CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ:
1.1.1. Một số khái niệm:
-Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt
động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn.
* Đào tạo nghề:
Ngày 29/11/2006 Quốc hội đã ban hành Luật dạy nghề số 76/2006/QH 11. Trong
đó viết: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái
độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc
làm sau khi hoàn thành khoá học”.
Như vậy, có thể thấy, đào tạo nghề là một hoạt động quan trọng giúp người dân có
thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm. Đào tạo nghề cung cấp cho học sinh những
kiến thức và kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết của một nghề.
* Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản
xuất, dịch vụ cho đối tượng là LĐNT, để họ có năng lực thực hành nghề tương xứng với
trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công
nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho LĐNT sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm
việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.1.2. Ý nghĩa của công tác đào tạo nghề cho lao động nôngthôn
- Tạo ra một nền kinh tế phát triển, khẳng định vị thế cạnhtranh của mình với các nước
trong và ngoài khu vực.,
- Đảm bảo thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đốivới mọi lao động nông thôn.
- Đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa, chuyểndịch cơ cấu kinh tế.
- Đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp,các dự án, thị trường lao động
trong nước và xuất khẩu nước ngoài.
- Nâng cao nhận thức cho lao động nông thôn.
- Giúp người lao động nông thôn có thể tự xin việc làm hay tựtạo việc làm cho chính
mình.
Năm
Số lƣợng lao động Cơ cấu (%)
(ngƣời)
Tổng
Nam
Nữ Tổng Nam
Nữ
2011
707.088
349.670
357.418
100.0
49,45
50,55
2012
726.921
382.804
100.0
48,46
51,54
2015
748.667
362.878
385.789
100.0
48,47
51,53
Nguồn: Niên giám thống kê Hưng Yên 2015
Nhìn vào bảng 1 chúng ta có thể thấy lực lượng lao động nữ trong lực lượng lao
động của tỉnh chiếm hơn 50% cao hơn lực lượng lao động nam. Tỉ lệ lao động nam có xu
hướng ngày càng giảm và tỉ lệ lao động nữ có xu hướng ngày càng tăng. Điều này đòi
hỏi chính quyền tỉnh phải có tầm nhìn, thay đổi cơ cấu lao động việc làm để đáp ứng sự
gia tăng của lực lượng lao động nữ và điều chỉnh việc làm theo sự giảm của lực lượng lao
động nam, tránh tình trạng việc làm cho lao động nam thì thừa mà việc làm cho lao động
2013
1,97
2,36
1,55
2014
1,73
2,23
1,30
2015
1,58
2,09
1,02
(Nguồn: Niên giám thống kê Hưng Yên 2015)
Theo bảng số 2: Từ năm 2011-2013, nhìn chung tỉ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng
và tăng đột biến vào năm 2013: từ 1,28%(năm 2011) lên 1,97%(năm 2013), tăng 0,69%.
Từ năm 2013-2015, tỉ lệ thất nghiệp đã giảm còn 1,73%( năm 2014) và 1,58%
Nữ
14,64
19,56
20,56
23,58
24,00
11,71
14,22
14,47
15,93
16,70
(Nguồn: Niên giám thống kê Hưng Yên 2015)
Theo bảng 3, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của tỉnh Hưng Yên ngày càng tăng.
Năm 2011, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 13,16% thì đến năm 2015 tỷ lệ này đã đạt
19,90%. Đây là kết quả của những nỗ lực trong việc đào tạo nghề cho lao động của tỉnh
Hưng Yên trong những năm vừa qua. Ngoài ra, dựa vào bảng số liệu chúng ta thấy tỉ lệ
lao động nam đã qua đào tạo cao hơn tỷ lệ lao động nữ đã qua đào tạo. Điều này phản ánh
việc đào tạo nghề cho lao động nữ chưa được chú trọng.
