TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG - Pdf 48

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------

ĐOÀN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trường hợp xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang,
tỉnh Khánh Hòa)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Căn lề, dãn dòng,.. chỉnh sửa theo mẫu luận văn của trưởng đại học nhân văn.
- Sửa lại mục lục mới ( vf luận văn chnhr sửa lại nên mục lục đã thay đổi)
- In ra 5 quyền
- Đóng bìa nhũ đỏ theo mẫu của luận văn thạc sĩ chính thức
- sửa xong anh gửi vào mail:
sđt huệ: 0965289385 - 01655120862

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------

ĐOÀN THỊ HUỆ

TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI CỘNG ĐỒNG


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu nêu ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất cứ một công trình nào khác.

Tác giả

Đoàn Thị Huệ


MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình ảnh
MỞ ĐẦU..................................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài..............................................................................................6
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.....................................................................8
3. Ý nghĩa của nghiên cứu..................................................................................17
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................18
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu...............................................19
6. Câu hỏi nghiên cứu........................................................................................20
7. Giả thuyết nghiên cứu....................................................................................20
8. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................21
9. Cấu trúc luận văn...........................................................................................25
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU............27
1.1. Các khái niệm công cụ................................................................................27
1.1.1. Chính sách xã hội...................................................................................27

2.3.1. Tình hình trợ cấp chính sách thường xuyên cho người cao tuổi.............71
2.3.2. Hoạt động hỗ trợ vật chất cho người cao tuổi.......................................73
2.4. Trợ giúp trong sinh hoạt hằng ngày...........................................................76
2.4.1. Chăm sóc sinh hoạt tại nhà.....................................................................76
2.4.2. Hỗ trợ đi lại cho NCT.............................................................................80
2.5. Trợ giúp về tinh thần, giao lưu văn hóa và giải trí....................................82
2.5.1. Hỗ trợ trò chuyện hàng ngày với NCT....................................................82
2.5.2. Hỗ trợ tham gia các Câu lạc bộ NCT dành cho NCT..............................84
2.6. Trợ giúp về tiếp cận các kiến thức, thông tin............................................87
2.5.3. Truyền thông kiến thức cho NCT.............................................................87
2.5.4. Cung cấp thông tin xã hội cho NCT........................................................89

2


Tiểu kết chương 2...........................................................................................92
Chương 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NCT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC
TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NCT TẠI XÃ VĨNH NGỌC, NHA TRANG,
KHÁNH HÒA........................................................................................................94
3.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT tại
xã Vĩnh Ngọc.......................................................................................................94
3.2. Mong muốn tiếp theo của Người cao tuổi về hoạt động trợ giúp...........102
3.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động trợ giúp xã hội đối với NCT tại
xã Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa...........................................................107
3.3.1. Quan tâm chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi nhằm tăng cường sức
khỏe và tuổi thọ cho NCT................................................................................107
3.3.2. Hỗ trợ vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT....................109
3.3.3. Tạo điều kiện tối đa để NCT được tiếp cận với các thông tin, kiến thức...........111
3.4. Ứng dụng Công tác xã hội cá nhân vào trợ giúp thân chủ tham CLB

Từ đầy đủ
Người cao tuổi
Ủy ban nhân dân
Công tác xã hội
Trợ giúp xã hội
Bảo hiểm y tế
Câu lạc bộ
Nhà nước
Chính sách
Chăm sóc sức khỏe

4


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Độ tuổi của NCT trong mẫu nghiên cứu..................................................24
Bảng 1.2. Tình trạng hôn nhân của NCT trong mẫu NC..........................................24
Bảng 1.3. Trình độ học vấn của NCT trong mẫu NC...............................................24
Bảng 1.4. Nghề nghiệp của NCT trong mẫu NC.....................................................25
Bảng 1.5. Thu nhập của NCT trong mẫu NC...........................................................25
Hình 1.1. Tình trạng sạt lỡ đất ven sông Cái...........................................................53
Biểu đồ 2.1. Đánh giá tình trạng sức khỏe hiện nay của NCT.................................62
Biểu đồ 2.2. Hoạt động cấp và vận động mua thẻ BHYT cho NCT........................63
Bảng 2.3. Đánh giá mức độ sử dụng thẻ BHYT của NCT.......................................64
Biểu đồ. 2.4. Hình thức khám chữa bệnh của NCT lựa chọn...................................65
Biểu đồ. 2.5. Sự quan tâm của chính quyền đối trong CSSK đối với NCT..............67
Biểu đồ 2.6. Thực trạng giúp đỡ NCT khi bị ốm đau..............................................68
Bảng 2.7. Sự quan tâm của chình quyền địa phương khi NCT ốm đau...................70
Biểu đồ 2.8. Các nguồn thu nhập của NCT hiện nay...............................................74
Biểu đồ. 2.9. Nguồn trợ giúp tiền và các vật dụng trong gia đình............................75

