Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các trường THCS huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận
văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố.
Tác gia

Nguyễn Thị Duyên


ii
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện đề tài: “Quan lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại
Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thanh Hóa”, tác giả xin trân trọng
cảm ơn Khoa đào tạo Sau đại học- Học viện quản lý giáo dục, các thầy giáo cô
giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành khoá học.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Nhà giáo,
phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Thành Vinh- Người thầy rất tận tâm, tận tình, chu
đáo và nghiêm túc trong việc hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt cả quá trình
nghiên cứu hoàn thành Luận văn.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Cấp ủy, Ban giám đốc
Trung tâm và tập thể cán bộ, giảng viên, giáo viên phòng ngoại ngữ-tin học và
các phòng chức năng khác trong Trung tâm đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện để tác giả hoàn thành Luận văn.
Cuối cùng, xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành tốt
Luận văn này.
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song chắc chắn Luận văn cũng không tránh
khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô
giáo và bạn bè, đồng nghiệp.
Trân trọng cam ơn !

Cán bộ quản lý
Cán bộ nhân viên
Cơ sở vật chất
Giáo dục thường xuyên
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Trung học phổ thông
Chủ thể quản lý
Trung học cơ sở
Giáo dục và đào tạo
Giáo viên
Thiết bị dạy học
Hoạt động dạy học
Học viên
Phương tiện dạy học
Phương pháp dạy học
Quản lý giáo dục


v
DANH MỤC BẢNG
Trang


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự
phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự
cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục

trình đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục thường xuyên phải đảm bảo
yêu cầu nội dung, chất lượng.”
Nhận thức rõ tầm quan trọng của ngoại ngữ, đặc biệt ngôn ngữ Tiếng
Anh là điều kiện cần thiết, là chìa khóa mở ra thế giới tri thức, là công cụ để
thu nhận thông tin, là phương tiện phát triển các mối quan hệ quốc tế. Trong
những năm gần đây, vấn đề dạy và học Tiếng Anh đã được Ban lãnh đạo
Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa quan tâm, chỉ đạo sát sao nhằm nâng cao
chất lượng và cải tiến để đạt mục tiêu “Người học sử dụng được Tiếng Anh
như một công cụ trong nghiên cứu cũng như trong công tác, trong cuộc sống
hàng ngày”. Tuy nhiên vẫn chưa thực sự chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra cụ
thể: Phần lớn giáo viên còn chậm đổi mới phương pháp giảng dạy, còn nặng
về truyền thụ kiến thức đơn thuần và sử dụng phương pháp dạy học theo kiểu
truyền thống; chương trình và giáo trình chưa cập nhật; việc đầu tư khai thác
trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy còn nhiều hạn chế; công tác quản lý
hoạt động dạy học chưa được quan tâm thích đáng, việc kiểm tra, đánh giá
chất lượng bộ môn chưa thực hiện đầy đủ và khoa học; một số bộ phận học
viên còn chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của ngoại ngữ đối với nghề
nghiệp, công việc của họ nên tình trạng học viên thiếu kiến thức Tiếng Anh
thực hành chiếm tỷ lệ cao, sau khi học xong họ không vận dụng được ngôn
ngữ vào trong công việc và trong giao tiếp hàng ngày. Do đó, để nâng cao
chất lượng dạy và học Tiếng Anh, ngoài việc xây dựng mục tiêu, đổi mới
phương pháp dạy học, nội dung dạy học, phương tiện dạy học thì điều cần
thiết nhất là phải đổi mới quản lý hoạt động dạy và học sao cho chất lượng
đào tạo được nâng cao và có sản phẩm giáo dục đào tạo đáp ứng được yêu cầu
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.


3

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả xin chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý

- Phương pháp điều tra: Thông quan phiếu điều tra, khảo sát thực trạng
các biện pháp quản lý dạy học gồm các câu hỏi đóng mở về vấn đề quản lý quá
trình dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Đối tượng khảo sát là
học viên, giáo viên, CBQL Trung tâm từ bộ môn đến ban giám đốc.
- Phương pháp phỏng vấn: Thông qua đàm thoại, phỏng vấn thu thập
những thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của đề tài. Nhóm đối tượng
phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào GV và CBQL.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà
quản lí, các giáo viên có kinh nghiệm, ý kiến của học viên trong lĩnh vực
nghiên cứu nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn đưa ra các kết luận về
việc quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trung tâm GDTX tỉnh
Thanh Hóa.
- Phương pháp khảo nghiệm: Khảo nghiệm, nhận thức một số khách thể điều
tra về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
8. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận và tổng hợp, phân tích, đánh
giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Trung tâm GDTX
tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, ký hiệu
viết tắt và phụ lục, nội dung luận văn trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng
Anh tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại
Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Thanh Hóa.


