÊN ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở BÒ TẠI LÒ MỔ TẬP
TRUNG THỊ XÃ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
Duyệt Giáo Viên Hướng Dẫn

Cần Thơ, ngày
tháng
năm 2012
Duyệt khoa NN & SHƯD

ii


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ luận văn nào trước đây.

Tác giả luận văn

VÕ THẾ HƯNG

iii


LỜI CẢM TẠ

Thành kính biết ơn!
Cha Mẹ người đã hết lòng chăm sóc, nuôi dạy tôi nên người. Người luôn
luôn bên cạnh động viên tôi những lúc khó khăn để tôi được như ngày hôm nay.
Thầy Đỗ Trung Giã, đã tân tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời


iii

Lời cảm tạ

iv

Mục lục

v

Danh sách chữ viết tắt

vii

Danh sách bảng và biểu đồ

viii

Danh sách hình

ix

Tóm lược

x

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1

2.2.3 Sán dây và bệnh sán dây

20

2.2.4 Bệnh giun xoan dạ múi khế ở bò

24

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

30

3.1 Nội dung nghiên cứu

30

3.2 Thời gian tiến hành

30

3.3 Địa điểm tiến hành

30

v


3.4 Điều kiện tự nhiên Thị Xã Sa Đéc

30


39

4.4 Kết quả nhiễm ghép các loài giun sán ký sinh ở bò theo tuổi

41

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

43

5.1 Kết luận

43

5.2 Đề nghị

43

TÀI LIỆU THAM KHẢO

44

PHỤ CHƯƠNG

46

vi




Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm giun sán trên bò tại lò mổ thị xã Sa Đéc

36

Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm giun sán theo tuổi bò

37

Bảng 4.3 Cường độ nhiễm sán lá dạ cỏ theo nhóm tuổi bò

38

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm thành phần loài giun sán ký sinh trên bò

39

Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm ghép các loài giun sán ký sinh ở bò theo tuổi

41

Biểu đồ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ thành phần loài giun sán ký sinh ở bò mổ khám

40

Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ nhiễm ghép các loài giun sán ở bò theo tuổi

41



23

Hình 2.8 Monezia benedeni (đốt chính)

24

Hình 2.9 Monezia benedeni (đầu sán)

24

Hình 2.10 Haemonchus contortus

27

Hình 2.11 Haemonchus contortus

27

Hình 3.1 Sơ đồ tỉnh Đồng Tháp

31

Hình 3.2 Bò khảo sát

32

Hình 3.3 Dụng cụ, hoá chất thí nghiệm

33

bò chiếm vị trí rất quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế lớn của nhà nước:
cung cấp lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Để đáp ứng yêu
cầu trên, trong tương lai cần phát triển đàn trâu bò với qui mô rộng lớn hơn. Song
song với sự phát triển đàn gia súc, công tác thú y đóng vai trò quan trọng không
kém. Hiện nay, người dân phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong công tác
phòng trị những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (bệnh tụ huyết trùng, bệnh lỡ mồm
long móng...), bệnh ký sinh trùng. Trong đó, bệnh ký sinh trùng không phát triển
nhanh và gây chết hàng loạt như những bệnh truyền nhiễm nhưng chúng ảnh hưởng
lâu dài, làm chậm sự phát triển của gia súc, gây thiệt hại không nhỏ đối với lợi ích
người chăn nuôi.
Xuất phát từ những lý do trên và được sự chấp thuận của Bộ môn Thú Y - Khoa
Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “ Khảo Sát Tình Hình Nhiễm Giun Sán Trên Đường Tiêu Hóa
Ở Bò Tại Lò Mổ Tập Trung Thị Xã Sa Đéc Tỉnh Đồng Tháp”.
Mục tiêu của đề tài:
Khảo sát tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở bò tại thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Xác định tỷ lệ nhiễm giun sán ký sinh ở bò.
Xác định cường độ nhiễm giun sán theo từng nhóm tuổi cụ thể ở bò.
Xác định thành phần loài giun sán ký sinh.
Từ đó đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh giun sán ký sinh trên bò một
cách hiệu quả.

