1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------------------CHÂU THỊ LỆ DUYÊN
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP: MỐI QUAN HỆ VỚI
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG – TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2018
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------------------CHÂU THỊ LỆ DUYÊN
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP: MỐI QUAN HỆ VỚI
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG – TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – VIỆT NAM
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 62.34.05.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
6. Lê Thị Diệu Hiền, Châu Thị Lệ Duyên. 2013. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU
CẦU ĐI DU LỊCH CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỒ TÂN AN. Hội nghị Khoa học Sinh viên - Học
viên cao học - Nghiên cứu sinh khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh. 1. 71. (Đã xuất bản)
7. Lê Thị Diệu Hiền, Châu Thị Lệ Duyên, Phạm Nguyễn Tố Duyên, Trần Văn Điều. 2013.
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU ĐI DU LỊCH CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ
TÂN AN TỈNH LONG AN. HT SV-Học viên cao học-Nghiên cứu sinh khoa KT QTKD 2013. 1. 71.
(Đã xuất bản)
8. Nguyễn Thị Bích Châm, Tăng Thị Bích Hằng, Châu Thị Lệ Duyên. 2013. NHẬN THỨC
VÀ MỨC ĐỘ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP - TRƯỜNG HỢP
CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TP CẦN THƠ. HT Tăng trưởng xanh trong thời kỳ toàn cầu hóa. 1. 312.
(Đã xuất bản)
9. Châu Thị Lệ Duyên, Nguyễn Huỳnh Kim Ngân, Nguyễn Thanh Liêm. 2014. NGHIÊN
CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, LỢI ÍCH KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ
TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP KHU VỰC THÀNH PHỐ CẦN THƠ. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ. 32. 7-18. (Đã xuất bản)
10. Châu Thị Lệ Duyên, Huỳnh Trường Thọ. 2015. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM
XÃ HỘI, LÃNH ĐẠO VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH: TRƯỜNG HỢP DOANH NGHIỆP KHU VỰC
THÀNH PHỐ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 38. 75-82. (Đã xuất bản)
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Bối cảnh của nghiên cứu
Kinh tế thế giới đang phát triển rất mạnh và sự phát triển đó là không bền vững (Jeffrey D.
Sachs, 2008), sức mạnh của sự phát triển ngày càng lan rộng và mạnh mẽ cho tất cả các nước trên thế
giới, đặc biệt là các quốc gia ở Châu Phi, một số các quốc gia ở Châu Á và Châu mỹ La tinh. Việc
phát triển quá nhanh chóng sẽ dẫn đến các vấn đề về môi trường, xã hội và cả các vấn đề về kinh tế
(Jeffrey D. Sachs, 2008).
Việt Nam là một trong những quốc gia ở Châu Á nằm trong nhóm các nước đang phát triển,
Long.
5
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:
Mục tiêu 1: Khám phá lý thuyết về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, các nhân tố cấu thành mối quan hệ này.
Mục tiêu 2: Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội
và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Mục tiêu 3: Kiểm định mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp, kiểm định sự khác biệt giữa quy mô doanh nghiệp về mối quan hệ này.
Mục tiêu 4: Đưa ra được những hàm ý quản trị liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong công tác quản trị doanh nghiệp.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả
hoạt động kinh doanh.
Đối tượng khảo sát đó là các nhà quản lý của doanh nghiệp bao gồm giám đốc, phó giám
đốc doanh nghiệp, hoặc đó là nhà quản lý, phụ trách về trách nhiệm xã hội tại doanh nghiệp, trưởng
phòng nhân sự hoặc trưởng phòng marketing của doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định mối quan hệ giữa
thực hiện trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đây là phương pháp được các
nhà nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trên thế giới kiến nghị là phù hợp nhất và
được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về mối quan hệ này.