nước, phần lớn người cao tuổi ( NCT) có cuộc sốn ổn định về vật chất, tinh thần.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận NCT đang phải lao động kiếm sống, sống cô đơn
và đối mặt với nhiều nguy cơ bất lợi cho sức khỏe. Người cao tuổi Việt Nam hiện
nay có tỷ lệ ốm đâu, tình trạng khỏe mạnh thấp. Trung bình mỗi người phải chịu 14
năm bệnh tật trong tổng số 73 năm trong cuộc sống (Tổng cục thống kê 2012, kết
quả điều tra biến động dân số và nhà ở năm 2012, Hà Nội). Người cao tuổi được
xem như vốn quý của xã hội bởi những đóng góp của họ về kinh nghiệm, kiến thức
cho sự phát triển. Đồng thời là động lực tinh thần cho các thế hệ mai sau và là niềm
hạnh phúc của mỗi gia đình. Người cao tuổi cũng cần nhận được sự quan tâm, hỗ
trợ từ gia đình, cộng đồng, Nhà nước trong việc đáp ứng về kinh tế, sự tham gia xã
hội, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe để đảm bảo chất lượng cuộc sống.
Ở Khánh Hòa, người cao tuổi tuy tuổi cao, sức khỏe yếu nhưng NCT vẫn
luôn có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát trển của toàn tỉnh và cho đất nước.
Trải qua một thời kỳ bom đạn, NCT Khánh Hòa là những nhân chứng trong từng
giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Trong thời bình, họ tiếp tục cống hiến , đóng
góp cho sự nghiệp quê hương, đất nước. Hòa trong dòng chảy của nhiệt huyết và
cống hiến ấy, NCT Khánh Hòa cũng phát huy “nguồn nội sinh” của mình bằng việc

6


tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, góp công sức trong sự nghiệp phát triển địa
phương. Nhận thức được tầm quan trọng của người cao tuổi, các cấp, các ban
ngành, và đặc biệt là các cấp hội NCT đã rất quan tâm và chăm lo đến đời sống, sức
khỏe của hội viên. Nhiều hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện để các cụ hưởng
thụ văn hóa, được thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, đồng thời phát
huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, chiến đấu của NCT trong gia đình và xã
hội. Tuy vậy, hiện nay công tác chăm sóc, hỗ trợ xã hội của Nhà nước đối với người
cao tuổi tại cộng đồng còn rất khó khăn. NCT vẫn chịu nhiều thiệt thòi ngay cả khi
họ có sự trợ giúp từ phía xã hội. Mặc dù tuổi đã cao song họ vẫn phải đi làm tự

Đề tài đã phân tích kinh nghiệm nghiên cứu của các nước trên thế giới thông
qua báo cáo hội thảo “Nghiên cứu tổng quan về vai trò gia đình và Nhà nước
trong chăm sóc Người cao tuổi: Những vấn đề thực tiễn và chính sách” của tác
giả Trần Thị Minh Thi (2014). Vì lý do không có điều kiện để tiếp cận cụ thể các
nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đề tài đã dựa vào những khái quát của tác
giả Trần Thị Minh Thi những hoạt động chăm sóc NCT tại một số quốc gia, cụ thể
như sau:
Tại Hàn Quốc: triển khai hệ thống bảo hiểm chăm sóc suốt đời (long – term
care insurance). Ở Hàn Quốc có một hình thức chăm sóc, trợ giúp NCT đó là “ Bảo
hiểm chăm sóc trọn đời” cụ thể như sau: Dành cho NCT từ 65 tuổi trở lên phải nhờ
sự trợ giúp trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Bao gồm dịch vụ tại nhà, tại cơ sở
chăm sóc, và trợ cấp tiền mặt ( giúp NCT và gia đình chi phí chăm sóc y tế tại
những vùng xa ít có các dịch vụ chăm sóc suốt đời; và giúp NCT không thể /không
phù hợp sinh hoạt ở các cơ sở chăm sóc suốt đời do các điều kiện sức khỏe, tinh
thần hay tâm lý; chi phí một phần cho các dịch vụ chăm sóc không đăng ký tại nhà
hay tại các cơ sở. Các cơ sở chăm sóc bao gồm: trung tâm chăm sóc suốt đời, y tá
tại nhà, nhà dưỡng lão. Các dịch vụ bao gồm: y tá chăm sóc tại nhà, chăm sóc ngày
và đêm,chăm sóc ngắn hạn, dịch vụ chăm sóc tại nhà hoặc di động).
Tại Thái Lan: Theo truyền thống, chăm sóc NCT là trách nhiệm của gia
đình. Hiện nay, gia đình vẫn đóng vai trò chính. Người chăm sóc chính là thành
viên gia đình, chủ yếu là phụ nữ. Cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng, cộng
đồng bao gồm hàng xóm, bạn bè, các hội tự nguyện, các câu lạc bộ tự nguyện, các
mạng lưới theo nhóm hay vùng dân cư, các tổ chức tình nguyện và phi lợi nhuận.

