B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR
VN TRNG
VAI TRò CủA TRí THứC KHOA HọC Xã HộI
Và NHÂN VĂN QUÂN Sự TRONG XÂY DựNG QUÂN
ĐộI
NHÂN DÂN VIệT NAM VữNG MạNH Về CHíNH TRị
HIệN NAY
LUN N TIN S TRIT HC
HÀ NỘI - 2018
B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR
VN TRNG
VAI TRò CủA TRí THứC KHOA HọC Xã HộI
Và NHÂN VĂN QUÂN Sự TRONG XÂY DựNG QUÂN
ĐộI
NHÂN DÂN VIệT NAM VữNG MạNH Về CHíNH TRị
HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Ch ngha xó hi khoa hc
Mó s
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐÈ TÀI LUẬN ÁN
1.1
Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án
1.2
Một số công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài luận án
Khái quát kết quả của các công trình đã khảo cứu có liên quan đến
1.3
đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết
Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ TRONG
XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỮNG
MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ
2.1
Trí thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự và những vấn đề cơ
bản xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị
2.2
Nội dung vai trò và những yếu tố quy định thực hiện vai trò của trí
thức khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong xây dựng Quân
đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị
Chương 3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN QUÂN SỰ TRONG
XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỮNG
MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
HIỆN NAY
3.1
Thực trạng thực hiện vai trò của trí thức khoa học xã hội và nhân
văn quân sự trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững
mạnh về chính trị
3.2
76
76
106
121
121
131
165
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
167
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
168
PHỤ LỤC
184
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
ĐSVHTT
07
Khoa học xã hội và nhân văn
KHXH&NV
08
Nhà xuất bản
Nxb.
9
Quân đội nhân dân Việt Nam
QĐNDVN
10
Quân ủy Trung ương
QUTW
11
Tổng cục Chính trị
trong quân đội. Xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị là trách nhiệm
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó trí
thức KHXH&NV quân sự đóng vai trò quan trọng.
Thực tiễn những năm qua, với trình độ học vấn cao, phương pháp tư
duy khoa học nhạy bén, trí thức KHXH&NV quân sự đã tính tích cực, chủ
động trong nghiên cứu khoa học, phổ biến, giáo dục, ứng dụng và làm giàu tri
thức KHXH&NV, góp phần củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân,
tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, bảo đảm cho quân đội thực sự là lực
lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Đảng,
Nhà nước và nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
việc thực hiện vai trò của trí thức KHXH&NV quân sự vẫn còn những hạn
chế như: Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển tri thức
6
KHXH&NV, nhất là những vấn đề lý luận xây dựng quân đội vững mạnh về
chính trị chưa chủ động, chất lượng chưa cao; phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng
tri thức KHXH&NV nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng mục tiêu, lý
tưởng cách mạng, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của
cán bộ, chiến sĩ còn có mặt hạn chế; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng
chính trị của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
viên chức quốc phòng có mặt chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân
đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới; việc tiếp thu, ứng dụng tri
thức KHXH&NV trong xây dựng hệ thống các tổ chức vững mạnh về chính
trị còn chưa cao; tính chủ động, sáng tạo, tính chiến đấu và hiệu quả
ĐTTTLL, phản bác quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch,
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội còn thiếu vững chắc.
Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng QĐNDVN
vững mạnh về chính trị có bước phát triển cao hơn. Trong khi đó, các thế lực
thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng những thành tựu của cuộc cách
học xã hội và nhân văn quân sự trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
vững mạnh về chính trị hiện nay” làm đề tài luận án của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn vai trò của trí thức
KHXH&NV quân sự trong xây dựng QĐNDVN về chính trị, đề xuất yêu cầu
và những giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của đội ngũ này trong xây dựng
QĐNDVN vững mạnh về chính trị hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, khái
quát những kết quả chủ yếu và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết.
Luận giải một số vấn đề lý luận về vai trò của trí thức KHXH&NV
quân sự trong xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị.
Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò của trí thức KHXH&NV quân sự
trong xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị, chỉ ra nguyên nhân của
thực trạng và một số vấn đề đặt ra hiện nay cần tập trung giải quyết.
8
Đề xuất yêu cầu, giải pháp phát huy vai trò của trí thức KHXH&NV
quân sự trong xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò của trí thức KHXH&NV quân sự trong xây dựng QĐNDVN
vững mạnh về chính trị.
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu vai trò của trí thức KHXH&NV quân
sự trong xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị.