1.5. Kết cấu của nghiên cứu
Nghiên cứu bao được sắp xếp theo kết cấu sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
7
CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Các khái niệm trong nghiên cứu
2.1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trong tiến trình nghiên cứu của cộng đồng khoa học có rất nhiều quan điểm khác nhau về
khái niệm, nội dung cũng như phạm vi về khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Mỗi nghiên
cứu, tổ chức, doanh nghiệp và chính phủ hiểu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới những góc
độ và quan điểm riêng, tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển khác nhau.
Đầu tiên, khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được H.R. Browen đưa ra đầu tiên
vào năm 1953 trong quyển sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”. Sau ông, có nhiều tác giả cũng
đã đưa ra khái niệm trách nhiệm xã hội như là Davis (1960) trong quyển “Luật thép của trách nhiệm”,
Mc Guire (1963) trong quyển “Kinh doanh và xã hội”. Song, trong giai đoạn này khái niệm trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nhắc đến và định nghĩa thường là gắn với pháp luật và kinh tế.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiếp tục được nhắc đến và được tiếp cận theo nhiều
cách khác nhau sau đó. Theo Carroll (1979) “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong
đợi của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và tình nguyện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất
định”. Trong giai đoạn này Caroll đưa ra khái niệm trách nhiệm xã hội gắn với ba sự mong đợi của xã
hội và định nghĩa này được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá có mức độ bao quát cao và sử dụng làm mô
hình nghiên cứu. Tiếp tục theo đuổi nghiên cứu về trách nhiệm xã hội, năm 1991, ông đưa ra bốn loại
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tạo thành khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn
chỉnh: đó là các khía cạnh kinh tế, luật pháp, đạo đức và từ thiện.
Khái niệm của Caroll được ứng dụng khá rộng rãi trong một thời gian này, bên cạnh đó,
Friedman (1970) lại đưa ra khái niệm trách nhiệm xã hội mà trọng tâm của nó vẫn còn được chấp nhận
rộng rãi cho đến ngày hôm nay (Carter và các cộng sự, 2000; Chand, 2006; Frooman, 1997). Friedman
nói rằng các nhà quản lý không chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông, mà còn phải gia tăng sự giàu có
cũng như các đối tác là quan trọng nhất.
2.1.2. Khái niệm lợi ích kinh doanh
Theo Harrison và Freeman (1999); Hillman và Keim (2001); Brammer và cộng sự (2007);
Maignan và Ferrell (2001) lưu ý rằng có rất nhiều nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
và hiệu quả hoạt động nhưng ít nghiên cứu hơn đã đề cập đến tác động của trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp đến các nhóm liên quan khác nhau dẫn đến lợi ích kinh doanh đối với các nhóm liên
quan đáp trả lại cho doanh nghiệp của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu của Weber (2008), đã minh họa sơ đồ tổng thể cho phép các nhà quản lý
đánh giá các trường hợp thực hiện hành động trách nhiệm xã hội ảnh hưởng như thế nào đến giá trị lợi
ích kinh doanh của công ty mình. Với cách tiếp cận này có thể tăng cường hiệu quả cho sự tham gia
thực hành trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và hỗ trợ cho việc ra quyết định hợp lý trong lĩnh vực này.
Song, nhiều nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã sử dụng các chỉ tiêu lợi
ích kinh doanh để nghiên cứu trong những nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp với các bên liên quan. Tổng kết các kết quả nghiên cứu đã đánh giá ở phần trên, các khái niệm
liên quan đến lợi ích kinh doanh (phi tài chính) được trình bày như sau
(1) Danh tiếng của doanh nghiệp
Deephouse (2000) định nghĩa danh tiếng là sự đánh giá về một doanh nghiệp của các bên
liên quan theo sự ảnh hưởng, sự quí trọng và kiến thức của họ. Danh tiếng là một nguồn lực dẫn đến
lợi thế cạnh tranh, làm tín hiệu cho các bên liên quan về sự hấp dẫn của doanh nghiệp, từ đó họ có thể
sẵn sàng ký hợp đồng với doanh nghiệp.
