TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRẦN THẾ DỰ
LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC BỀN TỐC ĐỘ NHẰM NÂNG CAO
THÀNH TÍCH CHẠY 1500M CHO HỌC
SINH NAM KHỐI 11 TRƢỜNG THPT
LÝ THƢỜNG KIỆT HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT - GDQP
Hƣớng dẫn khoa học
CN. TẠ TẤT VIỆN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Thế Dự
Sinh viên lớp k36 GDTC - GDQP
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề
tài không trùng với bất cứ đề tài nào. Những vấn đề được nghiên cứu đều
mang tính khách quan đúng với thực tế của trường THPT Lý Thường Kiệt Hà Nội
Hà Nội, ngày... tháng... năm...
Sinh viên
Trần Thế Dự
LVĐ:
Lượng vận động
M:
Mét
Kg:
Kilogam
G:
Giây
':
Phút
Hg:
Thủy ngân
Mg:
Miligam
1.3.1.Đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi THPT
1.3.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT
1.4. Kĩ thuật chạy cự ly trung bình
1.4.1. Đặc điểm
1.4.2. Phân tích kĩ thuật
1.5. Các thông sống học và động hình học của kỹ thuật
1.6. Phương pháp giảng dạy kỹ thuật chạy cự ly 1500m
1.7. Ý nghĩa của việc phát triển sức bền tốc độ với việc nâng cao thành tích
chạy 1500m
CHƢƠNG 2: NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2. phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp đọc, phân tích tổng hợp tài liệu
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
2.2.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm
2.2.6. Phương pháp toán thống kê.
2.3.Tổ chức nghiên cứu
2.3.1. Thời gian nghiên cứu
2.4. Đối tượng nghiên cứu
2.5. Địa điểm nghiên cứu
1
5
5
6
7
7
12
3.1.1. Thực trạng của việc giảng dạy và tập luyện trong các giờ học chính
khóa của các học sinh nam khối 11 Trường THPT Lý Thường Kiệt - Hà Nội.
26
3.1.2. Thực trạng của việc giảng dạy và tập luyện trong các giờ học ngoại
khóa của các học sinh nam khối 11 Trường THPT Lý Thường Kiệt - Hà Nội.
26
3.2. Đánh giá thực trạng trình độ phát triển sức bền tốc độ trong chạy
1500m cho nam học sinh khối 11 Trường THPT Lý Thường Kiệt - Hà Nội. 27
3.3. Xác định test đánh giá trình độ sức bền tốc độ chạy cự ly 1500m.
28
3.4. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập nhằm phát triển
sức bền tốc độ chạy cự ly 1500m cho học sinh nam khối 11 trường THPT Lý
Thường Kiệt - Hà Nội.
30
3.4.1. Cơ sở lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ
30
3.4.2. Lựa chọn bài tập phát triển sức bền tốc độ trong chạy 1500m cho học
sinh nam khối 11 trường THPT Lý Thường Kiệt - Hà Nội.
31
Thể dục thể thao (TDTT) là một hoạt động không thể thiếu, không thể
tách rời trong xã hội hiện nay. TDTT rèn luyện cho con người một thể lực
chung để làm mọi công việc trong cuộc sống hằng ngày, TDTT là một hình
thức vừa chơi vừa học nhằm nâng cao sức khỏe cho con người.
Với sự phát triển của xã hội hiện nay chúng ta đều biết “sức khỏe là
vốn quý của con người”. Muốn lao động, công tác và học tập tốt phải có sức
khỏe, muốn duy trì sức khỏe phải thường xuyên luyện tập TDTT. Đặc biệt khi
còn ở lứa tuổi học sinh, còn ngồi trên ghế nhà trường cần phải rèn luyện tích
cực hơn khi được rèn rũa trong sự nghiệp giáo dục. TDTT được các cấp các
ngành đặc biệt quan tâm nhằm góp phần vào việc giáo dục thế hệ trẻ phát
triển toàn diện cả về Đức - Trí - Thể - Mĩ và Lao động, để khi các em trưởng
thành kế tục sự nghiệp của cha anh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày càng
vững mạnh.