8


Dịch vụ công của Nhà nước: nhà ở công của chính phủ cho người cao tuổi (National
Government Admnistrated Public Elderly Home), cho người cao tuổi cô đơn không
nơi nương tựa. Nhà ở công của địa phương. Hệ thống miễn thuế thu nhập cá nhân:

ngôi nhà tập trung đặc biệt.
Tại Hồng Kông: các dịch vụ phúc lợi cung cấp cho người cao tuổi ở Hồng
Kông đều được điều hành bởi các tổ chức phi chính phủ với sự tài trợ phần lớn từ
chính phủ. Chính phủ điều hành một kế hoạch an sinh xã hội, cung cấp khoản trợ
cấp cho những người từ 60 tuổi trở lên và sự giúp đỡ cộng đồng cho những người
cao tuổi thuộc diện nghèo.
Ở các nước phát triển: già hóa dân số diễn ra từ từ, nhưng các nước này
cũng đã vấp phải những thách thức nảy sinh từ mối quan hệ giữa quy mô dân số già
ngày càng tăng, quy mô dân số lao động giảm dần tạo thêm áp lực cho quốc gia và
người lao động khi phải cân đối nguồn lực cho tiết kiệm bảo hiểm tuổi già thông
qua hệ thống an sinh xã hội. Các nước đang phát triển cũng phải đương đầu với hai
thách thức: đầu tư cho phát triển và thích ứng với sự già hóa dân số. Mối quan tâm
hàng đầu ở các nước phát triển về sức khỏe là phòng ngừa và điều trị các bệnh
không lây nhiễm, chủ yếu là các bệnh mãn tính như ( tim mạch, ung thư, rối loạn
chuyển hóa, Alzheimer…trong đó các bệnh mãn tính trở thành nguyên nhân hàng
đầu ngây bệnh tật và giảm chất lượng cuộc sống). Trong khi các quốc gia đang phát
triển vừa phải đối mặt với các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng và cả sự gia tăng
nhanh chóng của các bệnh không lây truyền trong điều kiện hệ thống chăm sóc sức
khỏe còn thiếu thốn.
Ở các nước có thu nhập trung bình và thấp: hàng triệu người cao tuổi
sống dưới mức nghèo đói, phần lớn họ không có nghỉ hưu. Họ không có cả lương
hưu tối thiểu, phải làm việc để đảm bảo cuộc sống và thường làm những công việc
không an toàn, được trả công thấp đến khi họ không thể làm việc được nữa hoặc
bệnh tật, ốm đau. Những người không làm việc được phải sống trong cảnh bần
cùng. Khủng hoảng kinh tế thế giới, dẫn đến sự gia tăng giá cả sinh hoạt, thức ăn,
giao thông và nhà ở…làm tồi tệ thêm cuộc sống của họ. Các hộ gia đình nghèo ảnh
hưởng nhiều nhất đến người già và trẻ em trong gia đình. Những người cao tuổi
trong gia đình phải chăm sóc trẻ em mà cha mẹ các em di cư ra thành thị kiếm tiền.