Qua việc khái quát tình hình lao động việc làm, trình độ lao động đã qua đào tạo
của tỉnh Hưng Yên chúng ta có thể thấy rằng giống như tình hình chung của cả nước,
Hưng Yên có tỉ lệ lực lượng lao động trong tổng số dân cao. Mặc dù tỉ lệ thất nghiệp thấp
hơn so với cả nước nhưng vẫn là một trong những vấn đề xã hội cần giải quyết của
UBND tỉnh Hưng Yên. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo còn chiếm một tỉ lệ rất nhỏ. Định
hướng phát triển mà Hưng Yên cần hướng tới là tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn, nâng cao trình độ, tay nghề kỹ thuật cho người lao động để giảm thất
nghiệp, chuyển đổi cơ cấu việc làm đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh trong thời gian
Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn còn nhận được sự hưởng ứng từ nhiều
trường đại học, cao đẳng nghề, trường đào tạo nghề như Trường cao đẳng nghề Cơ điện
và Thủy lợi, Trường cao đẳng nghề Kinh tế- kỹ thuật Tô Hiệu, Trường Trung cấp nghề
Hưng Yên, Trường trung cấp văn hóa nghệ thuật và Du lịch,…
Ví dụ: Hội nông dân xã Hàm Tử- huyện Khoái Châu- tỉnh Hưng Yên đã liên kết
với Trường cao đẳng nghề KT-KT Tô Hiệu mở lớp đào tạo ứng dụng tiến bộ kĩ thuật
trồng cây ăn quả ngay tại xã. Nông dân tham gia khóa học khá đông, được học lý thuyết,
sau đó thực hành ngay tại vườn, cho nên lắm vững các tiến bộ kĩ thuật trong sản xuất cây
giống, thâm canh cây nhãn và một số loại cây ăn quả khác. Nhờ vậy, mấy năm gần đây
nhãn chín muộn ở Hàm Tử năm nào cũng được mùa, được giá đã mang lại nguồn thu
nhập lớn cho nông dân. Diện tích nhãn chín muộn ở Hàm Tử hiện được mở rộng lên tới
gần 200ha, chiếm hơn 50% diện tích canh tác của xã.
Thực hiện Đề án 1956, giai đoạn 2011 – 2015UBND tỉnh đã triển khaikế hoạch
dạy nghề tỉnh. Đồng thời, bổ sung chức năng dạy nghề cho 9 trung tâm GDTX, trung tâm
kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp các huyện, đưa mạng lưới cơ sở dạy nghề toàn tỉnh lên
con số 41 đơn vị và phủ khắp 10/10 huyện, thành phố. Tỉnh đã thực hiện việc đào tạo
chính quy và đào tạo thường xuyên theo chương trình của Bộ LĐTBXH và của tỉnh ở 3
cấp: cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ cấp và ngắn hạn với khoảng 54 nghề.
Trong 5 năm giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh đã dạy nghề cho 16.990 lao động nông
thôn, trong đó:
-Số lao động học nghề phi nông nghiệp – dịch vụ:12.399 người
-Số lao động học nghề nông nghiệp: 4.591 người.
-Tổng số lao động sau đào tạo đã có việc làm: 13.932 người (đạt 82% so với tổng
số lao động đã được đào tạo nghề)
Đồng thời tỉnh đã đào tạo, bồi dưỡng cho 4.166 cán bộ công chức cấp xã thuộc các
chức danh: Bí thư Đảng ủy, văn phòng tư pháp, Hội Nông dân, Mặt trận tổ quốc, Cựu
chiến binh, Lao động thương binh – Xã hội; Công an.
( Nguồn:Sơ kết 5 năm thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn- Sở
- Nhờ đào tạo nghề, giá trị sản phẩm người lao động tạo ra được tăng cao, góp
phần tăng giá trị xuất khẩu các sản phẩm của tỉnh.
- Mức sống người lao động sau đào tạo tăng khi áp dụng kiến thức đào tạo vào sản
xuất nâng cao đời sống, góp phần nâng cao mức sông người dân trong tỉnh nói chung.
- Các cán bộ ban ngành triển khai đào tạo được hướng dẫn rõ về chính sách và nội
dung đào tạo qua những buổi tập huấn cán bộ, đi theo đúng đề án của Chính Phủ và của
tỉnh. Góp phần đưa nội dung đào tạo một cách đúng đắn và tiếp cận vào nhu cầu của
người lao động ở nông thôn.
