B GIO DC V O TO
HC VIN QUN Lí GIO DC
_____________
______________
NGUYN TUYT NGA
quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh
sinh viên TRƯờNG cao đẳng xây dựng số 1
trong giai đoạn hiện nay
LUN VN THC S QUN Lí GIO DC
CHUYấN NGNH: QUN Lí GIO DC
M S: 60.14.01.01
NGI HNG DN KHOA HC: TS. TRN BI LAN
H NI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là một phần kết quả quan trọng trong quá trình đào tạo
cao học. Với tất cả tình cảm của mình, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hội
đồng đào tạo, hội đồng khoa học, các thầy, cô giáo trong và ngoài Học viện
Quản lý giáo dục đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo, TS. Trần Bội Lan - người đã chỉ bảo,
dìu dắt ân cần và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình làm luận văn. Cô
đã cho tôi thêm nhiều kiến thức về khoa học quản lý giáo dục cũng như giúp
Quản lý giáo dục
QLGD
3
Giáo dục đạo đức
GDĐĐ
4
Quản lý công tác giáo dục đạo đức
QLCTGDĐĐ
5
Giáo viên chủ nhiệm
GVCN
6
Giáo viên bộ môn
GVBM
7
Cao đẳng Xây dựng
CĐXD
13
Cán bộ quản lý
CBQL
14
Cán bộ giáo viên nhân viên
CBGVNV
15
Lực lượng giáo dục
LLGD
16
Lực lượng xã hội
LLXH
17
chúc, Người đã viết “Đoàn viên và Thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc
đều hăng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần
phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những
người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng’’ vừa "chuyên".[10]
Nước ta đang trên con đường hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy
các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệ giá trị đạo đức
mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết. Thực
tế cho thấy, trong đời sống xã hội đã có những biểu hiện xem nhẹ những giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chạy theo thị hiếu không lành mạnh.
Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa lối sống lành mạnh, trung
thực, có lý tưởng…với lối sống ích kỷ, thực dụng…đang diễn ra hằng ngày.
Bên cạnh những giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập, những
cái tiêu cực cũng đang xâm nhập vào đạo đức, lối sống của nhiều tầng lớp
nhân dân, đặc biệt là đội ngũ học sinh, sinh viên.
Những năm tới, tình hình thế giới sẽ tiếp tục diễn biến
phức tạp, khó lường; khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức
phát triển mạnh mẽ; mức độ toàn cầu hóa ngày càng cao.
Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước ta vẫn còn nhiều
khó khăn, thách thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Thế hệ trẻ tiếp tục là đối tượng, mục tiêu mà các thế lực
thù địch tập trung lôi kéo, kích động, chia rẽ. Tình trạng suy
2
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và
trong xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; những biểu hiện
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ,
đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến
phức tạp. Khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày
càng tăng. Môi trường văn hóa, đạo đức xã hội có mặt xuống
Để đáp ứng với những yêu cầu trên, em chọn đề tài: “Quản lý công tác
giáo dục đạo đức cho học sinh sinh viên trường Cao đẳng Xây dựng số 1
trong giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số
biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho HSSV trường Cao đẳng Xây
dựng số 1 trong giai đoạn hiện nay để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh sinh viên
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh sinh viên
Trường Cao đẳng Xây dựng số 1
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục đạo đức học sinh
sinh viên
Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
sinh viên ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 trong giai đoạn hiện nay
Đề xuất các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
sinh viên Trường Cao đẳng Xây dựng số 1
5. Giả thiết khoa học
Quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh sinh viên trường Cao
đẳng Xây dựng số 1 hiện nay còn một số hạn chế, điều này làm ảnh hưởng
4
đến chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường. Vì vậy, nếu đề xuất và
thực thi được những biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh sinh viên phù hợp với đặc điểm và điều kiện nhà trường sẽ góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục học sinh sinh viên của nhà trường.
8. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục đạo đức trong
nhà trường
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
sinh viên ở Trường Cao đẳng Xây dựng số 1
Chương 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh sinh
viên Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 trong giai đoạn hiện nay
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH SINH VIÊN Ở
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1.
Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức cho thế hệ trẻ là vấn đề
quan trọng, cần thiết, cơ bản, lâu dài trong mọi thời đại và được nhiều nhà tư
tưởng lớn quan tâm. Thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội, giữ
vị trí và vai trò hàng đầu trong dựng nước và giữ nước. C.Mác, Ph.Ăngghen
và V.I.Lênin đều coi thanh niên là một lực lượng cách mạng hùng hậu, có vai
trò quan trọng trong cách mạng và xem xét vấn đề thanh niên luôn gắn bó với
giai cấp công nhân và đảng tiên phong.
Trong quá trình lãnh đạo Đảng ta luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò quan
trọng của thanh niên và công tác thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của
và giáo dục đạo đức mới;
Năm 1982, tác giả Tương Lai có xuất bản cuốn “Chủ động và tích cực
xây dựng đạo đức mới”. Tuy còn những hạn chế nhất định, nhưng đây có thể
coi là tài liệu tham khảo bổ ích về lĩnh vực đạo đức học;
Tác giả Trần Hậu Kiêm và Đoàn Đức Hiếu với tác phẩm “Hệ thống
phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên” xuất bản năm 2004.
Tác phẩm đã nêu tổng quát các phạm trù đạo đức, thực trạng đạo đức HSSV
tại thời điểm. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề ra một số biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HSSV trước những năm 2000. Tuy
nhiên, có một số biện pháp không còn phù hợp đối với thời điểm hiện tại.
Năm 1997, tác giả Đoàn Minh Duệ chủ nhiệm đề tài cấp bộ “Tình hình
tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của sinh viên các trường đại học, cao
đẳng và các tỉnh phía Bắc Miền Trung hiện nay”. Công trình đã đi sâu phân
tích và đánh giá tình hình tư tưởng, chính trị và đạo đức của sinh viên tại thời
8
điểm đó. Tuy nhiên, vấn đề đạo đức của HSSV hiện nay đang diễn biến phức
tạp hơn và cần đề ra những biện pháp quản lý mới để phù hợp với tình hình
thực tế.
Đặc biệt những năm gần đây, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu
về đạo đức và giáo dục đạo đức cho HSSV như:
- Chu Hồng Văn (2010) với đề tài: “Một số biện pháp quản lý công tác
GDĐĐ ở các trường THPT thành phố Thanh Hóa”;
- Nguyễn Thị Mỹ Dung (2011) với đề tài: “Một số biện pháp quản lý
công tác GDĐĐ cho học sinh trường THPT Phan Đình Phùng, Thành phố
Vĩnh Phúc”;
- Hoàng Thị Dung (2014) với đề tài: “Giáo dục đạo đức cho sinh viên
trong bối cảnh hội nhập ở Việt Nam hiện nay”…
Các nghiên cứu trên đã được tác giả đầu tư nghiêm túc, công phu, nêu
những diễn biến phức tạp. Bởi vậy, việc tìm ra những biện pháp quản lý nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HSSV trường Cao đẳng Xây dựng
số 1 luôn là vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
1.2.
Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
"Quản lý là gì?" là câu hỏi mà bất cứ người học quản lý ban đầu nào
cũng cần hiểu và mong muốn lý giải. Nó liên quan đến định nghĩa về quản lý.
Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học
suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu.
Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ,
nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. Như vậy, có bao
nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về
quản lý.
10
Vậy suy cho cùng quản lý là gì? Định nghĩa quản lý là yêu cầu tối thiểu
nhất của việc lý giải vấn đề quản lý dựa trên lí luận và nghiên cứu quản lý
học.
Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì
hay phụ trách một công việc nào đó.
Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ,
nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với
sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận
thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí
càng trở nên rõ rệt.
Tuy có nhiều cách diễn đạt khái niệm quản lý khác nhau nhưng chúng
đều có một điểm chung thống nhất như sau: “Quản lý là sự tác động liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) lên khách thể
quản lý (những người bị quản lý) bằng việc sử dụng các phương tiện quản lý
nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý .”