Ngay những ngày đầu Cách mạng tháng Tám thành công, Bác Hồ đã
nêu rõ tầm quan trọng của TDTT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc,
coi đó là một công tác cách mạng. Thể hiện sự quan tâm ấy, trong lời kêu gọi
toàn dân tập thể dục ngày 27/3/1946, Người viết: “…giữ gìn dân chủ xây
dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành
công … Mỗi người dân khỏe mạnh làm cho cả nước khỏe mạnh. Mỗi người
dân yếu ớt, làm cho cả nước yếu ớt một phần …Tự tôi ngày nào tôi cũng tập
…”
Trong thực tế hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác
TDTT nói chung và giáo dục thể chất nói riêng coi sức khỏe là tài sản, là vốn
quý, là điều kiện quan trọng để xây dựng và bảo vệ tổ quốc thành công.
2
Các văn kiện Đại hội Ban Chấp hành TW Đảng từ khóa III đến khóa
IX, văn kiện nào cũng đề suất, định hướng cho sự phát triển TDTT của nước
Ngày nay trong các trường trung học phổ thông, môn điền kinh là một
môn học cơ bản chiếm nhiều thời gian nhất trong chương trình của Bộ Giáo
dục và Đào tạo đề ra. Tập luyện điền kinh giúp con người phát triển các tố
chất thể lực toàn diện như sức nhanh, sức mạnh, sức bền… Nhiều nội dung đã
được đưa vào giảng dạy như chạy 100m phát triển sức nhanh, nhảy cao nhảy
xa phát triển sức mạnh, và đặc biệt là nội dung chạy 1500m, đây có thể coi là
một nội dung giúp các em phát triển sức bền, nghị lực, tinh thần vượt khó
khăn có hiệu quả rất cao.
Việc phát triển sức bền trong chạy cự ly 1500m nam ở các trường trung
học phổ thông có ý nghĩa quan trọng, vì tập luyện ở cự ly này, các trường
trung học phổ thông có thể tận dụng được địa hình sẵn có trong khi điều kiện
đất nước còn nhiều khó khăn, chưa thể quan tâm đúng mức nhưng cả thầy và
trò vẫn nỗ lực khắc phục khó khăn để phấn đấu vươn lên đạt được nhiều
thành tích đáng khích lệ. Mặt khác nó còn rèn luyện cho các em ý chí quyết
tâm cao trong học tập cũng như cuộc sống. Đồng thời qua tập luyện các bài
tập sức bền chung nhằm phát triển các cơ quan nội tạng của học sinh, có ảnh
hưởng tốt đến sức khỏe và chạy cự ly 1500m cũng là nội dung trong thi đấu
các môn phối hợp góp phần nâng cao tổng điểm trong những cuộc thi đấu
điền kinh.
Trong thực tế hiện nay, để đạt được những mục tiêu đề ra thì các giờ
dạy chính khóa là chưa đủ vì thời gian tiết học môn thể dục trong các trường
quá ngắn và ít vì vậy việc dạy hoàn thiện kỹ thuật cho học sinh trung học phổ
thông về môn chạy 1500m là rất khó khăn.Để trang bị cho các em một thể lực
tốt thì việc lựa chọn, xây dựng các bài tập phù hợp cần có sự giúp đỡ, tổ chức
tập luyện ngoài giờ cho các em khi điều kiện cho phép. Để các em đạt thành
4
tích cao trong quá trình học tập là việc làm rất có ý nghĩa. Xuất phát từ những
Thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh giả
phóng miền nam 1954 - 1975, Đảng ta đưa ra chiến lược phát triển
TDTT trong nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III [11]
là “phát triển TDTT, nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần xây dựng
và bảo vệ miền bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền nam”. Sau Đại
hội Đảng lần thứ III năm 1961, Bác Hồ một lần nữa viết thư cho Hội
Nghị cán bộ TDTT miền bắc nêu rõ tầm quan trọng của TDTT đối với
việc nâng cao sức khỏe nhân dân.