Phạm vi về không gian: Tập trung nghiên cứu, khảo sát ở Viện
KHXHNVQS, Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan
Đề xuất được những giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của trí thức
KHXH&NV quân sự trong xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, làm rõ những vấn đề
lý luận về trí thức KHXH&NV quân sự và vai trò của trí thức KHXH&NV
quân sự trong xây dựng QĐNDVN vững mạnh về chính trị.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học để
các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhà trường, đơn vị quân đội nghiên
cứu, vận dụng trong tham mưu, đề xuất, chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc
phát huy vai trò của trí thức KHXH&NV quân sự trong xây dựng QĐNDVN
vững mạnh về chính trị. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án có thể
dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những nội dung có
liên quan ở các học viện, nhà trường, các cơ quan nghiên cứu trong quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương (7 tiết); Kết luận; Danh mục các công
trình nghiên cứu của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án; Danh
mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.
10
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề
tài luận án
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về trí thức, trí thức khoa học xã
hội và nhân văn
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của trí thức với tư cách là bộ phận cấu
quốc”, binh hùng, tướng mạnh để giành chiến thắng trong chiến tranh công
nghệ cao, đưa Trung Quốc trở thành cường quốc quân sự trên thế giới. Để
thực hiện vấn đề này, theo tác giả, bên cạnh việc chi ngân sách lớn cho công
tác đào tạo tại chỗ, Trung Quốc cần có chính sách đặc biệt thu hút, trọng dụng
đội ngũ trí thức ngoài xã hội vào phục vụ trong lĩnh vực quân sự, kể cả các
nhà khoa học quân sự hàng đầu trên thế giới. Thực tế cho thấy, nhờ làm tốt
các vấn đề trên mà sức mạnh quân sự của Trung Quốc không ngừng được
tăng lên, từng bước khẳng định vị thế quân sự của mình.
Đề cập trực tiếp đến các nhà trường quân đội Trung Quốc, tác giả Lăng
Tường trong bài viết: “Tổng quan về 5 trường đại học tổng hợp trong toàn
quân” [149], đã phân tích sâu sắc việc kiện toàn hệ thống nhà trường quân sự,
đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học quân
sự. Theo tác giả, hệ thống các trường quân sự Trung Quốc được kiện toàn đổi
mới từ năm 1989 với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực quân sự đáp ứng yêu cầu
của chiến tranh hiện đại. Để thực hiện được mục tiêu đó, các trường đại học của
Trung Quốc rất chú trọng đào tạo đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục,
nhất là giảng viên có học hàm, học vị được quan tâm phát triển toàn diện và
chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong tổng số trí thức quân đội Trung Quốc.
Cũng bàn đến trí thức, nhưng giáo sư Dave Ulrich, một chuyên gia
hàng đầu về nhân lực ở Mỹ trong công trình “Lý thuyết Nhân tài 3C” (3C
Talent Formula) [151], lại nhấn mạnh đến bộ phận tinh hoa nhất của đội ngũ
này là “nhân tài”. Ông đã đưa ra quan niệm khá thú vị về nhân tài với phương
trình 3C (Talent = Competence, Commitment, Contribution / Nhân tài = Năng
12
lực, Cam kết, Cống hiến). Theo tác giả, nhân tài có vai trò, vị trí rất quan
trọng đối với sự phát triển xã hội của mỗi quốc gia, song không phải ai cũng
được gọi là nhân tài. Nhân tài trong quan niệm của ông là người phải có cái
đầu (năng lực sáng tạo), bàn tay, đôi chân (làm việc hết mình) và trái tim (sự
cho đội ngũ giảng viên ở các trường quân sự.
1.1.2. Một số công trình nghiên cứu về xây dựng quân đội và xây
dựng quân đội về chính trị
Tác giả M.V. Phrunde trong cuốn sách: “Xây dựng quân đội củng cố
quốc phòng sẵn sàng chiến đấu” [117], đã nhấn mạnh: Để có được một nền
quân sự mạnh đủ sức răn đe, bảo vệ Tổ quốc thì cần phải quan tâm, đầu tư
xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và hậu phương trong chiến tranh
tương lai. Trong đó, tác giả đặc biệt đánh giá cao vai trò quyết định của con
người trong mối quan hệ với yếu tố kỹ thuật trong chiến tranh hiện đại. Do
đó, theo tác giả cùng với việc tăng cường, rèn luyện kỷ luật quân sự trong bộ
đội chính quy và dân binh địa phương thì cần phải chú trọng trang bị kiến
thức toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; kết hợp đào tạo, huấn luyện cán bộ chỉ
huy và cán bộ chính trị của Hồng quân một cách bài bản, chính quy và có hệ
thống.