1


CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Sơ Lược Về Tình Hình Nghiên Cứu Ký Sinh Trùng Trâu Bò Trong Nước
Và Trên Thế Giới.


Patzelt và Ralf (1993) qua khảo sát trên 2.320 con bò được nuôi ở Pakistan tác giả
cho biết bê 9 tháng tuổi rất dễ bị nhiễm sán lá gan. Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi.
Cụ thể là tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở thú non là 10% và ở thú già là 72%.
Sandra Marcia Tietzmarques và Maria Luccia Scroffrneker (1999) kiểm tra 482 gan
trâu bò (377 gan bò và 105 gan trâu) ở bang Rio Grand do Sul, Brazil cho thấy tỷ lệ
nhiễm Fasciola hepatica là 10,34% ở bò và 20% ở trâu.
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở bò trong nước
Việt Nam đã có những nghiên cứu xác định các loài ký chủ trung gian của sán lá
gan Fasciola gigantica. Năm 1945, đã phát hiện thành phần loài giun sán ký sinh ở
trâu bò như Paramphistomum cervi, Paramphistomum explanatum, Fasciola
hepatica, Fasciola gigantica ký sinh ở trâu, bò và tại miền Bắc (Đỗ Dương Thái và
Trịnh Văn Thịnh, 1978).
Phan Địch Lân và Lê Hồng Căn (1972) đã xác định ốc là ký chủ trung gian chủ
yếu. Ở Việt Nam thường gặp 2 loài ốc sau: Lymnaea swinhoei và Lymnaea viridis.
Tỷ lệ ốc mang trùng đến 90%.
Phan Địch Lân và ctv, (1974) điều tra tình nhiễm giun sán từng vùng cho thấy
vùng nữa đồi núi (Ninh Bình) có tỷ lệ nhiễm Fasciola ở trâu là 54-56,3% (ốc ký
chủ trung gian là Lymnaea viridis, Lymnaea swinhoei và Gyraulus chinensis,
Paramphistomum). Ở vùng cao (Lào Cai) thấy trâu bò nhiễm sán lá gan 20,8-26,6%
ít hơn đồng bằng và ốc ký chủ trung gian là Lymnaea viridis.
Trịnh Văn Thịnh (1978) công bố trâu bò vùng Đồng bằng Bắc Bộ nhiễm sán lá gan
với tỷ lệ 50-70%. Ông cho biết trâu mắc bệnh giun sán với tỷ lệ cao. Ở giai đoạn
non nghé rất dễ bị nhiễm giun tròn, ở tuổi trưởng thành trâu rất dễ bị nhiễm các loài
sán lá Fasciola gigantica, Fasciola hepatica, Dicrocoelium dendriticum,….
Ở các nông trường quốc doanh miền Bắc Việt Nam, Phạm Xuân Dụ nhận xét ở gia
súc nhai lại tỷ lệ nhiễm Fasciola là cao nhất. Cường độ nhiễm sán lá gan bò nhập
nội cao hơn bò giống địa phương. Đối với họ Fasciolidae, loài Fasciola gigantica
phổ biến gây nhiễm ở trâu bò, dê cừu. Loài Paramphistomum explanatum ở chủ
yếu ký sinh ở gan trâu bò, dê cừu, loài này thường kết hợp với sán lá họ