2.3.2.Nhược điểm:
Bên cạnh những ưu điểm , thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại
Hưng Yên còn nhiều hạn chế như:
- Nhìn chungđào tạo chưa gắn với thực tế
Trình độ đào tạo nghề cho lao động nông thôn chủ yếu sơ cấp nghề và dạy nghề ngắn hạn
nên sau khi học xong người lao động không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh
nghiệp.Việc xây dựng kế hoạch đào tạo nghề của địa phương, cả ngắn hạn và dài hạn,
chưa theo kịp yêu cầu thực tế, nhất là với những nghề phi nông nghiệp. Dẫn đến tình
trạng nhiều lao động nông thôn không mặn mà với việc học tập và chuyển đổi nghề mới.
Nhiều địa phương còn lúng túng trong việc xác định nghề, định hướng đào tạo nghề chưa
thật sự phù hợp với người học và chuyển dịch cơ cấu lao động. Việc cung cấp cho người
học thông tin về khả năng làm việc, tạo việc làm sau đào tạo và thu nhập tối thiểu khi
tuyển dụng, hoặc doanh nghiệp tạo việc làm gia công cho người lao động còn mang tính
hình thức. Việc thẩm định nghề đào tạo và khả năng của người học của các xã chưa sâu
sát.
- Công tác thống kê, báo cáo về thực trạng nhu cầu việc làm và số lượng cần đào
tạo chưa kịp thời
- Nguồn kinh phí phục vụ cho công tác dạy nghề chưa đáp ứng so với nhu cầu kế
hoạch.Vốn đầu tư cho các chương trình dự án bị lãng phí do công tác đào tạo nghề cho
lao động còn nhiều bất cập, hiệu quả đầu tư chưa cao. Chậm trễ và thiếu hụt trong việc
- Nâng cao trình độ văn hóa và định hướng nghề cho lao động nông thôn
- Cần điều tra, thống kê số lượng lao động nông thôn cần đào tạo, số lượng nghề có
thể đào tạo.
- Kiểm duyệt nội dung đào tạo sao cho phù hợp với trình độ dân trí, khả năng tiếp
thu của người lao động nông thôn. Phải có những phương pháp đào tạo cụ thể, đan dạng
hóa hình thức đào tạo phù hợp với nội dung, đối tượng giảng dạy.
- Điều tra, xác định rõ nhu cầu, mong muốn được đào tạo của người lao động nông
thôn. Gắn kết nhu cầu với kế hoạch đào tạo giúp người lao động hiểu rõ quyền và lợi ích
họ có được sau khi được đào tạo.
- Chính sách tạo việc làm cho người lao động sau đào tạo cần được tỉnh hỗ trợ hơn
nữa, tăng cường triển khai thường xuyên các chương trình về đào tạo nghề cho người lao
động.
KẾT LUẬN
Phát triển đào tạo nghề là rất cần thiết trong việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ
cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước khi Việt Nam đang trong giai đoạn của hội nhập
kinh tế Quốc tế. Tuy nhiên phát triển đào tạo nghề hiện nay vẫn còn gặp nhiều thách thức,
vừa phải mở rộng quy mô đào tạo vừa phải đảm bảo có chất lượng trong đào tạo và phát
huy hiệu quả đào tạo thì mới đáp ứng được yêu cầu của xã hội, vì khi đã đáp ứng được
yêu cầu của xã hội thì đào tạo nghề mới phát triển được. Việc đề ra các giải pháp phát
triển đào tạo nghề trong giai đoạn từ nay đến 2020một cách có cơ sở khoa học là hết sức
cấp bách và có ý nghĩa rất thiết thức góp phần thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục phục
vụ sự nghiệp CNHHĐH đất nước.
Phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tạitỉnh Hưng Yên thời kỳ
công nghiệp hóa và hiện đại hóa là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của phát triển
nguồn nhân lực. Đào tạonghề gắn liền với giải quyết việc làm cho người lao động chưa
cóviệc làm, tạo việc làm mới cho những người đã mất việc.
Những năm qua, các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn Hưng Yên đã cung cấp cho