10



2.2. Những nghiên cứu về đời sống của người cao tuổi tại Việt Nam
Có rất nhiều tài liệu về NCT. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn chỉ nói
đến việc trợ giúp xã hội cho NCT và việc tiếp cận các dịch vụ, các chính sách Nhà
nước của NCT. Chủ yếu các tài liệu nói lên vấn đề sau: bức tranh tổng quát về NCT,
thực trạng chăm sóc NCT, thực trạng trợ giúp NCT, những nhu cầu mong muốn của
NCT, các giải pháp nhằm trợ giúp xã hội cho NCT
Theo kết quả điều tra của Bộ lao động – Thương binh và xã hội đã cho ra
rằng số NCT trong độ tuổi từ 60 – 70 tuổi còn phải lao động để kiếm sống, chiếm
tỷ lệ rất cao. trong số đó nhiều NCT còn phải đóng vai trò chính trong kinh tế gia
đình ( Bế Quỳnh Nga, 2001). Đa số các cụ phải lao động kinh tế ở khu vực nông
thôn, cuộc sống khó khăn, thiếu thốn về cái ăn, cái mặc, đời sống tinh thần không
được thỏa mãn (Báo cáo kết quả điều tra cơ bản điều kiện sống của NCT ở Việt
Nam, 1999).
Theo số liệu của cuộc điều tra, những người cao tuổi không tham gia hoạt
động kinh tế chỉ có 4,32% là nghỉ ngơi, tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 11,27% và
nông thôn là 1,13%. Có tới 51,62% NCT còn giúp đỡ việc nhà; 15,82% trông nom,
dạy dỗ con cháu học hành ( Kỷ yếu hội thảo về người cao tuổi, 1998).
Ở Việt Nam NCT tập trung chủ yếu ở nông thôn, làm nông nghiệp, lao động
đơn giản, nhiều người cao tuổi còn phải tiếp tục lao động kiếm sống. Do hậu quả
của chế độ cũ, chiến tranh nên hầu hết trình độ học vấn của NCT rất thấp, NCT có
tỷ lệ thất học cao, chỉ có 0.21% có trình độ trung học trở lên, những hiểu biết về
ngành y học thường thức, các biện pháp luyện tập, dự phòng và điều trị các bệnh
thông thương của NCT còn tất nhiều hạn chế. Việc chăm sóc NCT tại các gia đình
đang gặp nhiều khó khăn do điều kiện kinh tế, công việc của con cái, quan hệ
truyền thống giữa các thế hệ đang có sự sa sút ( Mai Hoàng Lan, 2007).
Theo Lê Văn Khảm trong nghiên cứu “ Vấn đề người cao tuổi ở Việt Nam
hiện nay ; Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7 (80)- 2014” đã chỉ ra rằng,
hiện nay có trên 59% số người từ 60 – 69 tuổi và khoảng 41% người trên 70 tuổi

em với Viện nghiên cứu Truyền thông và phát triển năm 2008 – 2009. Đây là tập
hợp nghiên cứu được thực hiện trên 3 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ
Chí Minh, với các nhóm đối tượng như sau: nhóm người cung cấp dịch vụ chăm sóc
người cao tuổi, người sử dụng dịch vụ chăm sóc NCT, cán bộ địa phương và cộng

13


đồng. Bên cạnh đó Viện Nghiên cứu Truyền thông và Phát triển còn tiếp tục triển
khai nghiên cứu sâu hơn thông qua quá trình khảo sát các mô hình chăm sóc NCT
tại Huế và Hà Nội, trong đó đặc biệt đã có tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi và
tọa đàm với đại diện các nhóm xã hội khác nhau, nhằm hoàn thành tốt nhất cho
cuộc nghiên cứu. Theo các tác giả của công trình nghiên cứu, NCT không còn là
một vấn đề mới, tuy nhiên trong bối cảnh toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu văn hóa
thì quan tâm và nghiên cứu NCT là một nhu cầu không thể thiếu. Đặc biệt trong
những năm gần đây nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc NCT được hình thành và hoạt
động, đặc biệt là các mô hình tư nhân, liên kết…đang phát triển khá mạnh, tuy
nhiên chưa có sự đầu tư và chưa có sự quan tâm của các cấp.
Trong Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc Người già thích ứng với
sự thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam ( 2009) cho thấy: Nhu cầu chăm sóc y tế và xã
hội của NCT Việt Nam còn có những đặc trưng rất hạn chế. Ví dụ: tỷ lệ người cao
tuổi sống độc thân tương đối cao ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam – 14,2% dẫn đến sự
hạn chế cả về hỗ trợ kinh tế, tinh thần từ phía gia đình, người thân và không có
người trợ giúp trong sinh hoạt hằng ngày. Về tình trạng kinh tế, thu nhập của NCT
còn rất thấp, hầu như không vó nguồn tiết kiệm tích lũy từ lúc còn trẻ. Thực trạng
này còn đặc biệt khó khăn hơn đó là ở khu vực nông thôn và miền núi.
Năm 2011, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng trung
ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, Viện nghiên cứu Y – Xã hội học và Công ty
Nghiên cứu và tư vấn Đông Dương tổ chức “Điều tra quốc gia về người cao tuổi
Việt Nam”, đây là một phần của dự án “ Tăng cường các quyền của Người cao tuổi