64 ± 17 con/m2

Lynanaea swinhoei 59 ± 33 con/m2
Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương (1986) cho biết qua kiểm tra phân tỷ lệ
nhiễm sán lá gan trâu bò ở Lâm Đồng là 34,55%; khu vực Sài Gòn, Cần Thơ nhiễm
33,66%; Minh Hải nhiễm 2,47-7%. Khi mổ khám tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò là
21,93% và trâu là 91,66%.
Hồ Thị Thuận (1986) đã khảo sát trên 626 bò nuôi ở Thành phố Hồ Chí Minh, tìm
thấy 159 bò nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ lệ 25,39%. Khi khảo sát tại trại bò Hương
Lộc tỉnh Đồng Nai, Hồ Thị Thuận báo cáo có 18 bò nhiễm trên tổng đàn 46 con
chiếm tỷ lệ 39,12%. Hồ Thị Thuận còn cho rằng ở vùng Đông Nam Bộ chỉ có 2 loài
ốc ký chủ trung gian Lymnaea viridis và Lymnaea swinhoei.
Theo Vũ Sĩ Nhân và Đỗ Trọng Minh (1989) nghiên cứu tình hình nhiễm Fasciola
gigantica ở bò đồng bằng tỉnh Phú Khánh từ 21 - 30%, không tìm thấy Fasciola
Hepatica.
Theo báo cáo của Đỗ Trung Giã (1985-1990) tình hình nhiễm giun sán ở bò các
tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như sau:
Địa điểm

Trematoda

Nematoda

Kiên Giang

100%

66,64%

Hậu Giang

365 sán trên 1 cá thể trâu.
Nguyễn Thị Lê (1996) khảo sát ở trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì thấy
bò sữa nhiễm sán lá gan là 46,23%, tác giả còn công bố ốc Parasisaralus sriatulus
là loài ký chủ trung gian của sán lá gan.
Lương Tố Thu và ctv, (1996) cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò qua kiểm tra
ở lò mổ lên tới 76%, gan bị xơ hóa, hoại tử, canxi hóa phải hủy bỏ 80 - 100%.
Nguyễn Hữu Hưng (1996) bằng phương pháp mổ khám trên 150 trâu bò (64 trâu,
86 bò) cho biết đàn trâu bò tỉnh An Giang nhiễm sán lá gan chiếm tỷ lệ tương đối
cao, trâu 85,93%, bò 83,72% và kiểm tra phân trên 130 bò ở hai huyện Tri Tôn và
Tịnh Biên cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 46,15%.
Lương Văn Huấn và ctv (1997) điều tra trên 11 tỉnh phía Nam thì tỷ lệ nhiễm sán lá
gan ở bò qua soi phân từ 28,10 - 45,20% tùy theo lứa tuổi và qua mổ khám từ 2032,20% tùy theo địa phương.
Lương Tố Thu (1997) qua điều tra 4 tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm sán lá gan như
sau: Đồng bằng là 55,50%; trung du là 31,50% và miền núi là 23%.
Tô Du (1999) bệnh sán lá gan thường xảy ra ở trâu nhiều hơn bò, do trâu thích ăn
cỏ dưới nước, bệnh thường rất nặng với trâu bò nhập nội. Thời gian phát triển của
bệnh sán lá gan thường dưới 6 tháng, con vật chết vì kiệt sức không đau đớn, không
co giật.
5


Phan Địch Lân (2000) thông báo ở vùng núi Việt Nam trâu bò nhiễm 30-35%, ở
đồng bằng và trung du tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 40-70%.
Theo Phan Địch Lân (2000), nhận xét thì trâu trưởng thành phía Bắc nhiễm chủ yếu
là Fasciola gigantica, phía Nam qua điều tra trên bò ở lò mổ Chánh Hưng Sài Gòn
thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 60%.
Phạm Sĩ Lăng (2000) sán trưởng thành gây tổn thương cho gan và mật, đồng thời
tiết độc tố gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột cấp và mãn tính.
Phan Địch Lân (2000) tống kết Việt Nam là một trong 5 nước Châu Á trồng lúa
nước có tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở mức cao nhất, trâu bò càng lớn tuổi tỷ lệ nhiễm