(2) Thu hút, giữ chân khách hàng
Khách hàng hay người tiêu dùng đại diện cho một trong những nhóm quan trọng nhất của
các bên liên quan (Rugimbana và cộng sự, 2008). Sự thu hút khách hàng và lòng trung thành của họ là
nền tảng cho bất kỳ doanh nghiệp nào. Pivato và cộng sự (2008) nhận thấy người tiêu dùng có nhận
thức về một doanh nghiệp có liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và tin tưởng cao hơn
9
đối với doanh nghiệp đó và các sản phẩm của nó. Điều này dẫn đến doanh thu và lòng trung thành của
thông qua các tuyến trung gian. Bao gồm lợi ích kinh doanh như nâng cao danh tiếng; tăng doanh thu
và lòng trung thành của khách hàng; tăng khả năng thu hút lao động. Neville và cộng sự (2005) xác
định danh tiếng là một biến trung gian giữa CSR và hiệu quả hoạt động. Như vậy, mối quan hệ giữa
CSR và hiệu quả hoạt động là một mối quan hệ phức hợp với các bên liên quan.
- Hệ số lợi nhuận ròng (ROS)
Hệ số này phản ánh khoản lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế) của một doanh nghiệp so với
doanh thu của nó. Nó thể hiện 1 đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
ROS = Lợi nhuận ròng/ Doanh thu
10
- Hệ số suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Hệ số này phản ánh hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo doanh nghiệp. Nó thể
hiện 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng.
ROA = Lợi nhuận ròng/ Tổng giá trị tài sản
- Hệ số suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Hệ số này phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông. Hệ số này được các
nhà đầu tư cũng như các cổ đông đặc biệt quan tâm.
ROE = Lợi nhuận ròng/ Vốn chủ sở hữu
2.1.4. Khái niệm lãnh đạo
Việc lãnh đạo giỏi là cần thiết trong các hoạt động CSR, nghiên cứu của Belkaoui và Karpik
(1988) cho rằng kỹ năng lãnh đạo phải vô cùng vượt trội thì mới tạo ra hiệu quả cho doanh nghiệp.
Theo như Alexander và Buchholz (1978) lập luận rằng kết quả của việc thực hiện CSR sẽ cải thiện
mối quan hệ với các bên liên quan chính mà từ đây dẫn đến việc cải thiện hiệu quả hoạt động trong các
lĩnh vực như dịch vụ khách hàng, quan hệ nhân viên và quan hệ cộng đồng mà tất cả đều dẫn đến tiềm
năng gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Lãnh đạo chuyển đổi (Transformational leadership)
Burn (1978) cho rằng lãnh đạo chuyển đổi là người làm rõ tầm nhìn của tương lai và chia sẽ
Ullmann,1985)
Nghiên cứu Harrison và Freeman (1999); Hart và Ahuja (1996), Mackey và cộng sự (2007)
đã cho thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có mối liên hệ với hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, ở từng nghiên cứu cho thấy sự tác động khác nhau. Nghiên cứu (Aragon-Correa và
cộng sự (2008)) cho thấy có mối quan hệ dương, nghiên cứu Gilley và cộng sự (2000), Thornton và
cộng sự (2003) cho thấy không có mối quan hệ. Ngoài ra từng thị trường, từng quốc gia mối quan hệ
giữa thực hiện trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng có sự khác nhau.
Theo nghiên cứu của Marc Orlitzky và cộng sự (2003) cho thấy có mối tương quan giữa
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Với nghiên cứu này
Orlitzky đã phân tích các nghiên cứu trước đó đã nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
cho thấy rằng nghiên cứu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được dựa trên các chỉ tiêu đánh về mặt
kế toán đó là các tỷ số: ROA, ROE, ROS, trong khi tính chặt chẽ của nghiên cứu ít hơn khi đánh giá
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua các chỉ tiêu thị trường hoặc các chỉ tiêu đánh giá danh tiếng
của doanh nghiệp.
