BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
---------***---------
LÊ THỊ THANH HỒNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH
TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ NGỌC THÚY
HÀ NỘI – 2017
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học và các thầy cô giáo trong
Học viện Quản lý Giáo dục đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn toàn thể cán bộ, giáo viên và các em học
sinh trong các trường THPT huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội đã quan tâm,
giúp đỡ, tạo điều kiện, cung cấp thông tin và tham gia nhiều ý kiến quý báu cho
tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này.
Trân trọng gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân, những người
CNTT
Công nghệ thông tin
CSVC
Cơ sở vật chất
GD
Giáo dục
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
HĐDH
Hoạt động dạy học
HS, HSG
Học sinh, Học sinh giỏi
NT
Nhà trường
NXB
TC&NL
Tổ chức và nguồn lực
THCS, THPT
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông
TL&VL
Tài lực và vật lực
TNKQ
Trắc nghiệm khách quan
TTGDTX
Trung tâm giáo dục thường xuyên
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn................................................6
7.3 Nhóm phương pháp thống kê...................................................................6
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.......................................................6
Chương 1..............................................................................................................7
Bảng 2.4. Đội ngũ và trình độ đào tạo của giáo viên tiếng Anh trong các
trường THPT huyện Thường Tín năm học 2015 - 2016................................47
Bảng 2.5. Kết quả xếp loại của học sinh trong các trường THPT huyện
Thường Tín năm học 2015 - 2016....................................................................47
Bảng 2.6. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học..............................48
Bảng 2.7. Đánh giá về mức độ thực hiện các kiến thức và kỹ năng dạy tiếng
Anh trong nhà trường.......................................................................................52
Bảng 2.8. Đánh giá về mức độ thực hiện phương pháp dạy..........................54
tiếng Anh trong nhà trường..............................................................................54
Bảng 2.9. Đánh giá về mức độ sử dụng phương tiện dạy...............................55
tiếng Anh trong nhà trường..............................................................................55
Bảng 2.10. Đánh giá về số lượng và chất lượng CSVC, trang thiết bị dạy
tiếng Anh trong nhà trường..............................................................................56
Bảng 2.11. Thực trạng về quản lý nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học
tiếng Anh của nhà trường.................................................................................60
Bảng 2.13. Thực trạng về sự cần thiết và mức độ thực hiện công tác quản lý
CSVC, trang thiết bị dạy học tiếng Anh của nhà trường..............................64
Bảng 2.14. Thực trạng công tác quản lý môi trường dạy học.......................68
tiếng Anh trong nhà trường..............................................................................68
3.2.6 Phát triển chương trình theo hướng tăng cường các chương trình mở và
học liệu dạy học mở, nâng cao năng lực thực hành......................................91
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý....................................................92
Bảng 3.1 Bảng khảo sát mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện
pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong các trường THPT
huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội............................................................93
tiếp cũng như trong tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Đối
với Việt Nam, một nước đang đứng trước thời đại phát triển, mở rộng cánh
cửa toàn cầu hoá. Đặc biệt nước ta đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại
2
thế giới WTO, chúng ta đang đứng trước những cơ hội rất lớn để đưa đất
nước hội nhập và phát triển bền vững thì việc học tiếng Anh là rất quan trọng.
Với các em học sinh, sinh viên, những thế hệ tương lai của đất nước, việc học
tiếng Anh lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Thực tế cho thấy biết ngoại ngữ không những là yêu cầu tất yếu của người
lao động có kỹ thuật cao, mà biết ngoại ngữ còn là một năng lực cần thiết đối
với người Việt Nam hiện đại. Thông thạo ngoại ngữ đang dần trở thành một
kỹ năng không thể thiếu trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập như hiện nay.
Khả năng ngoại ngữ là tiêu chuẩn hàng đầu để các công ty lớn tuyển nhân
viên cũng như cân nhắc vào những vị trí quản lý. Biết một ngôn ngữ khác,
đặc biệt là tiếng Anh, con người có thể hiểu biết sâu sắc hơn về nền văn minh
thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu và phát triển tiềm năng của chính
mình, có tầm nhìn và khả năng thích ứng với cuộc sống.
Nhận thức được điều đó, hệ thống giáo dục của Việt Nam đã đưa tiếng Anh
là môn học chính thức trên ghế nhà trường từ những năm tiểu học. Tiếng Anh
cũng là môn thi tốt nghiệp bắt buộc cuối cấp, là điều kiện cần để các em tiến
bước đến các cấp học cao hơn và chọn nghề nghiệp cho tương lai sau này. Theo
Quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại
ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” tại địa phương, cơ
sở giáo dục đã chỉ ra rằng: “...Đổi mới toàn diện việc dạy học ngoại ngữ trong hệ
thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy học ngoại ngữ mới ở các
cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về
trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số
tính hình thức và chưa đồng bộ về các giải pháp; việc đầu tư và khai thác
trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy ngoại ngữ còn hạn chế, nghèo nàn ....