3 giống bò: bò sữa, bò lai Sind và bò địa phương; đồng thời mổ khám 801 con bò,
khảo sát bệnh tích trên gan bò nhiễm sán tại các huyện trong 3 tỉnh và tiến hành thử
nghiệm với 3 lọai thuốc tẩy Praziquantel, Nitroxinil và Bilevor-M để tay trừ 105 bò
nhiễm sán lá gan ở cường độ nhiễm từ 2+ trở lên cho biết tình hình nhiễm sán lá
gan qua kiểm tra phân tại ba tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm tỷ
lệ nhiễm khá cao 51,91% trong đó bò ở tỉnh Sóc Trăng có tỷ lệ nhiễm thấp nhất
49,45%, bò ở Đồng Tháp nhiễm cao hơn 53,31% và nhiễm cao nhất bò ở tỉnh An
Giang 53,45%. Bò địa phương có tỷ lệ nhiễm 58,68% cao hơn tỷ lệ nhiễm của bò
lai Sind 51,01% và nhiễm thấp nhất ở bò sữa 37,11%. Có sự sai khác về tỷ lệ nhiễm
tăng dần theo lứa tuổi bò, nhiễm thấp nhất ở lứa tuổi < 1 năm tuổi (30,43%) và tăng
dần ở lứa tuổi 1-2 năm tuổi (49,12%) và nhiễm cao nhất ở bò trên 2 năm tuổi
(62,81%). Có 2 loài sán lá gan: Fasciola spp và Paramphistomum explanatum được
tìm thấy, trong đó loài Fasciola spp nhiễm phổ biến chiếm tỷ lệ 43,58%,
Paramphistomum explanatum 21,01%. Cường độ nhiễm ghép 2 loài trên cá thể là
khá cao 12,68%.
Nguyễn Đức Tân, Lê Đức Quyết và ctv (2010) kết quả điều tra qua 963 mẫu phân
gia súc nhai lại (bò, dê, cừu) tỷ lệ nhiễm sán dây ở các tỉnh Đắt Lắt, Ninh Thuận,
Khánh Hòa lần lược là 13,88%, 13,06%, 15,76 %. Trong đó bò có tỷ lệ nhiễm sán
dây thấp nhất 5,41%.
Nguyễn Đức Tân và ctv (2010) kết quả xét nghiệm 335 mẫu phân bò, bê; 102 mẫu
phân trâu cho thấy : Tỷ lệ nhiễm chung bệnh sán lá gan ở bò bê là 47,16%, trong đó
Phú Yên là 59,32%, Khánh Hòa là 47,5%, Bình Định 43,36%, Tỷ lệ nhiễm ở trâu là
37,74%, trong đó Phú Yên 26,41%, Khánh Hòa 44,06% và Bình Định là 43,58%.
2.2 Sơ Lược Về Các Loài Giun Sán Ký Sinh.
2.2.1 Sán lá gan và tác hại của sán lá gan.
Phân loại
Ngành: Platyhelminths
Lớp : Trematoda
Bộ : Fasciolidae
Họ : Fasciolidae và Paramphistomidae

trứng có nhánh. Giác miệng nhỏ, tròn nằm ở chóp đầu con sán. Giác bụng hơi to
hơn, hình ba cạnh ở cách giác miệng 3-5mm

8


Hình 2.2 Fasciola hepatica Linnaeus, 1758
(www//.impe-qn.org.vn)

