Câu 1. Phân tích những yếu tố quyết định đến thành quả hoạt động của cá
nhân trong tổ chức. Trên cơ sở đó anh/chị hãy rút ra những bài học quản lý cần
thiết nhằm nâng cao thành quả hoạt động của cán bộ giáo viên trong cơ sở giáo
dục nơi anh chị đang công tác.
Gợi ý (Thành quả = Khả năng X sự nỗ lực X kỹ năng)
Câu 2. Trên cơ sở phân tích lý thuyết về xung đột trong tổ chức , anh/chị hãy
đưa ra những bài học trong công tác quản lý nhằm quản lý tốt xung đột trong cơ sở
giáo dục mà anh/chị đang công tác.
Sự tồn tại và phát triển của một tổ chức phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: vốn, cơ sở vật chất, tiến bộ khoa học kỹ
thuật, người lao động, các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau và tác động
lại với nhau. Những yếu tố như: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ
thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì
không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng con người có vai trò thiết yếu đối với sự
tồn tại và phát triển của tổ chức.
Thành quả lao động là yếu tố trung tâm chịu tác động của nhiều nhân tố khác
nhau. Toàn bộ những nhân tố tác động đến đầu ra và đầu vào đều là những nhân tố
tác động đến thành quả lao động.
Trải qua các thời kỳ khác nhau thì nhu cầu, thị hiếu, sở thích của mỗi cá nhân
cũng khác đi, điều này tác động rất lớn đến nhà quản lý. Nhiệm vụ của công tác
quản lý là phải nắm được những thay đổi này để sao cho người lao động cảm thấy
thoả mãn, hài lòng, gắn bó với tổ chức bởi vì thành công của một tổ chức trên
thương trường phụ thuộc rất lớn vào con người xét về nhiều khía cạnh khác nhau.
Các yếu tố quyết định đến thành quả hoạt động của cá nhân trong tổ chức bao gồm
hai yếu tố về khách quan và chủ quan. Đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội
1
Môi trường tự nhiên bao gồm đất đai, vị trí địa lý, khí hậu, khung cảnh làm
công chức ở các bộ phận khác không nắm rõ yêu cầu của công việc hoặc không có
thái độ đúng đắn với công việc thì công việc trong một tổ chức sẽ gặp nhiều khó
khăn. Yếu tố con người ở đây chính là nhân viên làm việc trong một tổ chức. Trong
một tổ chức mỗi cá nhân là một thế giới riêng biệt, họ khác nhau về năng lực, về
nguyện vọng, về sở thích…vì vậy họ có những nhu cầu ham muốn khác nhau. Nhà
quản lý phải nghiên cứu kỹ vấn đề này để để ra các biện pháp sao cho phù hợp
nhất. Cùng với sự phát triển của khoa học- kỹ thuật thì trình độ của người lao động
cũng được nâng cao, khả năng nhận thức cũng tốt hơn. Điều này ảnh hưởng tới
cách nhìn nhận của họ với công việc, nó cũng làm thay đổi những đòi hỏi, thoả
mãn, hài lòng với công việc và phần thưởng của họ. Thực tiễn trong cuộc sống luôn
thay đổi, nhà quản lý phải thường xuyên quan tâm đến việc tạo bầu không khí thân
mật, cởi mở trong tổ chức, phải làm cho nhân viên tự hào về nơi làm việc, có tinh
thần trách nhiệm với công việc của mình. Ngoài ra nhà quản lý phải khéo léo kết
hợp hai mặt của tổ chức, một mặt nó là một tổ chức tạo ra lợi nhuận mặt khác nó là
một cộng đồng đảm bảo đời sống cho các cán bộ công nhân viên trong tổ chức, tạo
ra các cơ hội cần thiết để mỗi người đều tích cực làm việc và đều có cơ hội thành
công.
Tóm lại, qua những phân tích trên đã cho chúng ta nhận biết được các yếu tố
quyết định đến thành quả hoạt động của cá nhân trong tổ chức. Qua những phân
tích ở trên ta có thể rút ra những bài học quản lý cần thiết nhằm nâng cao thành quả
hoạt động của cán bộ giáo viên trong cơ sở giáo dục như sau: Một là, trong các yếu
tố trên thì yếu tố con người (bao gồm cả nhà quản lý, các cán bộ, công chức, nhân
viên và công dân của các tổ chức đối tác của công sở) là yếu tố mang tính quyết
định. Nó quyết định được các thời cơ được kịp thời nắm bắt, các nguy cơ và các
vấn đề được kịp thời giải quyết . Hai là, các yếu tố về vật chất ảnh hưởng đến thành
quả hoạt động của cán bộ giáo viên trong cơ sở giáo dục. Cụ thể là khung cảnh làm
việc do cách bố trí, sắp xếp các bộ phận trong tổ chức có ảnh hưởng đến hiệu quả
làm việc của cán bộ giáo viên trong một cơ sở giáo dục. Khung cảnh làm việc do
3
con người với con người trong quá trình hoạt động cùng nhau trong tập thể.
Một nhà quản trị cho đã nhận định rằng: “Cách tốt nhất để mọi người cùng
làm việc một cách hiệu quả với nhau là hãy thừa nhận và tôn trọng (đừng phủ nhận)
những khác biệt của người khác. Ngoài ra, đối với bất kỳ tổ chức nào muốn hoạt
động hiệu quả, thì những người trong tổ chức cần phải có một tầm nhìn chung về
những gì họ đang phấn đấu để đạt được, cũng như mục tiêu rõ ràng cho từng nhóm
bộ phận và cá nhân. Tất cả thành viên của bất kỳ tổ chức cần phải có cách giữ xung
đột đến mức tối thiểu và giải quyết các vấn đề gây ra bởi xung đột, trước khi cuộc
xung đột trở thành một trở ngại lớn cho công việc của bạn.
1. Các khái niệm xung đột
- Quan điểm cổ điển: xung đột là những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực bên trong tổ
chức
- Quan điểm của khoa học nghiên cứu hành vi: xung đột là một hiện tượng tự
nhiên đôi khi nó còn hỗ trợ cho việc kích thích sáng tạo, cho nên nó có thể tạo ra
nhiều lợi ích cho tổ chức nếu nó được quản lý một cách đúng đắn.
Xung đột là quá trình trong đó một bên nhận ra rằng quyền lợi của mình hoặc
đối lập hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi một bên khác. Xung đột có thể mang đến
những kết quả tiêu cực hoặc tích cực, phụ thuộc vào bản chất và cường độ của xung
đột. Nếu không có sự điều hòa và giải pháp thỏa đáng, xung đột có thể dẫn đến sự
căng thăng giữa những cá nhân hay nhóm người lien quan.
2. Phân loại xung đột và cấp độ xung đột trong tổ chức
Mâu thuẫn, xung đột theo tính chất lợi, hại
Mâu thuẫn, xung đột có lợi: có thể cải thiện kết quả làm việc, thúc đẩy mỗi
cá nhân sang tạo và hợp tác với nhau tốt hơn, xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp
5
sâu sắc hơn. Nếu quá ít mâu thuẫn thì con người ta dễ trở lên tự mãn, hài lòng với
bản thân.
Xung đột có hại: là những mâu thuẫn gây ảnh hưởng tới công việc, tới các
nhận. Chẳng hạn cấp trên của một nhân viên đề nghị anh ta chỉ cần làm việc trong
giờ làm việc quy định, nhưng có thể sếp của cấp trên nhân viên này lại nghĩ rằng đó
là sự thiếu tận tụy và mong muốn nhân viên làm việc tăng ca nhiều hơn.
2.3.Phân loại theo cấp độ xung đột
Trong các tổ chức, xung đột bên trong và giữa các nhóm là phổ biến. Qua
xung đột, chúng ta thấy được một sự khác biệt về nhận thức giữa hai hay nhiều bên
dẫn đến sự đối lập nhau và có thể xảy ra ở ba cấp độ: giữa các cá nhân; giữa cá
nhân và tổ chức; và giữa các nhóm tổ chức.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột là do nhận thức, vai trò của
con người thay đổi khi con người trưởng thành, đi từ:
+ Tình trạng bị động thời thơ ấu đến hoạt động của người trưởng thành ngày
càng gia tăng;
+ Tình trạng phụ thuộc đến độc lập;
+ Ít biết cư xử đến có nhiều cách cư xử khác nhau;
+ Quan tâm đến những vấn đề một cách nông cạn, cẩu thả, thất thường đến sâu
sắc hơn;
+ Có cái nhìn thiển cận (hành vi quyết định bởi những sự kiện hiện tại) đến
cái nhìn bao quát hơn (hành vi được quyết định bởi các sự kiện trong quá khứ, hiện
tại và tương lai);
+ Người dưới quyền trở thành thầy dạy hoặc người giám sát (từ trẻ em đến
cha mẹ hoặc từ người đang được huấn luyện thành quản lý);
+ Những nhận thức nghèo nàn của bản thân đến sự nhận thức sâu sắc hơn và
kiểm soát được hành vi như người trưởng thành.
Xung đột giữa các cá nhân: là do đụng độ về tính cách và giao tiếp không
hiệu quả và các giá trị khác biệt. Có thể xảy ra khi người ta không thích nhau, khi
7
niềm tin không tồn tại và khác nhau trong suy nghĩ về viễn cảnh. Họ cũng có thể
+ Tìm đồng minh và thích nghi bằng sự hạn chế, bãi công và phá hoại.