Một yếu tố khác tác động đến việc dạy học tiếng Anh ở các trường THPT
hiện nay là sự thay đổi về quy chế thi tốt nghiệp của Bộ GD&ĐT nhằm tạo ra
sự thay đổi trong việc dạy học và kiểm tra đánh giá thực chất việc học tiếng
Anh của học sinh. Hơn nữa, so với sự phát triển chung của toàn thành phố Hà
Nội, chất lượng đào tạo tiếng Anh ở các trường THPT trên địa bàn huyện
Thường Tín còn yếu kém, nằm trong vùng tuyển sinh chậm phát triển về kinh
4
tế, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhận thức và sự đầu tư của phụ
huynh cho việc học tập của con cái chưa có. Nhiều năm liền, trường nằm
trong tốp trường có điểm tuyển sinh đầu vào thấp. Không những thế học sinh
nhà trường có ý thức học chưa tốt. Dẫn đến nhận thức về tầm quan trọng của
việc học nói chung, học tiếng Anh nói riêng, còn rất hạn chế. Cơ sở vật chất
nhà trường đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đáp ứng đủ yêu cầu của việc
học ngoại ngữ. Đa số học sinh học tiếng Anh là do bắt buộc, đối phó để thi tốt
nghiệp. Do đó, chất lượng của môn tiếng Anh rất thấp. Trong tình hình mới
hiện nay, khi thực hiện chủ trương của Bộ GD&ĐT về cải cách thi tốt nghiệp,
việc dạy học môn tiếng Anh tại các trường THPT huyện Thường Tín còn gặp
nhiều khó khăn và bất cập. Do đó, việc quản lý tốt hoạt động dạy học môn
tiếng Anh là một vấn đề cấp bách hiện nay.
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh ở các trường THPT
huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội việc nghiên cứu và hoàn thiện một số
biện pháp quản lý dạy học môn tiếng Anh làm sao cho phù hợp, có thể hạn
chế được những yếu kém còn tồn tại từ công tác quản lý, đến việc nâng cao
chất lượng dạy học môn tiếng Anh là việc làm hết sức cần thiết đối với các
nhà quản lý giáo dục và các thầy cô giáo dạy tiếng Anh.
phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh trong các nhà trường THPT
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học
môn tiếng Anh của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Thường Tín, Thành
phố Hà Nội.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phối hợp
một số phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận + Để phân tích, tổng hợp, hệ
thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, xác định các khái niệm như: Quản lý,
Quản lý dạy học và quản lý dạy học tiếng Anh..., tổng hợp phân tích các tài
liệu liên quan đến dạy học.
6
+ Đọc tìm hiểu các văn bản, chính sách chỉ đạo quản lý hoạt động dạy học
môn tiếng Anh.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp quan sát:
Quan sát việc chỉ đạo, điều hành hoạt động dạy học, việc triển khai thực hiện
kế hoạch hoạt động dạy học, công tác tự đánh giá hoạt động dạy học, sự quan
tâm của cấp lãnh đạo tới việc quản lý hoạt động dạy học của cơ sở giáo dục.
* Phương pháp điều tra khảo sát:
Xây dựng các mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin quản lý hoạt
động dạy học, công tác tự đánh giá hoạt động dạy học.
* Phương pháp chuyên gia:
Thu thập các ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao, có nhiều
kinh nghiệm về các vấn đề có liên quan đến quản lý hoạt động dạy học môn
thiết bị dạy học,... Dạy và học tiếng Anh có hiệu quả cũng dựa vào nhiều yếu
tố: năng khiếu, sự kiên nhẫn, sự đam mê, phương pháp,... Nên nhiều khi,
trong lớp học, ai cũng học nhưng thành công thì rất ít.
Kết quả nghiên cứu này có thể được áp dụng cho công tác quản lý dạy học
môn tiếng Anh trong các trường THPT huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh
trong trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong
các trường THPT huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong các
trường THPT huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TRONG TRƯỜNG THPT
8
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, quản lý và quản lý hoạt động dạy học đã được đề
cập từ lâu. Lúc đầu cơ sở lý luận về dạy học, quản lý hoạt động dạy học chỉ
thể hiện dưới dạng một số ý tưởng của những nhà triết học, cũng như các
nhà giáo dục, sau đó phát triển dần dần và hoàn thiện hơn.