6
Năm 1970, Đảng ta ra chỉ thị 170/CT-TW về việc phát triển phong trào
TDTT, chỉ thị này đã được nhân dân tích cực hưởng ứng góp phần nâng cao
thể lực cho quân dân tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ngày 30/4/1975 đất nước hoàn toàn giải phóng mở ra một trang sử
mới, thách thức mới, Đảng ta đưa ra chiến lược trong văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ VI, VII, VIII, IX và hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992 cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng
và Nhà nước ra chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/3/1994 về công tác TDTT và mới
đây chỉ thị 17/CT tháng 10/2001 về chiến lược phát triển TDTT đến năm
2010 và những năm tiếp theo.
Ngày 2/4/1998 thường vụ Bộ Chính trị ra thông tư số 03/TT -TW về
tăng cường lãnh đạo công tác TDTT, thông tư yêu cầu các tổ chức, cơ quan,
ban ngành đoàn thể, tiếp tục thực hiện các quan điểm, mục tiêu và giải pháp
lớn về công tác TDTT theo tinh thần chỉ thị 36/CT- TW của Ban Bí thư Trung
ương Đảng khóa XII.
Thông qua những quan điểm trên của Đảng và Nhà nước về công tác
TDTT, đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho việc phát triển sự nghiệp TDTT của
nước ta hiện nay và tương lai.
căng thẳng nào đó thì sau một thời gian con người cảm thấy việc thực hiện đó
càng trở nên khó khăn hơn. Bên ngoài có thể nhận thấy một cách khách quan
qua một số dấu hiệu tương đối rõ rệt như cơ mặt căng thẳng, mặt đỏ, toát mồ
hôi, khi trong cơ thể diễn ra những biến đổi sinh lý khá sâu sắc.
Mặc dù khó khăn dần tăng nhưng con người vẫn có thể duy trì được
cường độ hoạt động trong một số thời gian nhờ những nỗ lực ý chí lớn, trạng
thái đó gọi là giai đoạn mệt mỏi có bù. Nếu cường độ hoạt động giảm đi mặc
dù nỗ lực ý chí tăng lên thì người ta gọi là giai đoạn mệt mỏi mất bù, việc
giảm sút tạm thời năng lực hoạt động do sự vận động gây nên gọi là mệt mỏi.
Mệt mỏi biểu hiện ở các hoạt động của cơ thể trở nên khó khăn hơn hoặc
8
không tiếp tục với hiệu quả cũ.Nếu có một số người cùng thực hiện nhiệm vụ
nào đó thì hiện tượng mệt mỏi của các em sẽ xuất hiện ở các thời điểm khác
nhau. Đó là mức độ phát triển sức bền khác nhau như vậy có thể định nghĩa
sức bền như sau: sức bền là khả năng của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một
hoạt động nào đó mà hoạt động vận động của con người rất phong phú và cơ
chế mệt mỏi của mỗi loại mang tính đặc thù khác nhau.
Mặt khác ở lứa tuổi này, đa số các em thường tỏ ra tích cực học một số
môn mà các em cho là quan trọng có ảnh hưởng tới nghề của mình trong
tương lai mà sao nhãng các môn học khác chỉ lấy điểm trung bình. Do vậy,
giáo viên và huấn luyện viên cần giúp cho học sinh hiểu được ý nghĩa và chức
năng của giáo dục phổ thông đối với giáo dục chuyên ngành.
Do vậy việc nắm vững đặc điểm tâm lý lứa tuổi là điều rất quan trọng
đối với các giáo viên và các huấn luyện viên. Cần phải thường xuyên quan
sát, giáo dục phù hợp trên cơ sở tích cực, sáng tạo, biết điều chỉnh tổ chức
hoạt động cho các em, tạo điều kiện phát triển tốt khả năng của mình, giáo
dục các em trở thành con người có năng lực và nhân cách tốt.
Cần xác định làm sao để lúc ta tiến hành hoạt động sau thì cơ thể người
tập đang có biến đổi thuận lợi của hoạt động trước.