Theo Wood & Jones (1995), các công ty có quy mô lớn thường chi nhiều ngân sách cho các
hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội hơn các công ty có quy mô nhỏ hơn
Từ những lập luận trên, nghiên cứu xây dựng được mô hình sau đây:
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu lý thuyết
Giả thuyết nghiên cứu:
12
Như vậy, qua việc phân tích và tổng hợp toàn bộ cơ sở lý thuyết của nghiên cứu, phân tích
các mối liên hệ của các khái niệm và xây dựng mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu tổng hợp được các
giải thuyết sau đây:
H1: Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có tác động dương đến lợi ích kinh
doanh của doanh nghiệp.
H2: Lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp có tác động dương đến hiệu quả hoạt động của
thuyết bằng SEM.
3.2. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
3.2.1. Thiết kế bảng câu hỏi điều tra sơ bộ
Bảng câu hỏi nghiên cứu được xây dựng dựa trên các biến định lượng theo thang đo Liker
với thang đo là 5 mức độ, thang đo được đo lường trong dài hạn nghĩa là các biến này được đo lường
bằng thang đo định lượng chỉ ra sự gia tăng của các tỷ số này trong thời gian 5 năm trở lại đây của
doanh nghiệp.
3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Về phương pháp lấy mẫu nghiên cứu được thu thập cho nghiên cứu định tính bằng cách
phỏng vấn các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua
bảng câu hỏi phỏng vấn định tính
Với phần dữ liệu sơ cấp: cuộc khảo sát theo phương pháp thuận tiện. Phương pháp này cho
phép thu được chiều sâu hơn kiến thức và số liệu sơ cấp cũng được khảo sát thông qua bảng câu hỏi
định lượng bằng cách phỏng vấn nhà quản trị của doanh nghiệp như giám đốc, phó giám đốc, quản trị
hành chánh nhân sự. Cụ thể nghiên cứu phỏng vấn các doanh nghiệp tại vùng ĐBSCL.
3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau đây để xử lý số liệu định lượng và kiểm định mô
hình nghiên cứu tác động của thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp như sau:
14
Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để loại bỏ biến
rác trước khi tiến hành phân tích nhân tố.
Phương pháp phân tích nhân tố khám phá - EFA thuộc nhóm phân tích đa biến phụ thuộc
lẫn nhau (interdependence techniques), nghĩa là không có biến phụ thuộc và biến độc lập mà nó dựa
trên mối tương quan giữa các biến với nhau (interrelationship).
Phân tích nhân tố khẳng định CFA : Phương pháp CFA trong phân tích mô hình cấu trúc
CSRNCC1, CSRNCC2 và CSRNCC3. Hệ số tương quan biến tổng của ba biến này cụ thể là 0.778,
0.845 và 0.757 đều lớn hơn 0.3. Đồng thời hệ số α = 0.895 đạt lớn nhất. Do đó, thang đo Nhà cung
ứng được giữ nguyên các biến quan sát.
15
Tiếp tục với việc kiểm định độ tin cậy của thang đo, các hệ số cần thiết của việc kiểm định
độ tin cậy cho thang đo Cộng đồng. Cụ thể hệ số α = 0.817 đạt lớn nhất cho thang đo, hệ số tương
quan biến tổng của từng biến CSRNCD1, CSRNCD2, CSRNCD3 và CSRNCD4 đạt từ 0.585 đến
0.695 đều lớn hơn 0.3. Tóm lại, thang đo Cộng đồng đạt độ tin vậy cần thiết.
Thang đo Lãnh đạo được cấu thành từ bảy biến quan sát. Kết quả phần tích độ tin cậy cho
thấy hệ số α = 0.950 , đảm bảo độ tin cậy cần thiết và đạt hệ số cao nhất. Tương quan biến tổng của
từng biến quan sát đạt hệ số cao, biến thiên từ 0.744 đến 0.861 đều lớn hơn 0.3. Như vậy thang đo
Lãnh đạo đạt độ tin cậy cần thiết.