Trứng có kích thước 0,13-0,145mm x 0,07-0,09mm (theo Skarjabin và Schulz,
1973).
Ký chủ cuối cùng: trâu, bò, dê, cừu, người.
Ký chủ trung gian: Quan trọng nhất là ốc Galba truncatula, mỗi nước và mỗi vùng
khí hâu là một loài ốc khác, đều thuộc họ Lymnaeidae.
Vị trí ký sinh: Ống mật, có khi lạc vào phổi, dưới da, tổ chức xung quanh thận
Phân bố: nhiều vùng trên thế giới như Mỹ, phía Đông Canada, Nam Mỹ, Bắc Mỹ,
một số nước Châu Phi, Châu Á và Châu Âu.
Vòng đời và sự phát triển của sán lá gan
Vòng đời của Fasciola gigantica và Fasciola hepatica.
Theo Urquhart et al (1987) thì chu trình phát triển của Fasciola gigantica và
Fasciola hepatica thì giống nhau nhưng thời gian cho từng giai đoạn phát triển của
Fasciola gigantica dài hơn.
Gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn phát triển bên ngoài ký chủ
Trứng sán theo phân của vật chủ ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp (25-30oC), đủ
ôxy, trứng sẽ nở sau 9-21 ngày thành Micracidium (mao ấu) dài khoảng 130mm.
Chúng bơi lội tự do trong nước nhờ lông xung quanh, sống không quá 48 giờ ở môi
trường ngoài và rất mẫn cảm với các chất hóa học. Chúng chủ động tìm ốc nước
ngọt giống Lymnaea, chui vào gan tụy của ốc biến đổi thành Sporocyst (bào ấu) có
kích thước khoảng 300 µm. Sau 3-7 ngày cứ một Micracidium biến đối thành một

(www//.dpd.cdc.gov)

10


Ký chủ trung gian
Ký chủ trung gian của sán lá gan là một loài ốc nước ngọt không có nắp như
Lymnaea truncatula, Lymnaea auricularia, Lymnaea viridis, Lymnaea swinhoei,
Lymnaea cubensis. Ở Việt Nam có 2 loài là Lymnaea swinhoei phổ biến ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long và Lymnaea viridis ở vùng núi và trung du.
Đặc điểm 2 loài ốc:
Lymnaea viridis (ốc chanh)
Ốc có vỏ mỏng dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ ốc dễ vỡ, số
vòng xoắn từ 4,5 - 5 vòng, vòng xoắn phải và lồi, vòng xoắn cuối cùng lớn. Ôc có
màu vàng nâu lốm đốm đen. Lỗ miệng hình bầu dục hơi dài không rộng. Ở một số
cá thể lỗ miệng có xu thế hẹp lại làm cho vỏ ốc có hình con thoi.
Ốc thích sống ở nơi nước xâm xấp, thường đẻ trứng 7-10 quả / ổ, sau 7 ngày nở sẽ
thành ốc con, trong điều kiện nhiệt độ ở nước ta ốc đẻ được quanh năm và nở thành
con.

Hình2.4 Ốc Lymnaea viridi, H. Adams, 1866
(ww//.munhwaenv.co.kr )
Lymnaea swinhoei (ốc vành tai)
Ốc có hình dạng không đồng nhất, vỏ mỏng dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước
trung bình 20 mm, đỉnh bé và nhọn. Số vòng xoắn từ 3,5 đến 4, vòng xoắn cuối
cùng rất lớn chiếm gần hết phần thân, vỏ xoe ra như cái vành tai. Lỗ rốn nhỏ không
rõ. Vỏ thuờng có màu đen hoặc vàng. Lỗ miệng gần như hình bán nguyệt xoe rộng,
Chiều dài lỗ miệng gấp ba lần chiều cao ốc.
Ốc đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ trứng có từ 60-150 quả, ốc thường sống trôi nổi ở
cống, rãnh, ao, hồ.