Sự tác động này được mô hình hóa như sau:
Công cụ
Khách thể
Chủ thể quản
quản lý
Môlý tả hoạt động quản lý theo sơ đồ 1.2.1 sau:
Mục tiêu
Phương pháp
Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý
Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý
1.2.2. Giáo dục
“Giáo dục là quá trình thống nhất của sự hình thành tinh thần và thể
chất của mỗi tác nhân trong xã hội. Giáo dục là một mặt không thể tách rời
của cuộc sống con người, của xã hội, nó là một hiện tượng đặc trưng của xã
12
hội loài người. Trong quá trình tiến hoá của nhân loại, giáo dục xuất hiện
cùng với sự xuất hiện của loài người, khi con người có quan hệ với tự nhiên
bằng công cụ và phương tiện lao động thì nhu cầu về sự truyền đạt và lĩnh hội
kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau mới xuất hiện. Giáo dục như là
+ Theo phạm vi hẹp: là quá trình hình thành cho người được giáo dục
lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,
những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức
cho họ các hoạt động và giao lưu.
Tóm lại, giáo dục được hiểu là một quá trình sư phạm tổng thể, là hoạt
động có kế hoạch, có nội dung, bằng các phương pháp khoa học trong các cơ
sở giáo dục tác động đến HSSV nhằm phát triển toàn diện con người: đức, trí,
thể, mỹ.
1.2.3. Đạo đức
Trong đời sống xã hội loài người có những mối quan hệ rất phức tạp, đa
dạng, nó tồn tại đan xen nhau bởi các huyết tộc, nhân chủng, các giới, các thế
hệ. Mặt khác, do trình độ nhận thức của mỗi người cũng khác nhau, họ sống
trên lãnh thổ khác nhau nên về tập tục, lợi ích, văn hóa, trình độ phát triển
cũng khác nhau. Để duy trì sự tồn tại và phát triển, mỗi xã hội đòi hỏi phải
xây dựng những nguyên tắc, chuẩn mực sống, trên cơ sở đó tự ý thức, tự hành
động. Nói cách khác, những nguyên tắc đó được xây dựng trên cơ sở tính tự
nguyện, tự giác của mỗi người, biến thành ý thức của xã hội để con người tự
giác tuân theo. Và cũng qua đó con người được đánh giá là có đạo đức hay là
không có đạo đức.
Về bản chất, đạo đức phản ánh những giá trị, những quan hệ tốt đẹp
giữa người với người; mặt khác đạo đức còn phản ánh ý thức và hành vi tự
nguyện, tự giác của con người trong mối tương quan giữa cá nhân và xã hội,
giữa con người với nhau, đạo đức xuất hiện từ khi có loài người và nó không
bao giờ biến mất, nó tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại và phát triển của xã
14
hội loài người. Vì vậy con người càng vươn tới và sáng tạo ra những giá trị
đạo đức mới.
Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng đạo đức
xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của
con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa cá nhân và xã hội.
1.2.4. Giáo dục đạo đức
GDĐĐ là quá trình tác động tới đối tượng giáo dục để hình thành cho
họ ý thức tình cảm và niềm tin đạo đức cuối cùng quan trọng nhất là hình
thành cho người học thói quen đạo đức. GDĐĐ về bản chất là quá trình biến
hệ thống những chuẩn mực đạo đức từ đòi hỏi bên trong của mỗi cá nhân
thành niềm tin, nhu cầu thói quen của đối tượng được giáo dục.
GDĐĐ là bộ phận quan trọng có tính nền tảng của giáo dục, có nhiệm
vụ rèn luyện ý tưởng, ý thức, thói quen và hình thành ở người học các phẩm
chất đạo đức như lòng nhân ái, yêu tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực,
khiêm tốn, tự trọng, dũng cảm,…GDĐĐ gắn chặt với giáo dục tư tưởng chính
trị, giáo dục pháp luật, giáo dục trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động hướng
nghiệp.
1.2.5. Quản lý nhà trường, Quản lý giáo dục
1.2.5.1. Quản lý nhà trường
a) Khái niệm nhà trường
Nhà trường là một tổ chức giáo dục mang tính chất nhà nước, xã hội
trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, đây là cơ sở chủ chốt của bất kỳ hệ
thống nào từ trung ương đến địa phương. Nói chung nhà trường vẫn là khách
thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý, vừa là hệ thống độc lập, tự quản lý của
xã hội; vừa có tính chất xã hội. Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa
có tính chất nhà nước; vừa có tính chất xã hội.