Trong lĩnh vực giáo dục, thời gian gần đây các tài liệu nghiên cứu về
giáo dục và dạy học ở nước ngoài và trong nước thường đề cập đến là
“dạy học lấy giáo viên làm trung tâm” chuyển thành “dạy học lấy học sinh
học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục
Việt Nam”[4]. Trong bối cảnh đó, giáo dục phải được đổi mới mạnh mẽ, phải
không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo ở các cấp học. Việc nâng cao chất
lượng giáo dục trong nhà trường không chỉ phụ thuộc vào chương trình giảng
dạy như sách giáo khoa, sách tham khảo, các điều kiện vật chất của nhà
trường... mà còn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo
viên của nhà trường. Dạy học là hoạt động trọng tâm của nhà trường, đội ngũ
giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng dạy học. Nhiệm vụ của người
giáo viên là giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nội dung, chương trình giáo
dục để giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn và hình thành những tình cảm đạo đức tốt đẹp.
Việt Nam ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới,
thời đại của công nghệ thông tin, hơn bao giờ hết đều cần đến nguồn nhân lực
con người. Nguồn nhân lực này phải trải qua quá trình đào tạo của nền giáo
dục hiện đại có chất lượng. Vì vậy hoạt động giáo dục luôn phát triển, tiến bộ
và không ngừng đổi mới góp phần vào sự nghiệp phát triển đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để đáp ứng được yêu cầu này của xã hội,
giáo dục lại càng có vai trò quan trọng và cấp thiết hơn. Chính vì vậy trong
Luật Giáo dục năm 2005 – điều 7 có đề cập về vấn đề dạy học ngoại ngữ:
“Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng
10
phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà
trường cũng như các cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được học
liên tục và có hiệu quả.”[18]
Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, giáo dục Việt Nam đang dần
hoàn thiện phát triển và tiếp cận với thế giới. Trong quá trình đó đã xuất hiện
nhiều nhà nghiên cứu quản lý giáo dục với các công trình được viết dưới dạng
và tiếp tục đề xuất một số giải pháp khả thi mới để việc quản lý hoạt động dạy
học môn Tiếng Anh trong các trường THPT huyện Thường Tín, thành phố Hà
Nội đạt kết quả cao trong giai đoạn hiện nay.
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý, chức năng quản lý
* Quản lý (QL) là một hoạt động quan trọng, gắn liền với quá trình phát
triển của xã hội loài người. Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã
xuất hiện một dạng lao động đặc biệt đó là tổ chức, chỉ đạo, điều khiển, kiểm
tra các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động đặc
biệt này còn được gọi là hoạt động quản lý.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QL. Theo những định nghĩa kinh
điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể QL (người quản lý) đến khách thể QL (người bị quản lý) trong một
tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Theo F. W Taylor (1856 – 1915) - cha đẻ của thuyết QL khoa học cho
rằng: QL là biết chính xác điều muốn người khác làm, sau đó hiểu được rằng
họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.
Theo C. Marx, QL là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao
động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông
qua hoạt động của con người và thông qua QL (con người điều khiển con
người). Ông cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào mà tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều cần đến một sự chỉ
đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Một nhạc sĩ độc tấu vĩ cầm tự mình
điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”[3].
Theo tác giả Trần Kiểm: QL là phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho
mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
12
13
Lập kế hoạch
Tổ chức
Thông tin
Chỉ đạo
Kiểm tra
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
- Lập kế hoạch: Là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và
quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Khi tiến hành
các chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành nhiệm vụ là xác định
đúng các mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quyết định được các biện
pháp có tính khả thi. Chức năng này là cơ sở để huy động tối đa các nguồn
lực cho việc thực hiện mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá
trình thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức đơn vị và từng cá nhân.
- Tổ chức: Là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo cách thức
nhất định để đảm bảo thực hiện tốt nhất các mục tiêu đã đề ra. Chức năng
này có vai trò thực hiện hóa các mục tiêu của tổ chức và đặc biệt là chức
năng tổ chức có khả năng tạo ra sức mạnh mới của tổ chức, cơ quan, đơn vị
thậm chí của cả hệ thống nếu việc phân phối, sắp xếp nguồn nhân lực được
khoa học và hợp lý.
- Chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của
những người khác nhằm đạt tới mục tiêu với chất lượng cao. Chức năng chỉ
đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt
được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả. Thực chất của chức năng chỉ
đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người
khác biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà
rằng: “QLGD là hệ thống những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, có quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ
giáo viên, nhân viên và học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội
trong và ngoài trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu
giáo dục của nhà trường”.[26]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hoạt động đa cấp, bao
hàm cả quản lý hệ thống giáo dục, quản lý các bộ phận của nó, đặc biệt là
trường học. QLGD (nói riêng là quản lý trường học) là hệ thống những tác
15
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái mới về chất”.[14]
Tác giả Đặng Quốc Bảo khẳng định: “QLGD là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ
theo yêu cầu phát triển xã hội”.[6]
* Quản lý nhà trường:
Quản lý nhà trường (QLNT) là một bộ phận trong quản lý giáo dục.
Trường học (cơ sở giáo dục) chính là nơi trực tiếp làm công tác giáo dục, có
nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định. Chất lượng
giáo dục đạt được là do thành tích đích thực của nhà trường (NT) cùng với
hệ thống QLGD.
Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra định nghĩa về QLNT là: “QLNT là thực
hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh (HS)”.[16]
GD&ĐT. Tiến hành kiểm tra trong và ngoài trường nhằm đánh giá khách
quan, hiệu quả chất lượng giáo dục của nhà trường.
Trong QLNT có những đối tượng QL cụ thể như:
- Quản lý nhân sự (con người CBGV-NV và HS)
- Quản lý hoạt động chuyên môn (chương trình, hoạt động dạy và học)
- Quản lý hành chính và tài chính
- Quản lý cơ sở vật chất (CSVC), cơ sở hạ tầng kỹ thuật
- Quản lý các quan hệ giáo dục trong và ngoài NT (các mối quan hệ giữa
gia đình và cộng đồng địa phương)
- Quản lý môi trường (tự nhiên, văn hóa, xã hội)
Trong mỗi một nội dung QL luôn có hai mặt gắn liền với nhau là QL
hành chính sự vụ (Administration) và QL chất lượng (Quality Management).
Bắt nguồn từ những phân tích ở trên, tác giả Đặng Thành Hưng cho
rằng: “QL trường học là QL giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể QL là
các cấp chính quyền và chuyên môn trên trường, các nhà QL trong trường do
hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng QL chính là nhà trường như một tổ chức
chuyên môn nghiệp vụ; nguồn lực QL là con người, CSVC kỹ thuật tài
17
chính, đầu tư khoa học công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy
động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện
có”.[7]
1.2.3 Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học
* Hoạt động dạy học: Như chúng ta đã biết, bản chất của dạy học chính là
hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Dạy là quá trình hoạt động của
thầy, thông qua sự truyền đạt nội dung mà chỉ đạo (tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra)
hoạt động học của trò nhằm giúp trò lĩnh hội những tri thức cần thiết. Học là quá
trình con người lĩnh hội kiến thức, kỹ năng kỹ xảo và những phương thức hành
- Trang bị kiến thức: Chọn lọc trong nguồn đa dạng các tri thức nhân loại
(mỗi ngày một nhiều và ở tầm cao hơn) những tri thức vừa đảm bảo tính lý
luận và thực tiễn để tạo cho người học có cơ sở nghiên cứu và khám phá các
quy luật của thiên nhiên và xã hội. Nói cách khác, nội dung dạy học phải lựa
chọn để người học đạt được các mục tiêu vừa biết căn nguyên của tri thức, vừa
làm việc được, vừa chung sống được với nhau và vừa thực sự làm người.
- Rèn luyện kỹ năng: Làm cho người học thành thạo trong việc phát hiện
vấn đề, lập luận để lý giải nguồn gốc vấn đề, giải quyết sáng tạo và hiệu quả
vấn đề, đồng thời ứng dụng kết quả nhận biết vấn đề vào xử lí các tình
huống cụ thể của cuộc sống.
- Hình thành thái độ: Yêu cầu mọi người học sau khi đã được trang bị
không gò ép các tri thức nhân loại, phải nhận biết được cái đúng, cái sai, cái
đã biết, cái chưa biết cần phải khám phá, cái cần cho bản thân, cho cộng
đồng và cho cả xã hội. Từ đó tự định hướng được cho bản thân những lý
tưởng chân chính và hành động cần thiết để thực hiện lý tưởng của mình.
* Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học (HĐDH) chính là các biện pháp tác động của
chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS,... nhằm huy động và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà
trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường theo yêu cầu trong
năm học.
Quản lý HĐDH chính là sự tác động lên đội ngũ GV, HS qua việc thực
thi các chức năng quản lý như: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra,
điều chỉnh nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục. Trong đó người thầy
đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt HS đi tìm chân lý. Người học chủ động tiếp
cận chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu. Đặc biệt vai trò người học