6

7

chất lượng môn ngoại ngữ ở tất cả các bậc học, nâng cao hiệu quả dạy học
môn tiếng Anh, đổi mới phương pháp giảng dạy... Các vấn đề về quản lý, ,
quản lý nhà trường, quản lý HĐDH, phương pháp giảng dạy tiếng Anh đã
được nhiều nhà nghiên cứu khoa học nghiên cứu và tổng hợp thành các lí luận
liên quan tới quản lý và giảng dạy tiếng Anh.
Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nhiều công trình nghiên
cứu, tiêu biểu như: Năm 1982, Jack C. Richards và Theodore S. Rodger tác
giả của cuốn “Appoaches and Methods in Languages Teaching” đã đề cập
đến vấn đề tiếp cận các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ ; Tác giả S.
Sacavski cũng ra đời cuốn “Xã hội hóa giao tiếp ngôn ngữ và các vấn đề
giảng day tiếng nước ngoài”, Moscow, 1987; “English Brainstormers, JosseyBass,2002” của Jack Umastatter; "The Learner Centered Curriculum" của
Nunan David; “Teaching English, Cambridge University Press, 1995” của
Adrian Doff; …
Ở Việt nam, trong những năm gần đây cũng đã có nhiều nhà khoa học tiến
hành các công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý nói chung và giảng dạy bộ
môn tiếng Anh nói riêng, có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” Sở giáo dục - đào tạo TPHCM (2005); Phạm
Gia Trí nghiên cứu về đề tài “Xây dựng mô hình đào tạo Tiếng Anh chuẩn kết
hợp e-learning và đào tạo truyền thống,”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Trường Đại
học Ngoại thương ,(2011); Trần Thị Phương Tuyến nghiên cứu về đề tài “ quản
lý hoạt động dạy học Tiếng Anh chương trình GDTX tại Trung tâm Ngoại ngữ
tin học – Tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, 2013; Lê Thị
Hiền nghiên cứu về đề tài “ Quản lý đổi mới hoạt động dạy học môn tiếng Anh
theo tiếp cận năng lực thực hành ở các trường trung học phổ thông quận Tây
Hồ - Thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, 2014.



9

Ngày nay, từ nhiều góc độ và bằng các phương pháp tiếp cận khác nhau
người ta đã xây dựng nhiều học thuyết về quản lý, mỗi học thuyết trong từng
hoàn cảnh cụ thể có giá trị riêng của nó và đã tạo ra được những bước ngoặt
lớn cho sự phát triển các mặt hoạt động của xã hội nói chung cũng như trong
lĩnh vực quản lý nói riêng. Do đó, quản lý cũng được hiểu theo nhiều cách
khác nhau:
Theo Aunpu F.F: “Quản lý là một hệ thống XHCN, là một khoa học và
là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con
người nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa
ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại với nhau” [1]
Với Thomas J. Robins - Wayned Morrison cũng cho rằng: “Quản lý là
một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học” [18]
Ở nước ta có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Theo Nguyễn Ngọc
Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những
mục tiêu dự kiến” [12]
Theo Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ: «Quản lý là một hoạt động thiết
yếu nảy sinh khi con người lao động và sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện các
mục tiêu chung [20]
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: «Quản lý là một quá trình định
hướng, quá trình có mục đích, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động
đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định» . [8]
Quản lý được diễn đạt theo nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đều có
những nội dung cơ bản. Quản lý bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít
nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể




11

- QL gắn liền với thông tin, thông tin là nguyên liệu của QL. Thực chất
QL là xử lý thông tin nên chất lượng và hiệu quả của thông tin quyết định chất
lượng hiệu quả QL.
- QL là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao. Hiệu quả QL là những
quyết định đúng quy luật và có hiệu quả của chủ thể QL nhằm giải quyết tốt
nhất những vấn đề đặt ra trong cuộc sống....
1.2.2. Quản lý nhà trường
Nhà trường là cơ sở giáo dục, là nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục,
vì vậy vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường.
Nhà trường là một thiết chế xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn
nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội; là cấu trúc cơ sở
của hệ thống giáo dục quốc dân, nhà trường chủ yếu thực hiện chức năng,
nhiệm vụ giáo dục; hoạt động theo qui định của xã hội và theo những qui
định riêng biệt.
Theo điều 48 Luật Giáo dục 2005: «Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo qui hoạch, kế hoạch
của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục ».
Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý trường học, Giáo sư
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: «Quản lý trường học là tập hợp những tác
động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ
khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội
đóng góp vào do lao động xây dựng vốn tự có. Hướng vào việc đẩy mạnh mọi
hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ.
Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên
trạng thái mới ». [12]
Còn theo GS - TSKH Phạm Minh Hạc: «Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa

- Quản lý công tác hành chính;
- Quản lý công tác tài chính;
- Quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng.
Cốt lõi của QL nhà trường là quá trình dạy học và GD. Bản chất quá
trình dạy học quyết định tính đặc thù của QL nhà trường. Dạy học và GD
trong sự thống nhất là trung tâm của nhà trường. Mỗi hoạt động đa dạng và


13

phức tạp của nhà trường đều hướng vào đó... Tuy nhiên, do tính chất QL nhà
trường vừa mang tính Nhà nước, vừa mang tính XH nên trong QL nhà trường
còn bao hàm QL đội ngũ, CSVC, tài chính, hành chính, quản trị…và QL các
hoạt động phối kết hợp với các lực lượng XH để thực hiện mục tiêu GD.
Như vậy, có thể nói rằng: Quản lý nhà trường chính là quản lý quá trình
giáo dục bao gồm các thành tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục,
đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và cơ sở vật chất. Các thành tố
này có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau và dưới sự tác động của Hiệu
trưởng - người quản lý trường học - chúng vận hành theo một quỹ đạo nhất
định nhằm đạt mục tiêu, kế hoạch đề ra.
1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý HĐDH chính là các biện pháp tác động của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, học sinh… nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà trường
nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường theo yêu cầu của năm học.
Quản lý hoạt động dạy học chính là sự tác động lên đội ngũ giáo viên,
học sinh qua việc thực thi các chức năng quản lý kế hoạch, tổ chức chỉ đạo,
kiểm tra, điều chỉnh nhằm thực hiện mục tốt nhất mục tiêu giáo dục. Trong đó
người thầy đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt học sinh đi tìm chân lý. Người
học chủ động tiếp cận chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu. Đặc biệt

nhau: chính qui, không chính qui hoặc phi chính qui, tự học tùy theo điều
kiện, hoàn cảnh của mỗi người. Vì vậy, giáo dục thường xuyên là một khái
niệm rộng, bao gồm cả giáo dục chính qui (GDCQ), giáo dục không chính qui
(GDKCQ) và giáo dục phi chính qui (GDPCQ).
Ở Việt Nam, giáo dục thường xuyên còn được hiểu theo nghĩa hẹp: Giáo
dục thường xuyên chỉ bao gồm các chương trình giáo dục do Bộ giáo dục và
Đào tạo quản lý, chỉ đạo, cụ thể là Vụ giáo dục thường xuyên và Vụ Đại học (
xóa mù chữ, sau xóa mù chữ, bổ túc văn hóa, ngoại ngữ, tin học, THCN, cao


15

đẳng, đại học tại chức và các chương trình giáo dục không cấp lớp, giáo dục
chuyên đề đáp ứng nhu cầu học tập của người học ở cộng đồng).
Giáo dục thường xuyên có nhiệm vụ chính là tạo cơ hội học tập thường
xuyên, học tập suốt đời cho mọi người có nhu cầu. Giáo dục thường xuyên có 4
chức năng chủ yếu, đó là chức năng thay thế, tiếp nối, bổ sung và hoàn thiện.
Với chức năng và nhiệm vụ trên giáo dục thường xuyên có đối tượng
người học là tất cả mọi người (mọi độ tuổi, mọi trình độ) có nhu cầu học tập
thường xuyên, học tập suốt đời. Ngoài ra, giáo dục thường xuyên cũng
có mục tiêu riêng, có chương trình, có nội dung và phương pháp dạy học dặc
thù, có đội ngũ cán bộ, giáo viên và có mạng lưới cơ sở giáo dục riêng…
1.3. Khái quát về Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh
Tại điều 2, chương I, Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm
Giáo dục thường xuyên ( Ban hành kèm theo Quyết định 01/2007/Đ-BGDDT,
ngày 02 tháng 0 năm 2007 củ Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) đã quy định:
1. Trung tâm giáo dục thường xuyên là cơ sở giáo dục thường xuyên
của hệ thống giáo dục quốc dân. Trung tâm giáo dục thường xuyên bao gồm
trung tâm giáo dục thường xuyên quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(sau đây gọi chung là trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện), trung tâm

tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa phương;
- Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học
phổ thông
2. Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề
xuất với sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các
chương trình và hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.
3. Tổ chức các lớp học theo các chương trình giáo dục thường xuyên cấp
trung học cơ sở và trung học phổ thông quy định tại điểm d Khoản 1 của Điều
này dành riêng cho các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, người tàn
tật, khuyết tật, theo kế hoạch hằng năm của địa phương.