Tác giả Mark Galeotti trong bài viết: “Cải tổ quân đội Nga” [94], đã
nghiên cứu có hệ thống và bài bản về quân đội Nga, nhất là việc nghiên cứu
tổ chức biên chế để nâng cao chất lượng, sức mạnh tổng hợp của quân đội
Nga trong chiến tranh hiện đại. Mark Galeotti đã phân tích chủ trương “Cắt
tỉa gọn” lực lượng vũ trang Nga bằng cách thực hiện tinh giảm biên chế và
sắp xếp lại hệ thống nhà trường quân sự. Theo đó, quân đội Nga cần phải
hướng tới việc nâng cao chất lượng binh sĩ hơn là dành quá nhiều kinh phí để
trả lương bổng cho đội ngũ tướng lĩnh và những chương trình huấn luyện
không mang tính thực tiễn. Đồng thời, nước Nga cần phải cải tổ hệ thống các
trường quân sự theo hướng thu hẹp quy mô, số lượng để tập trung nâng cao
chất lượng đào tạo sĩ quan thuộc mọi quân, binh chủng, nhất là đào tạo sĩ
quan có trình độ cao. Đây không chỉ là lực lượng quyết định chất lượng đào
14
tạo, huấn luyện binh sĩ mà còn là lực lượng nòng cốt trong nghiên cứu khoa
15
đoạn Trung Quốc ngày càng tham gia sâu, rộng vào đời sống chính trị thế
giới, từng bước khẳng định vị trí, vai trò nước lớn của mình trên trường quốc
tế.
Đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu khác, tác giả Trần Trạc Minh
trong bài viết: “Nghiên cứu công tác chính trị của Cộng quân đứng trước
cuộc khủng hoảng và tư tưởng sĩ khí của họ” [100], đã nghiên cứu vai trò và
nhiệm vụ của công tác chính trị trong quân đội Trung Quốc trước những tác
động xấu, tiêu cực của đời sống xã hội. Theo tác giả, con người luôn luôn
chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện kinh tế - xã hội ở cả mặt tích cực và
tiêu cực, do đó cần coi trọng công tác với con người, coi vấn đề con người là
vấn đề trung tâm giữ vai trò quyết định. Nếu không làm tốt công tác chính trị
đối với con người, không phát huy sức mạnh của họ thì quân đội sẽ khó vượt
qua được khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Từ đó, tác giả
khẳng định sự cần thiết phải thực hiện tốt công tác chính trị, công tác tư tưởng
đối với mọi quân nhân; hướng họ vào những việc làm thiết thực và không
ngừng nâng cao bản lĩnh, ý thức, trách nhiệm trong thực hiện các nhiệm vụ.
1.2. Một số công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề
tài luận án
1.2.1. Một số công trình nghiên cứu về trí thức, trí thức khoa học xã
hội và nhân văn Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn sách: “Định hướng phát triển đội
ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [18], trên cơ sở
nghiên cứu khái quát tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và một
số yêu cầu đặt ra về nguồn lực trí tuệ đã có những luận giải xác đáng về vai
trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển
lực lượng sản xuất, sáng tạo văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc và trong lãnh
đạo, quản lý, điều hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, đặc điểm của đội ngũ trí
thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới và trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; đánh giá đúng thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam và
chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đội ngũ này qua hơn 20 năm đổi mới
17
và hiện nay; dự báo xu hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam đến năm
2020. Từ đó, tác giả đề xuất mục tiêu, quan điểm, phương hướng, giải pháp
cơ bản xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; kiến nghị
những nội dung cụ thể về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam đến năm 2020,
phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt
Nam giai đoạn 2011 - 2020; chiến lược phát triển và trọng dụng nhân tài quốc
gia Việt Nam và trình Trung ương xem xét để bổ sung, phát triển Cương lĩnh
năm 1991 và dự thảo các văn kiện Đại hội XII của Đảng.
Tác giả Ngô Thị Phượng trong cuốn sách: “Đội ngũ trí thức khoa học xã
hội và nhân văn Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới” [115] và trong luận án tiến sĩ
triết học: “Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam
trong sự nghiệp đổi mới” [114], đã cung cấp cho người đọc bức tranh chung về
đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam. Trong đó, tác giả đã đi sâu, phân tích,
làm rõ vai trò, trách nhiệm xã hội của đội ngũ này đối với cách mạng Việt Nam.