16
Theo tác giả Thái Văn Thành: “Nhà trường là một thiết chế xã hội thực
hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sư duy trì và phát triển của
đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm
đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức - sư phạm của
quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành.
1.2.5.2. Quản lý giáo dục
Theo P.V. Khuđôminxky: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của
hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ
trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và
sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của
quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý trẻ em”.
[12, tr341]
Theo tác giả Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô: “QLGD là sự tác động liên
tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục
nhằm tạo ra tính “trồi” của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng,
các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất
trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến
động”. [19, tr37]
Như vậy, có thể hiểu: QLGD là những tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng tới đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý mà chủ yếu là quá trình dạy học và giáo dục ở các nhà trường.
1.2.6. Quản lý công tác giáo dục đạo đức
Quản lý công tác GDĐĐ (QLCT GDĐĐ) là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt được
kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.
Nói cách khác, QLCT GDĐĐ là một quá trình chỉ đạo, điều hành công
tác GDĐĐ của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục để hình
18
thành những phẩm chất đạo đức của sinh viên, đảm bảo quá trình GDĐĐ
19
dục và Đào tạo) đã nêu rõ mục đích, yêu cầu và nguyên tắc về GDĐĐ cho
sinh viên cao đẳng như sau:
Điều 2. Mục đích
Thực hiện công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho
học sinh, sinh viên nhằm hình thành, rèn luyện và phát triển phẩm chất chính
trị, đạo đức, lối sống văn minh, tiến bộ, góp phần giáo dục toàn diện cho học
sinh, sinh viên.
Điều 3. Yêu cầu
Công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh,
sinh viên trong trường là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên của các
trường, do Giám đốc, Hiệu trưởng (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) trực
tiếp chỉ đạo.
Điều 4. Nguyên tắc
Công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh,
sinh viên trong các trường phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
1. Phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và truyền thống văn hoá Việt Nam; thực tiễn kinh tế, chính trị, xã hội
của đất nước, địa phương và điều kiện của nhà trường.
2. Kết hợp giáo dục chính khoá với tổ chức các hoạt động ngoại khoá;
kết hợp giáo dục với việc tổ chức các hoạt động thực tiễn có tác dụng giáo
dục chính trị, đạo đức, lối sống.
3. Bảo đảm nguyên lý giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội.
4. Bảo đảm phát huy tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh,
sinh viên, biến quá trình giáo dục, rèn luyện thành tự giáo dục, tự rèn luyện.
1.3.2. Nội dung giáo dục đạo đức ở trường Cao đẳng
Điều 5, 6, 7 trong Quy định “Về công tác giáo dục phẩm chất chính trị,
ích kỷ.
21
1.3.3. Phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức ở trường Cao
đẳng
Cũng trong Chương II của Quy định về “Công tác giáo dục phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV trong các học viện, trường đại học, cao
đẳng, trung cấp chuyên nghiệp” (Ban hành kèm theo Quyết định số
50/2007/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) đã nêu các biện pháp GDĐĐ cho HSSV với các nội dung cụ thể
sau:
1. Tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện các quy định về công tác
giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.
2. Lựa chọn, lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục chính trị, đạo
đức, lối sống thích hợp vào hoạt động giảng dạy, học tập của chương trình
chính khoá.
3. Tổ chức các hoạt động nhân dịp ngày lễ, kỷ niệm các sự kiện trọng
đại của đất nước, địa phương và nhà trường, các hoạt động văn hoá, văn nghệ,
thể thao, các hoạt động, phong trào tình nguyện trong học sinh, sinh viên.
4. Tổ chức Tuần sinh hoạt công dân–học sinh, sinh viên đầu khoá, cuối
khoá, đầu năm học.
5. Tổ chức các hoạt động giáo dục theo chuyên đề, bao gồm:
a) Giáo dục pháp luật;
b) Giáo dục phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm;
c) Giáo dục môi trường, kỹ năng sống;
d) Giáo dục truyền thống, đạo đức nghề nghiệp;
đ) Giáo dục phòng, chống tham nhũng;
e) Giáo dục an toàn giao thông;
g) Giáo dục truyền thống nghề nghiệp;