Tính chất nghỉ ngơi tích cực cần xen kẽ với hoạt động cường độ thấp.
Số lần lặp lại tùy thuộc vào tần số nhịp tim để xác định LVĐ ấy ngoài
ra còn kết hợp thở trong chạy cự ly 1500m để nâng cao khả năng ưa khí.
Phương pháp khả năng yếm khí (yếm khí là khả năng vận động của cơ thể
trong điều kiện dựa vào nguồn cung cấp năng lượng yếm khí), là tạo điều kiện
thuận lợi cho thực hiện những hoạt động yếm khí bởi vì quá trình trả nợ oxi
diễn ra một phần ngay trong lúc vận động và có khả năng ưa khí cao thì phần
trả nợ oxi trong lúc vận động đó sẽ lớn hơn hiệu quả vận động sẽ tăng lên.
10
Tuy nhiên nhiệm vụ chính ở đây là tăng cường khả năng giải pháp năng
lượng nhờ các phản ứng phân hủy phốt pho creatin và phân hủy gluco đồng
thời nâng cao khả năng chứa đựng trạng thái nợ oxi ở mức độ cao.
Các bài tập nhằm hoàn thiện cơ chế giải phóng năng lượng phân hủy
phốt pho creatin có những đặc điểm sau:
- Cường độ hoạt động gần mức độ tối đa hoặc thấp hơn một chút.
- Thời gian của bài tập chỉ giới hạn từ 7 phút đến 10 phút. Sở dĩ như vậy vì cơ
chế này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn từ 7 đến 10 phút ngay sau khi vận
động.
- Thời gian nghỉ giữa quãng là 5 đến 8 phút là trạm hồi phục phân hủy phốt
pho creatin. Sự phân hủy phốt pho creatin tạo ra axit lactic nên tốc độ trả nợ
oxi rất nhanh.
Nhưng dự trữ phốt pho creatin trong cơ ít sau 3 đến 4 lần lặp lại thì
hoạt động của cơ chế gluco phân sẽ tăng lên còn cơ chế phốt pho creatin sẽ
giảm.
Để khắc phục hiện tương này người ta chia các bài tập thành 3 đến 4
tăng lên nhanh chóng đạt đến 180 – 200 lần/phút. Huyết áp tăng tối đa từ 180
– 200 mmHg.
Huyết áp tối thiểu hơi tăng hoặc không thay đổi.
Thể tích tâm thu tăng rất mạnh so với trạng thái bình thường (sau 3 – 4
phút hoạt động thể tích máu đạt từ 35 – 40 lít/ phút).
Tần số hô hấp và thể tích hô hấp tăng nhanh và sau khi chạy sẽ đạt tốc
độ tối đa của mỗi người.
- Nợ oxi khoảng 60 – 80 %.
- Sự phân giải ATP và CP chỉ chiếm 20%, 5% do phân giải yếm khí và 25%
do các quá trình ưu khí.
(ATP: Ađêmôxin Triphốtphát)
(CP: Creatin Phốt phát)
12
Nguồn năng lượng cung cấp glucoza và glucozen trong cơ thể và cả
glucoza trong máu (tuy còn hạn chế).
- Năng lượng tiêu hao calo/ 1 giây vận động.
- Lượng năng lượng tiêu tốn calo/ 1500m.
- Nguyên nhân mệt mỏi trong cự ly chạy 1500m là do các sản phẩm trao đổi
chất tích lũy nhiều trong cơ thể làm giảm độ pH và nội môi về phía axit.
Như vậy trong chạy 1500m nhu cầu oxi trong quá trình thực hiện tương
đối cao và cũng cần khả năng yếm khí nên 1500m cần cả hai nguồn cung cấp
ưa khí và yếm khí hay còn gọi chạy cự ly 1500m là bài tập mang tính hỗn
hợp.
Hơn nữa các em còn chưa được thi đấu các giải lớn nên còn lo sợ ngại
trước đám đông rất hay mặc cảm đó là đặc điểm quan trọng của tâm lý.