Kiểm định dộ tin cậy của thang đo Lợi ích Nhân viên – được cấu thành bởi bốn biến quan
sát BBNV1, BBNV2, BBNV3, BBNV4; tương ứng hệ số α = 0.893 đạt lớn nhất, đồng thời tương quan
biến tổng của các biến biến thiên từ 0.696 đến 0.862 đều lớn hơn 0.3, các biến đều được giữ nguyên.
Do đó, thang đo Lợi ích Nhân viên đạt độ tin cậy cần thiết.
Tiếp tục với việc kiểm định thang đo Lợi ích Khách hàng, hệ số α = 0.855 của thang đo này
cũng đạt lớn nhất, ba biến cấu thành tương quan biến tổng của thang đo đều đạt từ 0.682 trở lên lớn
hơn 0.3. Như vậy, thang đo Lợi ích Khách hàng đạt độ tin cậy cần thiết với cấu thành từ ba biến quan
sát được giữ lại.
Thang đo Lợi ích danh tiếng được hình thành từ ba biến quan sát BBDT1, BBDT2, BBDT3
và kiểm định độ tin cậy của thang đo này thông qua hệ số α = 0.845 với tương quan biến tổng của các
biến quan sát đạt từ 0.672 đến 0.758. Thang đo giữ lại các biến như ban đâu và đạt độ tin cậy cần thiết.
Kiểm định độ tin cậy của thang đo tiếp cần vốn với hệ số α = 0.856 với hai biến quan sát đạt
tương quan biến tổng là 0.739. Thang đo Lợi ích Tiếp cận vốn đạt độ tin cậy cần thiết.
Khái niệm Hiệu quả hoạt động cũng đạt độ tin cậy cần thiết với hệ số α = 0.862 với tương
quan biến tổng cho ba biến quan sát đều đạt hệ số lớn hơn 0.3.
Thang đo Lãnh đạo được cấu thành từ bảy biến quan sát. Kết quả phần tích độ tin cậy cho
thấy hệ số α = 0.955 , đảm bảo độ tin cậy cần thiết và đạt hệ số cao nhất. Tương quan biến tổng của
từng biến quan sát đạt hệ số cao, biến thiên từ 0.781 đều lớn hơn 0.3. Như vậy thang đo Lãnh đạo đạt
độ tin cậy cần thiết.
Kiểm định dộ tin cậy của thang đo Lợi ích Nhân viên – được cấu thành bởi bốn biến quan
sát BBNV1, BBNV2, BBNV3, BBNV4; tương ứng hệ số α = 0.902 đạt lớn nhất, đồng thời tương quan
biến tổng của các biến biến thiên từ 0.796 đều lớn hơn 0.3, các biến đều được giữ nguyên. Do đó,
thang đo Lợi ích Nhân viên đạt độ tin cậy cần thiết.
Tiếp tục với việc kiểm định thang đo Lợi ích Khách hàng, hệ số α = 0.909 của thang đo này
cũng đạt lớn nhất, ba biến cấu thành tương quan biến tổng của thang đo đều đạt từ 0.627 trở lên lớn
hơn 0.3. Như vậy, thang đo Lợi ích Khách hàng đạt độ tin cậy cần thiết với cấu thành từ ba biến quan
sát được giữ lại.
Kiểm định độ tin cậy của thang đo tiếp cần vốn với hệ số α = 0.881 với hai biến quan sát đạt
tương quan biến tổng là 0.787 thang đo lợi ích Tiếp cận vốn đạt độ tin cậy cần thiết.
17
Khái niệm hiệu quả hoạt động cũng đạt độ tin cậy cần thiết với hệ số α = 0.946 với tương
quan biến tổng cho ba biến quan sát đều đạt hệ số lớn hơn 0.3.
Trên đây là phần kiểm định độ tin cậy của tất cả các khái niệm có trong mô hình nghiên cứu,
cụ thể các thang đo đều đạt được độ tin cậy cần thiết. Hầu hết các thang đo đều đạt được độ tin cậy
cho nghiên cứu chính thức.