Theo tác giả, trí thức KHXH&NV Việt Nam có vai trò quyết định trong xây
dựng và phát triển các quan điểm, tư tưởng học thuật của KHXHNV; truyền bá
tri thức KHXH&NV, góp phần đào tạo và phát triển con người; thực hiện phê
bình, phản biện, dự báo xã hội; lực lượng trực tiếp tham gia vào việc xây dựng
và phát triển một mô hình xã hội nhất định. Từ vai trò như vậy, tác giả phân tích,
đánh giá những thành tựu, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân, đồng thời, đề xuất các
quan điểm, nhóm giải pháp để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV
Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong các nhóm giải pháp, tác giả nhấn mạnh
nhóm giải pháp về nhận thức và tạo môi trường để trí thức KHXH&NV Việt
tất yếu khách quan của sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, đây là vấn đề phức
tạp, nhạy cảm, vì vậy cần nhận thức và thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ
bản, có chiều sâu. Trong đó, bản thân sự tích cực, cố gắng, sự vượt khó vươn
lên, trí thông minh, sáng tạo của bản thân các nhà nghiên cứu, giảng dạy
KHXH&NV là vô cùng quan trọng, đóng vai trò quyết định trong ĐTTTLL.
1.2.2. Một số công trình nghiên cứu về xây dựng Quân đội nhân dân
Việt Nam vững mạnh về chính trị
19
Nhóm tác giả của Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự trong cuốn
sách: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị” [154], đã tập
trung luận giải một số vấn đề lý luận xây dựng quân đội kiểu mới về chính trị
của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm xây dựng QĐNDVN về chính trị của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và ĐCSVN; đi sâu làm rõ quá trình lịch sử xây dựng
QĐNDVN về chính trị từ khi thành lập đến nay; khái quát và phân tích những
bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng QĐNDVN về chính trị. Trên cơ
sở đó, phân tích dự báo những yếu tố tác động đến xây dựng quân đội về
chính trị; đề xuất một số định hướng, giải pháp cơ bản xây dựng QĐNDVN
vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.
Cũng bàn đến xây dựng quân đội về chính trị, tác giả Lê Văn Dũng trong
cuốn sách: “Tiếp tục xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính
trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới” [21], đã trình bày nhiều vấn đề quan
trọng. Theo tác giả: Sự nghiệp xây dựng QĐNDVN về chính trị là trách nhiệm
của cả hệ thống chính trị, của các tổ chức, các lực lượng, trong đó đội ngũ chính
ủy, chính trị viên giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Họ trực tiếp chỉ đạo tiến hành
xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong đơn vị trong sạch, vững mạnh, nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng đối với đơn vị; trực
tiếp chỉ đạo và tiến hành hoạt động CTĐ,CTCT; xây dựng đơn vị, các tổ chức
dân, tính dân tộc là nguồn gốc tạo nên sức mạnh chính trị tinh thần của quân
đội ta, bảo đảm cho quân đội chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược,
trở thành quân đội bách chiến, bách thắng. Trải qua 70 năm xây dựng, chiến
đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự yêu thương, đùm bọc của
nhân dân, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân
đội ngày càng được củng cố và tăng cường. Bước sang thời kỳ mới, yêu cầu,
nhiệm vụ cách mạng có sự phát triển, kẻ thù tăng cường chống phá quân đội
trên nhiều mặt, do đó đặt ra vấn đề cần đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng và
tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân
đội với nhiều giải pháp đồng bộ, khả thi.
21
Tác giả Nguyễn Đình Minh và Nguyễn Mạnh Hưởng trong cuốn sách:
“70 năm Quân đội nhân dân Việt Nam cội nguồn sức mạnh tinh thần” [104],
đã nghiên cứu và trình bày sâu sắc những vấn đề cơ bản từ cội nguồn sức
mạnh tinh thần đến những biểu hiện sức mạnh tinh thần của QĐNDVN trong
lịch sử. Theo các tác giả, trong sự so sánh với đối phương trên nhiều phương
diện, thì yếu tố cơ bản để tạo nên sức mạnh của quân đội ta nằm ở tinh thần.
Đó là nguồn sức mạnh cơ bản, là “chất keo” dính kết tất cả các nguồn sức
mạnh khác để tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn nhất cho quân đội đủ sức chiến
thắng kẻ thù. Do đó, bước vào thời kỳ mới, để quân đội hoàn thành mọi
nhiệm vụ được giao, vấn đề tăng cường sức mạnh chính trị tinh thần của quân
đội phải được coi trọng. Muốn vậy, trên cơ sở đánh giá thực trạng nhân tố
chính trị tinh thần của quân đội, tác giả đã làm rõ những vấn đề mới về xây
dựng đời sống tinh thần của quân đội ta trong tình hình mới.
Tác giả Nguyễn Vĩnh Thắng trong cuốn sách: “Xây dựng quân đội về
chính trị trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới” [128], đã đi sâu nghiên
cứu, phân tích, làm rõ thêm những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của ĐCSVN về xây