1.3.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi THPT
Chúng ta đều biết sức bền phụ thuộc vào 2 yếu tố cơ bản.
trong máu tỉ lệ thuận với thời gian vận động. Điều đó cho thấy hàm lượng axit
lactic cũng biểu thị khả năng sức bền cho con người.
- Glucoza huyết:
Trong hoạt động kéo dài sẽ giảm dần từ 8 – 120mg% đến 50 – 60mg%
trong quá trình tập luyện sức bền giảm đường huyết xảy ra chậm hơn và ít
hơn. Khả năng làm việc khi đường huyết giảm cũng tăng lên vì vậy sức bền
của các em phát triển tốt.
*Hệ tim mạch:
Do lượng oxi ngoài trời cao hơn bên trong cở thể nên khi tập luyện
trong thời gian dài và liên tục lượng oxi trong cơ thể đáp ứng không đủ khi
vận chuyển oxi chủ yếu phụ thuộc vào hô hấp mà còn phụ thuộc vào khả năng
đẩy máu vào tim làm tăng VO2 max với các mạch ở các lỗ chân lông.
14
Lượng oxi mà hệ vận chuyển oxi mang tới trong thời gian hoạt động
chủ yếu sử dụng ở cơ. Sức bền của học sinh phụ thuộc một phần đáng kể vào
đặc điểm cấu tạo và sinh hóa của cơ. Trong quá trình tập luyện sức bền của cơ
thể quan trọng nhất là các biến đổi sau:
- Tăng hàm lượng và hoạt tính của các men trao đổi chất ưa khí (men oxi
hóa).
- Tăng hàm lượng Myoglôbin trong cơ(từ 2 – 5 lần).
- Tăng hàm lượng các chất chứa năng lượng như glucoza và lipit.
- Tăng khả năng oxi hóa đường và đặc biệt mỡ của cơ.
* Hệ vận động:
Xương giảm tốc độ phát triển, sụn ở hai đầu xương vẫn còn dài, nhưng
sụn trở thành xương ít. Cột sống đã được ổn định hình dáng nhưng vẫn chưa
được hoàn thiện nên rất dễ bị cong hoặc chấn thương.
Ở giai đoạn này cơ bắp phát triển nhanh khối lượng cơ tăng lên rất
độ thi đấu, duy trì nó trong quá trình chạy giữa quãng và tạo điều kiện cần
thiết để tăng tốc độ (hay giữ vững nó) khi về đích.
Trên cơ sở tổng kết các tư liệu của các VĐV chạy cự ly trung bình
mạnh nhất, có thể thấy VĐV chạy cự ly trung bình có những đặc điểm sau:
Chiều cao thân thể từ 175 – 180cm.
- Trọng lượng thân thể từ 60 – 70kg.
- Tốc độ tới hạn 5.5 – 5,8m/giây.
- Ở nữ thì các chỉ số này thấp hơn.
VĐV chạy cự ly trung bình cần có khả năng khắc phục khó khăn và
chịu đựng trong nửa sau của cự ly chạy do việc tích tụ nồng độ cao các sản
phẩm của quá trình trao đổi năng lượng dưới dạng axit lactic và sự chuyển độ
PH.
- Kĩ thuật động tác chạy phải có hiệu quả, hợp lý và phối hợp được với chiến
thuật chạy.
16
1.4.2. Phân tích kĩ thuật
Kĩ thuật chạy cự ly trung bình có thể chia thành các giai đoạn: Xuất
phát và tăng tốc độ sau xuất phát, chạy giữa quãng, về đích và dừng sau khi
chạy.