Tiến sĩ Hoàng Mộc Lan (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) có
bài viết “ Đời sống tình thần của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” đứng trên
gốc độ phân tích của một nhà tâm lý học. Theo tác giả, đối với NCT ở Việt Nam
hiện nay vấn đề được cho là đáng quan tâm ở khía cạnh đời sống tinh thần là: việc
làm, thu nhập và lao động; sức khỏe và nhu cầu được chăm sóc sức khỏe; quan hệ
xã hội và nhu cầu được quan tâm, tôn trọng. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng phân
tích về thu nhập của của NCT neo đơn không nơi nương tựa. Tác giả cho biết,
những nguồn thu nhập của đối tượng này thường thu nhập tư việc bán hàng rong,
hưởng các chế độ chính sách, trợ cấp cho người già hoặc từ chính quyền địa
phương, các cơ sở, các tổ chức xã hội. Phân bố NCT không đồng đều, về nguyện

15


vọng lớn nhất của NCT là được quan tâm, chăm sóc. Bên cạnh đó, bài viết còn phân
tích về mặt sức khỏe của người cao tuổi, những chứng bệnh NCT hay mắc phải. Đề
cập đến mối quan hệ xã hội và nhu cầu quan tâm, tôn trọng. Tác giả đã làm những
khảo sát tại các vùng thuộc các tỉnh phía Bắc và rút ra kết luận: “ Hoạt động xã hội
của NCT hiện nay co lại trong phạm vi gia đình, thân tộc nhiều hơn. Các hoạt động
xã hội rộng lớn, mang tính cộng đồng làng xã còn rất nghèo nàn. Nếu tình trạng này
kéo dài sẽ dẫn đến lạc hậu về thời cuộc và cô đơn trong cuộc sống của NCT.”.
Công trình “ Nhu cầu trợ giúp của người cao tuổi tại cộng đồng” (Hoàng
Mai Hương, 2013) với địa bàn nghiên cứu tại quận Hoàng Mai và Đống Đa, Hà Nội
đi sâu vào vấn đề nhu cầu của người cao tuổi trong cuộc sống hàng ngày theo
hướng tiếp cận quyền sống, lợi ích của con người, truyền thống tôn trọng người già
của dân tộc và hệ thống lý thuyết nhu cầu của Maslow. Nghiên cứu đi sâu tìm hiểu 5
nhu cầu chính trong rất nhiều các nhu cầu khác nhau của NCT. Những phát hiện
trong nghiên cứu cho thấy, về cơ bản, người cao tuổi đều có nhu cầu về chăm sóc
sức khỏe, nhu cầu tình cảm, nhu cầu vật chất, nhu cầu giao lưu và mở rộng hiểu
biết. Trong đó nhu cầu chăm sóc sức khỏe và tình cảm là hai nhu cầu quan trọng

xã hội đối với người cao tuổi tại Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tác giả
mong muốn với nghiên cứu của mình, sẽ giúp làm rõ hơn nữa các hoạt động trợ
giúp xã hội đối với NCT trên địa bàn thành phố mà cụ thể là tại địa phương tác giả
sinh sống. Từ đó, phân tích những mong muốn của NCT sau khi được thu hưởng
các hoạt động trợ giúp từ phía xã hội.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
2.4. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết xã hội học trong việc giải thích
những nhu cầu cơ bản cần đáp ứng của NCT; giải thích những hệ thống hỗ trợ NCT
trong gia đình, cộng đồng và xã hội, đồng thời chỉ ra được những nhận thức của
người làm công tác chính sách đối với NCT.
Luận văn nghiên cứu những hoạt động trợ giúp chính sách đối với người cao
tuổi tại cộng đồng. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu học tập cho
những người nghiên cứu lĩnh vực người cao tuổi. Những thông tin thu thập được từ
nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu tham khảo trong quá trình phân tích các khía cạnh về
lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi.