Trong khi xung đột thường là tiêu cực, kết quả của nó có thể có tính xây
dựng hay phá hoại. Ví dụ, xung đột có nghĩa là cá nhân và các nhóm có thể trở
thành thù địch, giữ kín thông tin và các nguồn lực, và gây trở ngại cho những nỗ
lực của nhau. Nó có thể gây ra sự chậm trễ trong các dự án, gia tăng chi phí, và
khiến cho các nhân viên giỏi ra đi. Mặt khác, sự xung đột có thể có kết quả tích cực
(có tính xây dựng). Một mặt, xung đột nêu bật các vấn đề và nhu cầu tìm ra giải
pháp. Mặt khác, nó khuyến khích sự thay đổi khi các bên làm việc để giải quyết
vấn đề. Xung đột có thể nâng cao tinh thần và sự gắn kết, khi các thành viên cùng
giải quyết các mối quan tâm và thất vọng. Cuối cùng, xung đột có thể kích thích sự
hứng thú, sáng tạo và đối mới, khuyến khích những ý tưởng mới.
Xung đột giữa các nhóm tổ chức: sự phân bổ nguồn lực, công việc, quyền
hạn, trách nhiệm giữa các phòng ban không đều, tương trợ lẫn nhau dẫn tới mâu
thuẫn, xung đột.
Kết quả là, một số xung đột là hữu ích, nhưng quá nhiều có thể gây hại cho
hoạt động của tổ chức. Mức độ xung đột rất thấp có thể có nghĩa là các vấn đề đang bị
ẩn đi và bóp nghẹt những ý tưởng mới. Ngược lại, có quá nhiều xung đột có nghĩa là
một phần lớn năng lượng đang bị lãng phí trong các bất đồng và đối nghịch. Theo đó,
các nhà quản lý phải hiểu nguyên nhân của cuộc xung đột, làm thế nào để giảm bớt
hoặc giải quyết nó và, khi cần thiết, kích thích nó một cách tích cực.
3. Giải pháp giải quyết xung đột
Trong công việc cũng như cuộc sống hàng ngày chúng ta sẽ không tránh khỏi
những ý kiến trái ngược. Điều cần thiết là phải làm thế nào để giải quyết xung
đột một cách nhanh chóng, liên kết mọi người lại cùng hướng về một mục tiêu. Vậy
làm thế nào để giải quyết xung đột?
Xác định nguyên nhân xung đột
Có hàng trăm lý do dẫn đến xung đột, vì vậy để kỹ năng giải quyết xung đột,
đầu tiên ta cần phải tìm hiểu nguyên nhân chính của nó. Việc xác định được nguyên
9
bên đều muốn mình là người đúng và được người khác ủng hộ. Nếu vô tình bạn
bênh vực bên nào đó sẽ khiến họ nghĩ bạn là người không công bằng, áp đặt và
mâu thuẫn chắc chắn sẽ không thể nào tháo gỡ được.
Nhận định lại vấn đề
Khi đã biết được nguyên nhân chính của vấn đề và hiểu rõ suy nghĩ của cuộc
xung đột, bạn hãy cẩn thận nhận định lại vấn đề để chắc chắn mọi thứ bạn biết đều
đúng sự thật, bạn không bị bên nào che mắt. Có như vậy bạn mới có thể giải quyết
vấn đề một cách công bằng nhất.
Không đặt cái tôi cá nhân khi giải quyết xung đột
Khi bạn là trọng tài, bạn cần phải gạt bỏ cái tôi cá nhân ra khỏi cuộc phân
xử. Bạn cần phải biết rằng, khi một vấn đề căng thẳng dẫn đến xung đột nghĩa là
khi đó cái tôi cá nhân của những người trong cuộc đều lớn, họ không muốn nhượng
nhịn nhau. Vì thế, nếu lúc này bạn cũng đề cao cái tôi cá nhân chắc chắn bạn sẽ
nhận được thất bại thảm hại. Hãy suy nghĩ mình vì mọi người chứ không phải vì
bản thân mình, như vậy bạn mới có thể giải quyết xung đột một cách sáng suốt và
hiệu quả nhất.
4. Kết luận
Có thể nói xung đột được diễn ra hết sức tự nhiên. Nó hiện hữu mọi nơi, mọi
thời điểm. Đối với một nhà quản lý giỏi, xung đột nhỏ được xem là cần thiết để tạo
ra những thành tích cao trong sản xuất, khuyến khích phát triển chiến thuật và chiến
lược mới. Nhưng khi xung đột quá mạnh thì có thể gây lãng phí nguồn lực, nhận
thức méo mó sự việc và phối hợp thiếu nhịp nhàng, vì vậy, một nhà quản lý giỏi
cần phải luôn trong tư thế sẵn sàng đối phó bằng các biện pháp phù hợp, lựa chọn
phương án tối ưu để thực hiện xử lý các xung đột một cách có hiệu quả.
11
12