đó là một con sán lá gan Fasciola. Đây là một trong 500 ca bệnh sán lá gan và cũng
là trường hợp đầu tiên ở Việt nam gắp được sán lá gan qua đường nội soi.Số liệu
này đã gây được sự chú ý của các nhà ký sinh trùng học vì sán lá gan lâu nay chỉ
tìm thấy ở các động vật ăn cỏ như trâu, bò, dê và rất hiếm khi phát hiện được ở
người. Thế nhưng, hiện nay, tại TP HCM, việc bệnh nhân vào viện vì sán lá gan
không còn là chuyện lạ nữa (www. ykhoanet.com).
12


Nguyễn Văn Chương (2008) cho biết từ năm 2003-2005, khoa Ký sinh trùng của
Viện Sốt Rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn đã tiến hành đề tài cấp Bộ: “
Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh sán lá gan lớn ở một số điểm của
hai tỉnh miền Trung”. Đề tài được thực hiện tại 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà và
kết quả cho thấy: mổ 8 gan bò tại 4 điểm nghiên cứu thu thập được 223 sán lá gan
lớn trưởng thành trong gan; thu thập trứng sán lá gan lớn trong phân người bệnh
nuôi cấy thành ấu trùng (miracidium); sau khi định loại bằng kỹ thuật sinh học
phân tử (PCR: Polymerase Chain reaction) tại Viện xác định loài sán lá gan lớn ở
người và động vật (bò) đều là F.gigantica. Điều tra tại các điểm nghiên cứu cho
thấy loài ốc Lymnaea swinhoei nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn với tỷ lệ 1,26%.
Ngoài ra tháng 12/2006 Khoa Ký sinh trùng tiếp tục thu nhận 2 con sán trưởng
thành chui từ ổ bụng và từ bắp chân ra ở 2 bệnh nhân đều ở tỉnh Bình Định (1 ở
huyện Tây Sơn, 1 ở thành phố Quy Nhơn). Kết quả xác định bằng PCR đều là loài
sán lá gan lớn F.gigantica. Như vây tại 3 tỉnh miền Trung (Bình Định, Phú Yên,
Khánh Hoà) đã xác định loài sán lá gan lớn ký sinh trên người và động vật đều là
loài sán lá gan lớn Fasciola gigantica (www.impe-qn.org.vn).
Ở Việt Nam cho đến nay bệnh sán lá gan lớn đã xuất hiện ở 47 tỉnh, thành phố; tỷ
lệ nhiễm cao nhất ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên (Bình Định, Phú Yên,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Gia Lai và TP. Đà Nằng).(www.impeqn.org.vn)
Phòng và điều trị sán lá gan
Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho súc vật nhai lại bằng một trong các loại thuốc

Ngoài các thuốc trên, Albendazole, Bithionol, Closantel.... cũng có tác dụng tẩy sán
lá Fasciola ở súc vật nhai lại.
Lương Tố Thu và ctv (1997) đã nhân định về các thuốc trị sán lá gan và kết quả thử
nghiệm ở trâu, bò Việt Nam. Các tác giả khuyến cáo rằng, trên thị trường Việt Nam
hiện nay nên sử dụng Fasinex - 900 dạng viên (l viên/75 - 100 kg) hoặc Fasinex900 dạng sữa (l0 ml/100 kg thể trọng), cho hiệu lực cao.
Sử dụng Fasinex liều 12 mg/kg thể trọng tẩy sán lá gan cho trâu, Phan Lục và Trần
Ngọc Thắng (1999) cho biết, thuốc có hiệu lực và hiệu lực tẩy sạch sán đều đạt
100%.
Nguyễn Thị Kim Lan và ctv (2000) đã thử nghiệm một số thuốc tẩy sán lá gan cho
dê địa phương ở tỉnh Thái Nguyên, kết quả thấy: Thuốc Dertil (liều 5-8mg/kg thể
trọng) có tác dụng tẩy sạch 100% và an toàn đối với dê; thuốc Fasciolid (liều
0,04ml/kg thể trọng ) có hiệu lực tẩy sạch là 95% và tương đối an toàn cho dê;
thuốc Vermitan (chứa 20% Albendazole, liều 35 mg/kg thể trọng) đạt hiệu lực tẩy
sạch và an toàn đều là 100%, ngoài ra Vermitan còn có tác dụng tẩy cả sán dây và
giun tròn ở dê.

14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status