17


Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo đóng góp
cho khoa, cho trường nhằm phục vụ các công trình nghiên cứu sau này trong lĩnh
vực NCT ở khía cạnh trợ giúp xã hội.
2.5. Ý nghĩa thực tiễn
Với tình hình hiện nay, xu hướng già hóa dân số đang ngày càng gia tăng.
Người cao tuổi chính là kho kinh nghiệm quý báu, nguồn tri thức vô giá, là sự cống
hiến không mệt mỏi cho đất nước từ bao đời nay. Chính vì thế, cần quan tâm đến
NCT, chăm sóc, động viên NCT để họ có một cuộc sống an sinh, an toàn nhất. Giúp
họ có khả năng và điều kiện phát huy hết năng lực, kinh nghiệm vốn quý của họ.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp thêm những thông tin về NCT,

Người cao tuổi sống trên địa bàn nghiên cứu
Chính quyền địa phương xã Vĩnh Ngọc
Cán bộ chính sách xã hội đối với NCT xã Vĩnh Ngọc.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: 1/2017 – 8/2017
Không gian: Địa bàn xã Vĩnh Ngọc, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Giớ hạn nội dung nghiên cứu: đề tài nghiên cứu việc trợ giúp xã hội đối với
NCT tại xã Vĩnh Ngọc, trong đó bao gồm các lĩnh vực trợ giúp xã hội chính thức và
trợ giúp xã hội phi chính thức, bao gồm các nội dung sau:
Trợ giúp về chăm sóc sức khỏe
Trợ giúp về vật chất: Việc làm, thu nhập
Trợ giúp về sinh hoạt hàng ngày
Trợ giúp về tinh thần, vui chơi, giải trí
Trợ giúp về cung cấp thông tin, kiến thức
Những nộ dung này được khảo sát và tìm hiểu dựa trên lý thuyết bậc thang 5
nhu cầu của Maslow, quá trình nghiên cứu sẽ xem xét mức độ đáp ứng các nhu cầu
trong thang bậc nhu cầu từ phía cộng đồng, xã hội, các tổ chức, cá nhân, chính
quyền địa phương đối với NCT như thế nào.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc có những đặc điểm chung gì?

19


Những yếu tố nào nào tác động đến hoạt động trợ giúp xã hội đối với người
cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc?
Công tác trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc được diễn ra như thế nào?
Hiện tại Người cao tuổi tại xã Vĩnh Ngọc có những mong muốn gì?
Đã có những biện pháp gì để khắc phục những khó khăn hạn chế trong công
tác trợ giúp xã hội đối với NCT tại xã Vĩnh Ngọc?

có hệ thống, lo gíc và thuận tiện trong việc vận dụng nghiên cứu.
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu từ khi bắt
đầu nghiên cứu cho đến kết thúc cuộc nghiên cứu. Tác đi phân tích các tài liệu của
người đi trước nhằm tiếp thu những kinh nghiệm của họ vận dụng vào luận văn. Sử
dụng những tài liệu làm thông tin cho đề tài của tác giả được đầy đủ và hoàn thiện
hơn. Ngoài ra, những tài liệu cần phân tích khi sử dụng phương pháp này còn bao
gồm: Báo cáo về tình hình người cao tuổi trên địa bàn xã, các thông tin phỏng vấn
được từ khách thể nghiên cứu, các kết quả thu được từ bảng điều tra khách thể
nghiên cứu, những thông tin thông qua quan sát, vãng gia, thăm hỏi. Những thông
tin này sẽ được phân tích, cụ thể hóa số liệu để chứng mình cho các luận điểm trong
nghiên cứu.
Phương pháp này hết sức quan trọng trong nghiên cứu, việc thu thập số liệu
chưa có tính quyết định, mà điều cốt lõi chính là các số liệu đó phản ánh điều gì.
Chính việc phân tích tài liệu sẽ cung cấp những cơ sở và luận cứ khoa học cho
nghiên cứu đang tiến hành.
 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tập trung thu thập những thông tin đa
chiều và sâu hơn về vấn đề nghiên cứu ở khách thể nghiên cứu, từ đó hiểu sâu hơn
về bản chất của đối tượng được nghiên cứu nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Đề tài đã tiến hành 15 cuộc vấn sâu đối với người cao tuổi và chính quyền
địa phương. Trước hết tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 10 người cao tuổi ( độ tuổi từ
60 tuổi trở lên) trên địa bàn xã Vĩnh Ngọc. Trong đó, có 03 người từ độ tuổi 60-70;
03 người từ độ tuổi 70-80; và 04 người từ độ tuổi trên 80. Các đối tượng phỏng vấn

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status