Khác với chạy cự ly ngắn, chạy trên cự ly trung bình, có độ dài bước
nhỏ hơn, tư thế của thân trên thẳng hơn, chân lăng nâng gối thấp hơn, việc
duỗi thẳng chân đạp sau không đột ngột, thở có nhịp điệu và sâu hơn.
a) Xuất phát và tăng tốc độ sau xuất phát
Trong cự ly chạy trung bình, các VĐV thường sử dụng kĩ thuật xuất
phát cao. Theo lệnh “vào chỗ” VĐV bước đến vạch xuất phát và đặt chân
thuận sát sau vạch còn chân kia cách nửa bước về phía sau. Thân trên ngả về
trước, chân gấp lại ở khớp gối, tư thế lúc này cần ổn định và thuận lợi. Sau
chân, cơ thể chuyển sang giai đoạn bay và VĐV được nghỉ một cách tương
đối.
Khi kết thúc đạp sau, chân được thả lỏng và cẳng chân do ảnh hưởng
của quán tính hơi “hất” lên trên, chân co lại ở khớp gối và tích cực đưa đùi ra
trước, đồng thời chân lăng bắt đầu hạ xuống cẳng chân hơi đưa về trước và
chạm đất bằng phần mũi chân. Điều này cho phép thân thể của VĐV theo
quán tính chuyển nhanh tới thời điểm thẳng đứng. Chân chống tựa gập gối
hoãn xung, sau đó lại thực hiện động tác đạp sau ở bước chạy kế tiếp.
-
Hoạt động của tay
Động tác của tay phối hợp nhịp nhàng với động tác của chân. Hoạt
động của tay góp phần giữ thăng bằng và tạo điều kiện tăng hay giảm nhịp
điệu chạy. Trong lúc chạy, tay gấp ở khuỷu gần vuông góc, bàn tay nắm hờ.
Động tác đánh tay mềm mại và uyển chuyển, khi đánh tay ra trước hướng đến
cằm, ra sau hơi ra ngoài. Biên độ động tác đánh tay tùy thuộc vào tốc độ chạy,
tốc độ càng cao tay đánh càng rộng và nhanh.
18
Khi chạy trên đường vòng, VĐV hơi nghiêng thân trên về bên trái một
chút, tay phải vung mạnh hơn, chân đặt mũi chân hơi xoay vào trong.
Khi chạy giữa quãng cần giữ cho động tác thoải mái và có nhịp
điệu. Tần số và độ sâu của nhịp thở có liên quan chặt chẽ với việc tăng
nhịp độ chạy.
c) Về đích
Việc tăng tốc độ về đích được đặc trưng bởi việc tăng tần số bước,
đánh tay mạnh hơn và hơi tăng độ ngả của thân trên. Sau khi qua vạch đích,
chạy, độ dài cự ly, đặc điểm và trình độ chuyên môn của VĐV.
Để đánh giá trình độ kỹ thuật của các VĐV chạy cự ly trung bình cần
chú ý các chỉ số:
+ “ Chỉ số tích cực”, “chỉ số chống” và “hệ số kỹ thuật”
+ “Chỉ số tích cực” (viết tắt là A): trong chạy cự ly trung bình A cần tính từ 1 - 1,1.
A = thời gian bay / thời gian chống
Nếu A giảm có nghĩa là chạy có hiệu quả, tiết kiệm sức.
+ “Chỉ số chống”: chỉ số này được tính bằng thương số giữa thời gian đạp sau
và thời gian hoãn xung chạy cự ly trung bình chỉ số này cần phải ở khoảng
1,5- 2.
+ “Hệ số kỹ thuật”: hệ số kỹ thuật được tính bằng tần số bước chạy chia cho
tích số giữa độ dài bước chạy với hệ số A.
Hệ số kỹ thuật tối ưu cho VĐV chạy 1500m là 1,85- 1,95
+ Không liên quan tới kỹ thuật, nhưng “hệ số sức bền” cũng là một hệ số cần
quan tâm. Trong các môn chạy, hệ số này được tính bằng hiệu số giữa trung
bình thành tích chạy 100m của VĐV ở một cự ly nào đó với thành tích cao
nhất của VĐV đó ở chạy 100m.
Chính vì vậy, để phát triển sức bền chuyên môn trong chạy, việc có
“tốc độ dự trữ” cao là điều rất cần thiết.Với hệ số sức bền như nhau, VĐV có