4.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho nghiên cứu chính thức
(1) EFA cho thang đo Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Tất cả các thông số của việc thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA cho thang đo trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Kiểm định KMO và Bartlett's cho các nhân tố của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cho
thấy KMO = 0.922 và Sig. = .000, đạt được mức ý nghĩa cao, thang đo giải thích tốt khái niệm trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp được cấu thành bởi các thang đo Khách hàng, Môi trường, Nhân viên,
thiên trong khoảng lớn hơn 0.939, tất cả đều lớn hơn 0.3. Như vậy, giá trị các thang đo này là chấp
nhận được.
4.3. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
(1) Kết quả CFA tác nhân trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Vì khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không thể đo lường được mà chỉ có thể
đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua việc doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã
hội của các bên liên quan. Song trong nghiên cứu sơ bộ thang đo cho biến tiềm ẩn của trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp được đo lường bởi năm biến quan sát. Như phần phân tích EFA nghiên cứu đã
giư lại tất cả các biến quan sát của khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và đến phần phân
tích nhân tố khẳng định CFA sẽ kiểm định lại xem các thang đo này có phù hợp với số liệu thị trường
nghiên cứu.
Kết quả CFA của khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thể hiện ngay dưới
đây:
Hình 4 1. Kết quả CFA chuẩn hóa của khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Mô hình CFA đã chuẩn hóa của khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã chuẩn
hóa cho thấy các thông số sau: mô hình có 94 bậc tự do, Chi-square = 233.336 với P = .000, CMIN/df
= 2.482 < 3. Chỉ tiêu GFI = .927; TLI = .961 ; CFI = .970 đều lớn hơn 0.9 và hệ số RSMEA = 0.062
20
Hình 4.4. Kết quả CFA chuẩn hóa của cả mô hình
Hệ số tương quan ước lượng liên kết với sai số chuẩn (SE) của mối tương quan giữa khái
niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khái niệm lãnh đạo cho giá trị p = 0.847 > 0.05, nên hệ
số tương quan của cặp khái niệm này không khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95%, vậy cặp khái niệm
này không đạt được giá trị phân biệt. Xét những mối quan hệ khác trong mô hình, cũng trong bảng
này, giá trị p của các mối quan hệ còn lại biến thiên từ 0.000 đến 0.026 đều nhỏ hơn 0.05 nên hệ số
tương quan của các cặp khái niệm này khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95%, vậy những cặp khái niệm
này đạt được giá trị phân biệt.
Tóm lại, qua kết quả CFA mô hình đo lường mối liên hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: trách nhiệm xã hội, lợi ích kinh doanh, lãnh đạo và hiệu
quả hoạt động đều phù hợp dữ liệu thị trường, đạt tính đơn hướng, đảm bảo giá trị hội tụ, đảm bảo độ
tin cậy và giá trị phân biệt.
4.3.1. Kiểm định mô hình lý thuyết bằng mô hình hoá cấu trúc tuyến tính (SEM)
Kết quả mô hình SEM được thể hiện sau:
21
Hình 4.6. Kết quả mô hình SEM (chuẩn hóa)
Mô hình 4.6 cho thấy kết quả kiểm định mô hình lý thuyết có 514 bậc tự do, chi-square =
1237.108 (p = .000), CMIN/df = 2.407 < 3. Các chỉ số: TLI = 0.932, CFI = 0.938 đều lớn hơn 0.9 và
RMSEA = 0.060 < 0.08. Khẳng định mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường.