17

4. Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động lao
động sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập.
5. Nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục góp phần phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên.
Tại điều 4, chương I, Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo
dục thường xuyên ( Ban hành kèm theo Quyết định 01/2007/Đ-BGĐT, ngày
02 tháng năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) đã quy định:
1. Trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục đại học khi thực hiện
chương trình giáo dục thường xuyên lấy bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp,
được phép liên kết với trung tâm giáo dục thường xuyên với điều kiện:
- Trung tâm giáo dục thường xuyên phải bảo đảm các yêu cầu về cơ sở
vật chất, thiết bị và cán bộ quản lý phải phù hợp với yêu cầu của từng ngành
được liên kết đào tạo;
- Việc liên kết đào tạo được thực hiện trên cơ sở hợp đồng liên kết đào
tạo; trường trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm
toàn diện về việc liên kết đào tạo.

hạn, học buổi tối, vừa làm vừa học, từ xa,…)…
Tại Trung Tâm GDTX tỉnh Thanh hóa không tổ chức dạy học chương trình
GDTX cấp THCS và cấp THPT, mà chỉ tổ chức chương trình giáo dục thường
xuyên khác ( Phần lớn là các lớp đào t bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp
vụ và các lớp Đại học liên kết). Do vậy, việc giảng dạy của bộ môn Tiếng Anh
tại Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa cũng chủ yếu là giảng dạy môn Tiếng Anh
không chuyên cho đối tượng người học không chuyên ngữ.
1.4. Hoạt động dạy học môn Tiếng Anh
1.4.1. Đặc điểm và yêu cầu của dạy học môn Tiếng Anh
Với nét đặc trưng riêng, dạy và học môn Tiếng Anh không giống với các
môn học khác. Trong quá trình dạy và học, người học phải luôn tham gia với
tư thế chủ động hơn. Các kỹ năng Nghe – Nói - Đọc - Viết luôn đòi hỏi người


19

học phải có khả năng tư duy nhanh và phản xạ kịp thời. Đồng thời, người dạy
đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc lập kế hoạch, tổ chức, sắp xếp,
kiểm tra, đánh giá, khích lệ người học và từng bước giúp người học lĩnh hội
kiến thức của môn Tiếng Anh.
Chương trình Tiếng Anh bao gồm 2 phần: Tiếng Anh cơ bản và Tiếng Anh
chuyên ngành. Trong đó, tiếng Anh cơ bản là 120 tiết, nội dung chương trình của
tiếng Anh cơ bản tập trung chủ yếu vào ngôn ngữ như: Ngữ pháp, từ vựng và
hình thành cho người học các kỹ năng học tập: Nghe - Nói - Đọc - Viết. Còn
tiếng Anh chuyên ngành là 60 tiết với các mục đích giao tiếp nghề nghiệp cụ thể.
Môn học yêu cầu người học phải kiên trì và quyết tâm cao vì mục tiêu của
chương trình là giúp người học có đủ năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh một
cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường đa ngôn
ngữ, đa văn hóa.
1.4.2. Mục tiêu của việc dạy học Tiếng Anh

thêm về đất nước, con người, có hứng thú học tập, làm giàu thêm vốn văn hóa
của chính mình.
Do vậy, dạy và học tiếng Anh cũng có những đặc điểm chung của dạy
học ngoại ngữ. Chương trình tiếng Anh cơ bản được biên soạn theo các chủ
điểm gần gủi với cuộc sống hàng ngày, nhằm trang bị những kiến thức tiếng
Anh cơ bản và hình thành, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết
trình, kỹ năng làm việc nhóm và các kỹ năng Nghe-Nói-Đọc-Viết.
Chương trình môn học tiếng Anh chuyên ngành được biên soạn theo
các chuyên ngành như cụ thể: tiếng Anh chuyên ngành Luật, tiếng Anh
chuyên ngành kế toán, tiếng Anh chuyên ngành thương mại, tiếng Anh
chuyên ngành du lịch... Mỗi chuyên ngành được biên soạn theo các chủ đề
là các chủ điểm từ cơ bản đến mở rộng, nâng cao theo từng ngành học. Hệ
thống chủ đề và chủ điểm là cơ sở hình thành và phát triển các khả năng
ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng chuyên ngành, ngữ pháp được đưa vào ứng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status