4.3.2. Kiểm định các giả thuyết:
Hình 4.7 Kết quả SEM của mô hình nghiên cứu đã chuẩn hóa
Kết quả mối quan hệ nhân quả cho thấy các tác động của các tác nhân trong mô hình nghiên
H4
Hiệu quả họat động
24
hiện trách nhiệm xã hội và lợi ích kinh doanh cũng có tác động tích cực và mạnh đến hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp
Tóm lại, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có mối quan hệ dương với lợi ích kinh doanh
và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, có mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp. Trong khi đó, lãnh đạo có mối quan hệ dương với lợi ích kinh doanh và ngược
chiều đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
5.3. Hàm ý của nghiên cứu
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp nhằm kiểm định được việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ
làm gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Clarkson, 1995; Donaldson và Preston, 1995);
Mitchell và cộng sự, 1996), hiệu quả được đo lường bằng nhóm hiệu quả tài chính – chỉ tiêu đo lường
bằng hiệu quả thật sự của doanh nghiệp. Song, theo nghiên cứu của việc thực hiện trách nhiệm xã hôi
được đo lường hiệu quả là thông qua việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các bên liên
quan. Khi sử dụng lý thuyết các bên liên quan như lý thuyết nền của nghiên cứu đã kết luận được rằng
mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ tác động dương đến lợi ích kinh doanh, và
từ lợi ích kinh doanh này sẽ tác động dương đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
(Clarkson,1995), Cornell và Shapiro, 1987; Donaldson và Preston, 1995; Freeman, 1984; Mitchell và
cộng sự, 1996).
Một điểm nữa mà nghiên cứu đã thực hiện, đó là việc thực hiện trách nhiệm xã hội lại phụ
thuộc rất nhiều vào lãnh đạo, lãnh đạo chính là động lực để doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã
hội, và nghiên cứu cũng đã kỳ vọng việc lãnh đạo sẽ giúp gia tăng việc thực hiện trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp để từ đó sẽ tác động đến lợi ích của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp
Không như những nghiên cứu trong ngắn hạn cho thấy doanh nghiệp khi thực hiện trách
nhiệm xã hội của mình sẽ là cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp giảm, nghĩa là mối quan hệ
nghiệp dẫn đến các tác động của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đến lợi ích kinh doanh và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp chưa được tìm thấy vì không có ý nghĩa thống kê khi kiểm định mô hình
nghiên cứu từ phía lãnh đạo chuyển đổi.
- Cuối cùng: Điểm nổi bậc nhất đó là nghiên cứu đánh giá các mối quan hệ này trong dài
hạn và có xác định được sự khác biệt trong quy mô của doanh nghiệp trong việc xem xét mối quan hệ
này. Mối quan hệ phức hợp của cả mô hình nghiên cứu khi xem xét cả mối quan hệ trực tiếp gián tiếp
giữa các khái niệm tham gia trong mô hình nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đó chưa thực hiện
bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.
5.1. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Tương tự như hầu hết các nghiên cứu. Nghiên cứu về “mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội
và hiệu quả hoạt động của doanh nghiêp: trường hợp doanh nghiệp ĐBSCL – VIệt Nam” cũng còn
nhiều hạn chế. Đó là:
Hạn chế thứ nhất – Mẫu nghiên cứu chỉ được thu thập ở ba tỉnh trong Đồng bằng sông Cửu
Long là Cần Thơ, Vĩnh Long và Kiên Giang. Như vậy, kết quả của nghiên cứu chưa thể khái quát hóa
để đại diện cho cả vùng và cho cả Việt Nam.
Hạn chế thứ hai – Về số lượng quan sát trong mẫu nghiên cứu là 392 quan sát cũng chưa thể
là nhều nên nếu có thể cần gia tăng thêm số lượng các quan sát nhằm giứp giảm những sai số trong khi
kiểm định cũng như các sai số của mô hình nghiên cứu
Hạn chế thứ ba – Về khái niệm lãnh đạo được tiếp cận theo hướng lãnh đạo chuyển đổi mà
không nghiên theo hướng lãnh đạo giao dịch nên mức độ tác động cùng chiều với hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp chưa thể hiện được và mối quan hệ với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là
không có ý nghĩa. Nghiên cứu đã không tìm thấy được mối quan hệ này khi xét trong dài hạn với dữ
liệu thu thập được tại doanh nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long.
5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo:
Dựa trên những hạn chế và thành tựu đã đạt được của nghiên cứu, nghiên cứu gợi ý một số
hướng nghiên cứu tiếp theo, cụ thể như sau: