skkn một số biện pháp giáo dục trẻ 24 36 tháng tuổi nhận biết, phân biệt tốt ba màu xanh đỏ vàng - Pdf 49

1. MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài:
Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người có
ích, thành những con người mới.
Một trong ba mục tiêu của cải cách giáo dục của nước ta là: Làm tốt việc chăm
sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thời thơ ấu nhằm tạo ra cơ sở quan trọng của con
người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể, phát triển toàn diện nhân
cách. Giáo dục mầm non đã góp phần thực hiện mục tiêu trên.
Ngày nay, chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí thức có khoa học
có tình yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, yêu lao động mà còn tạo nên những con
người biết yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giàu ước mơ và sáng tạo, những phẩm chất
này, con người phải được hình thành từ lứa tuổi mầm non, lứa tuổi hứa hẹn bao
điều tốt đẹp trong tương lai. Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến
hành đổi mới, chương trình giáo dục trẻ mầm non, trong đó đặc biệt coi trọng việc
tổ chức các hoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nhân trẻ, khuyến khích trẻ
hoạt động một cách chủ động tích cực, hồn nhiên vui tươi. Đồng thời, tạo điều
kiện cho giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức
các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt, thực hiện phương
châm “Học mà chơi – Chơi mà học” đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ một cách
toàn diện về mọi mặt, Mọi sự vật hiện tượng (Cây cối, trời đất, con người, động
vật…) đều có màu sắc. Màu sắc của sự vật hiện tượng sinh ra từ đâu? Câu hỏi này
không ai trả lời được, chỉ biết rằng từ khi con người sinh ra đã thấy mọi sự vật,
hiện tượng đều mang một màu sắc riêng biệt phong phú và đa dạng.
Nhờ có màu sắc mà con người nhìn nhận cuộc sống, sự vật hiện tương thêm
phong phú và đa dạng. Giả sử mọi sự vật hiện tượng chỉ có một màu duy nhất thì
cuộc sống của con người sẽ như thế nào? liệu con người có tồn tại được không? Và
nếu tồn tại được thì cuộc sống có còn phong phú đa dạng không?
Nói như thế để khẳng định: “Màu sắc trong tự nhiên rất quan trọng đối với cuộc
sống con người” Màu sắc quan trọng đối với đời sống con người, thì màu sắc lại
cũng quan trọng hơn nữa đối với trẻ nhỏ. Khi mới sinh ra, trẻ chỉ nhận ra màu đen

- Giúp trẻ phát triển về Đức, trí, thể, mỹ một cách hài hòa.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Năm học 2017 - 2018 tôi được nhà trường phân công dạy nhóm trẻ 24 - 36
tháng tại khu Cum vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn đối tượng này để làm đề tài nghiên
cứu của mình với 12 trẻ, có 5 trẻ là nam và 7 trẻ là nữ, hầu hết trẻ là con em dân
tộc Thái, để khảo sát thực trạng về tiến độ dạy ở nội dung nhận biết, phân biệt ba
màu cơ bản xanh – đỏ – vàng cho trẻ ở lứa tuổi 24 - 36 tháng.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết, tài liệu
- Phương pháp đàm thoại, giảng giải
- Phương pháp trực quan, minh họa.
- Phương pháp điều tra, thống kê tổng hợp số liệu.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Là giáo viên phụ trách nhóm trẻ 24 - 36 tháng tuổi tôi nhận thấy: Sự quan tâm
của các bậc phụ huynh về vấn đề nhận biết phân biệt màu của con em mình trong
độ tuổi nhà trẻ là không cần thiết. Đối với họ con họ đến lớp được cô giáo chăm
sóc yêu thương, đi học về biết hát một vài bài hát, đọc thuộc vài ba câu thơ như
vậy là họ đã vui rồi. Họ không nghĩ rằng việc giúp con em mình nhận biết và phân
biệt màu cũng rất quan trọng và cần thiết.
Nhưng cũng có nhiều trẻ khả năng nhận biết phân biệt màu còn hạn chế như:
Màu xanh thì lại nói là màu vàng, khi cô yêu cầu chọn đồ chơi màu đỏ thì lại chọn
đồ chơi mang màu xanh (Ví dụ: Cô cầm con cá màu xanh hỏi trẻ “Con cá này màu
gì?” Trẻ trả lời cô “Con cá màu vàng” hay khi cô yêu cầu trẻ “chọn cho cô con cá
màu đỏ” thì trẻ lại chọn con cá màu xanh…)
Trong những năm học vừa qua tôi đã cố gắng rấtt nhiều trong việc dạy trẻ nhận

Trường Mầm Non Trung Tiến thuộc xã miền núi của huyện Quan Sơn với
điều kiện kinh tế xã hội đang gặp nhiều khó khăn. Nhân dân phần lớn sinh sống
bằng nghề sản xuất nông nghiệp, được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, của
các bậc phụ huynh trong toàn xã luôn quan tâm, chăm lo cho sự nhiệp giáo dục xã
nhà, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con em mình được học tập.
Trường có đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ, khoẻ trình độ chuẩn, nhiệt tình, yêu
nghề, mến trẻ luôn xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của mình là chăm sóc giáo dục
trẻ mầm non đạt mục tiêu yêu cầu theo từng độ tuổi.
+ Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên vẫn còn gặp một số khó khăn như nhận thức của
một số phụ huynh còn xem nhẹ việc đưa trẻ đến trường, họ cho rằng con họ vẫn
còn nhỏ chưa biết gì, đến trường các cô chỉ trông trẻ là chính chứ trẻ còn nhỏ chưa
học cái gì, phụ huynh nhận thức về bậc học mầm non còn chừng mực nhất định,
chưa thực sự giúp đỡ giáo viên tạo điều kiện trong việc dạy dỗ các cháu. Số trẻ
trong lớp 100% là con em dân tộc Thái, chưa nói được tiếng phổ thông thành thạo.
Các trẻ nhà trẻ còn bé nên chưa có nề nếp thói quen ngồi học. Mặt khác không
gian phòng học đang còn chật hẹp, phải mượn tạm phòng ở của giáo viên để học
nên trong hoạt động vẫn còn gặp nhiều khó khăn cho cả cô và trẻ.
Vì những khó khăn trên nên kết quả qua khảo sát.
*Bảng khảo sát thực trạng đầu năm học
TT

Nội dung

Tổng số khảo sát thực nghiệm: 12
trẻ
Kết quả
Đạt

Tỷ lệ

3

7

Trẻ nhận biết, phân biệt màu
4


thông qua tạo môi trường
4

58%

5

42%

5

42%

7

58%

6

50%

6

vào các tiết học khác bằng cách chuẩn bị đồ dùng trực quan liên quan đến các tiết
học: tranh ảnh, đồ vật rất đẹp mắt và chủ yếu những đồ dùng đó đều có ba màu cơ
bản: Xanh, đỏ, vàng để gây sự chú ý, thích thú cho trẻ. Trẻ càng chú ý đến hình
ảnh trực quan thì việc dạy trẻ nhận biết phân biệt ba màu xanh, đỏ, vàng càng dễ
dàng và hiệu quả hơn.
*Thông qua hoạt động dạy “ Nhận biết tập nói”
Theo từng chủ đề, chủ đề tôi lựa chọn, sử dụng các đồ chơi, tranh ảnh, vật
thật có màu xanh, hoặc màu đỏ hoặc màu vàng để trẻ gọi tên đồ vật kèm theo màu
sắc. Khi cho trẻ chơi trò chơi để luyện cho trẻ phát âm tôi chọn trò chơi có đồ dùng
5


trực quan mang màu sắc xanh, đỏ, vàng cho trẻ được cầm, được chọn theo yêu cầu
của cô để trẻ phát âm.Từ đó trẻ sẽ hứng thú học hơn và việc lồng ghép, tích hợp
nhận biết màu sắc sẽ thuận tiện hơn và trẻ sẽ khắc sâu tư duy ghi nhớ hơn.
Ví dụ 1: NBTN “Các đồ dùng trong gia đình: Bát, thìa, đĩa” tôi chọn cái bát có hoa
màu đỏ, cái đĩa có hoa màu xanh cho trẻ quan sát và tập nói. Khi cho trẻ quan sát
tập nói tôi không quên hỏi trẻ câu “Cái bát (đĩa) có hoa màu gì?” và cho trẻ phát
âm nhiều lần “Hoa màu xanh” “Hoa màu đỏ” từ đó giúp trẻ nhận biết ba màu xanh,
đỏ .

Trò chơi chọn đồ dùng theo yêu cầu của cô. Tôi chuẩn bị đồ dùng gia đình cho trẻ
- đồ chơi bằng nhựa (Xoong nồi, bát, thìa, đĩa có các màu xanh, đỏ, vàng và yêu
cầu trẻ chọn cái bát, cái thìa… rồi hỏi trẻ về màu sắc và cho trẻ phát âm.

Ví dụ: “Chọn cho cô cái bát” “Cái bát có màu gì? Cho trẻ phát âm “Cái bát màu
xanh
*Thông qua giờ “ Nhận biết phân biệt”
Tôi sử dụng các đồ dùng, đồ chơi có màu sắc khác nhau, các dạng kích thước
to nhỏ khác nhau, để giúp trẻ dễ nhận biết, phân biệt và gây sự tập trung chú ý của

cuốn trẻ vào giờ học say mê tích cực
- Thông qua tiết thơ – truyện:
Sử dụng đồ dùng trực quan gây hứng thú cho trẻ
Ví dụ : Khi dạy bài thơ “Chú gà con”
Ở lần đọc thứ hai, thay vì đọc thơ qua tranh tôi đã đọc qua mô hình: 1 mâm
tròn màu trắng, trên mâm có 5 - 6 chú gà con đang mổ thóc, trông ngộ nghĩnh,
đáng yêu những chú gà này có màu xanh và màu vàng, khi đàm thoại với trẻ tôi sẽ
chú ý lồng ghép tích hợp hỏi trẻ về màu sắc của các chú gà con: Chú gà con có
màu gì?, cho trẻ trả lời và phát âm nhiều lần: “Gà con màu xanh”, “Gà con màu
vàng”

7


* Thông qua tiết thể dục vận động:
Tôi lồng ghép tích hợp cho trẻ nhận biết màu sắc và gọi tên các dụng cụ đồ dùng
trong tiết học như: Quả bóng màu xanh(đỏ), Vòng màu vàng(đỏ), gậy thể dục màu
xanh…

*Qua hoạt động với đồ vật: Qua tiết xếp hình tôi không chỉ rèn luyện kỹ năng
như xếp chồng, xếp cạnh …mà còn tích hợp để nhận biết phân biệt màu thông qua
đồ dùng . Đặt các câu hỏi gợi mở: “khối gỗ màu gì?” “khối gỗ để làm gì?”...
Thông qua mỗi nhánh trong chủ đề tôi chọn một màu duy nhất cho trẻ hoạt
động để từ đó khắc sâu ghi nhớ về màu sắc cho trẻ về ba màu này.
Ví dụ:
Trong nhánh phương tiện giao thông đường bộ có tiết “Xếp ô tô” tôi chọn khối
cho trẻ xếp là khối màu vàng. Trong quá trình trẻ xếp tôi hỏi trẻ về màu sắc và cho
trẻ phát âm “Khối gỗ màu vàng”

8

Ví dụ 2: Trò chơi ở góc mở (Ai thông minh hơn)
Tuỳ vào từng chủ đề lớn và chủ đề nhánh, tôi lựa chọn trò chơi cho trẻ chủ
yếu là trò chơi nhằm giúp trẻ nhận biết phân biệt màu. Như ở chủ đề gia đình, chủ
đề nhánh “đồ dùng của bé” tôi cho trẻ chơi trò chơi chọn trang phục phù hợp với
sở thích của bé. Trên người bé đang mặc váy màu gì thì cho trẻ chọn váy có màu
đó để gắn lên mảng tường. Trò chơi này vừa kích thích tư duy sáng tạo của trẻ lại
vừa giúp trẻ nhận biết phân biệt màu tốt hơn.

Hay ở chủ đề nhánh “Con vật sống trong gia đình” cũng vậy. Tôi gắn hình ảnh ba
ngôi nhà có màu xanh, đỏ, vàng và yêu cầu trẻ chọn con vật có màu tương ứng sẽ
sống trong ngôi nhà(chuồng ) đó và gắn lên mảng tường phía tương ứng.
10


Đối với chủ đề nhánh “PTGT đường bộ” thì khó hơn một chút. Tôi gắn ba
hình ô tô tải màu xanh, đỏ, vàng lên trước và yêu cầu trẻ chọn hình vuông và hình
chữ nhật có màu tương ứng gắn lên mảng tường để ghép thành hình ô tô tải.

* Thông qua mọi lúc mọi nơi
Khi cho trẻ chơi, thấy trẻ cầm bất cứ đồ chơi nào trên tay mà có ba màu trên
thì tôi đều hỏi trẻ “ Con đang chơi đồ chơi gì?” đồ chơi có màu gì” để trẻ trả lời.
Giờ ăn, giờ ngủ, tôi vui vẻ ân cần, nhẹ nhàng trò chuyện với trẻ. Tôi giới thiệu thức
ăn và hỏi: “hôm nay con được ăn gì?” “Cháo nấu với rau(củ) gì? Rau dền màu gì?
Rau cải có màu gì? Củ cà rốt màu gì?”trẻ nhắc lại tên, màu sắc các loại rau.
Giờ đón trả trẻ, giờ chơi tự do tôi trò chuyện gần gũi trẻ để nắm bắt được tâm
lý của từng trẻ, khi trò chuyện tôi lấy một vài đồ chơi có màu xanh, đỏ, vàng để rèn
cho trẻ nhận biết. Đây là thời điểm phù hợp để trò chuyện với trẻ đặc biệt là những
trẻ có kỹ năng nhận biết phân biệt màu chưa thành thạo vì lúc này số trẻ trong lớp
đã ít đi, không đòi hỏi giáo viên phải tập trung nhiều đến trẻ khác .
Ví dụ: Vào buổi sáng tôi trò chuyện về chủ đề những bông hoa đẹp thì tôi chú ý

Bình dầu gội đầu làm con vịt

12


Vỏ thạch dừa làm các chú lợn, ống thuốc bổ phế làm con trâu

Góc thao tác vai: Tôi sắp xếp các con vật gần gũi ngộ nghĩnh như con mèo,
con vịt, con gà, lợn, trâu… Một số thức ăn lúa, gạo, rau, cỏ, chậu đựng thức ăn…
Trẻ được nhìn ngắm, được trực tiếp chơi với con vật, trẻ được đóng vai Bác
nông dân chăm sóc con vật, ngoài ra ở mọi lúc, mọi nơi tôi gợi sự chú ý của trẻ
bằng các câu hỏi: “Trong lớp có những con vật gì?” “con mèo có màu gì?” “Con
gà kêu như thế nào?” “con gì màu đỏ…?”
Góc bé vui khoẻ: Tôi chuẩn bị các mũ múa hình con vật ngộ nghĩnh (con gà,
vịt, mèo…).. Vòng, gậy thể dục, dụng cụ xắc xô…có các màu xanh, đỏ, vàng
Góc bé khéo tay: Một số con vật có đục lỗ để trẻ xâu vòng, đồ chơi lắp ghép
hình con vật, khối gỗ để trẻ xếp chuồng gà, vịt. Ngoài ra trong lớp tôi còn trang trí
tranh ảnh con vật, cờ, hoa, bóng bay, dây xúc xích các loại, ngang tầm với trẻ. Trẻ
có thể lấy chơi một cách thoải mái, tôi gợi hỏi: “cái gì đây?” “con gì đây? “kêu như
thế nào?” “hoa này màu gì?” “đây là hoa gì?”
Môi trường trong lớp với đầy đủ đồ chơi đẹp mắt, được sắp xếp dưới dạng
mở giúp tôi rèn luyện lời nói cho trẻ thuận tiện dễ dàng hơn. Đồ chơi được thay đổi
thường xuyên để mỗi ngày đến trường phải là những “ngày hội” của trẻ.
Mảng tường chính của lớp tôi cố gắng học hỏi đồng nghiệp để tận dụng
nguyên phế liệu làm thật đẹp, thu hút sự chú ý của trẻ bằng các hình ảnh có màu
sắc chủ yếu là màu xanh, đỏ, vàng.
Ví dụ: Chủ điểm giao thông.
13



+ Kết quả quan sát trẻ như sau.
- Bé hiểu được lời nói của cô
- Biết chọn đúng các váy áo màu vàng để gắn tương ứng.
- Bé nói được câu 4 từ ( Váy áo màu vàng)
Ví dụ 2:
Quan sát cháu Hà Ngọc Lương 28 tháng tuổi
Thời gian quan sát 10h đến 10h10’
Mục đích quan sát: Tìm hiểu khả năng phân biệt màu vàng, đỏ
Tôi đưa hai bông hoa có màu vàng và màu đỏ ra hỏi cháu về màu sắc của hai
bông hoa. Mới đầu cháu rụt rè không nói nhưng sau đó được sự động viên của cô
cháu mạnh dạn trả lời nhưng lại trả lời sai về màu sắc của hai bông hoa. Như vậy
khả năng nhận biết và phân biệt màu của cháu Lương còn hạn chế.
Qua các kết quả quan sát này giúp tôi biết cách điều chỉnh phương pháp dạy
trẻ nhận biết, phân biệt màu xanh, đỏ, vàng cho trẻ và lập kế hoạch chăm sóc giáo
dục trẻ phù hợp với nhu cầu của từng trẻ. Từ đó có biện pháp tiếp cận, phân nhóm
hoạt động, tạo điều kiện cho trẻ hoạt động theo sở thích , không gò bó, áp đặt trẻ.
Ví dụ: Cháu Anh thông minh, nhanh nhẹn, nhận biết và phân biệt màu tốt tôi dùng
phương pháp nêu gương khích lệ trẻ.
Cháu Lương rụt rè, khả năng nhận biết và phân biệt màu của cháu Lương còn
hạn chế tôi dùng phương pháp tình cảm động viên nêu gương, dành thời gian tiếp
cận trẻ nhiều hơn để chơi cùng trẻ , trò chuyện với trẻ để luyện khả năng nhận biết
phân biệt màu cho trẻ.
e. Phèi hîp gi÷a nhµ trêng vµ gia ®×nh ®Ó gióp trÎ nhËn
biÕt vµ ph©n biÖt ba mµu xanh, ®á, vµng tèt.
Tôi tranh thủ thời gian gặp gỡ trao đổi bàn bạc với phụ huynh tìm ra những
biện pháp giúp trẻ nhận biết phân biệt màu xanh, đỏ, vàng để giúp đỡ khi trẻ ở nhà.

15



Với những biện pháp trên tôi đã thu được một kết quả đáng mừng, đến nay bộ
môn nhận biết, phân biệt màu ở nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi lớp mà tôi phụ trách các
cháu đã nhận biết phân biệt được ba màu cơ bản tương đối tốt.
2.4. Hiệu quả của “Một số biện pháp giúp trẻ 24 - 36 tháng tuổi nhận biết
phân biệt tốt ba màu xanh - đỏ - vàng” đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.

16


Trước khi chưa thực hiện các biện pháp này, khả năng nhận biết phân biệt ba
màu xanh, đỏ, vàng còn nhiều hạn chế, khả năng của trẻ không đồng đều.
Nhưng trong quá trình tìm tòi suy nghĩ và thực hiện tại nhóm trẻ 24 - 36 tháng
tôi phụ trách đã thu được kết quả rất khả quan. Trẻ hứng thú tích cực say mê
học tập, khả năng nhận biết phân biệt ba màu trên của trẻ qua từng giai đọan
đồng đều hơn. Dù tháng tuổi khác nhau, nhưng khả năng nhận biết phân biệt
màu xanh, đỏ, vàng của các cháu rất tốt.
* Kết quả khảo sát cuối năm.
TT

Nội dung

Tổng số khảo sát thực nghiệm: 12
trẻ
Kết quả
Đạt

Tỷ lệ

Chưa


83%

2

17%

10

83%

2

17%

Trẻ nhận biết, phân biệt màu thông
qua hoạt động quan sát trẻ

5

1

Trẻ nhận biết, phân biệt màu thông
qua tạo môi trường

4

92%

Trẻ nhận biết, phân biệt màu thông

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
- Kết luận:
Qua thực tế công tác giáo dục trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi tại trường Mầm
non Trung Tiến mà trực tiếp là nhóm nhà trẻ mà tôi phụ trách.
Tôi thấy việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhận biết, phân biệt và các môn học
khác nói chung là vô cùng quan trọng tạo điều kiện để cho công tác giáo dục Mầm
non nó có tính chất quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ những
kết quả trên là do sự nỗ lực của bản thân, tôi đã tham khảo và nghiên cứu những tài
liệu có liên quan đến giáo dục mầm non. Luôn học hỏi kinh nghiệm của đồng
nghiệp, dự giờ giáo viên giỏi trong trường thường xuyên đề nghị tổ chuyên môn dự
giờ của mình và góp ý, tự mình rút ra bài học kinh nghiệm.
Ngoài ra còn có sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo. BGH trường Mầm non nhiệt tình
giúp đỡ đặc biệt là phối kết hợp giữa các phụ huynh học sinh về việc chăm sóc
giáo dục trẻ.
- Kiến nghị:
Với kết quả như trên tôi đề nghị với BGH nhà trường, địa phương đưa phương
pháp cải tiến của tôi, áp dụng vào những lớp nhà trẻ còn lại trong trường.
Rất mong được sự bổ sung góp ý của các cấp lãnh đạo, của BGH, bạn đồng
nghiệp để tôi có thêm phương pháp cải tiến mới, trong tất cả các môn học để đáp
ứng được với việc giáo dục mầm non ngày nay đó là niềm tự hào của một người
đứng trong đội ngũ giáo viên Mầm non, để trẻ trở thành người có ích trong xã hội
sau này.
Trên đây là nhưng kinh nghịêm rút ra từ bản thân.Vì điều kiện thời gian có hạn
nên kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi phần thiếu sót và hạn chế những vấn đề
đó mong muồn cấp trên giúp đỡ góp ý kiến để tôi hoàn thành tốt hơn trong quá
trình công tác của mình.
18


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG

1. MỞ ĐẦU.
1.1. Lý do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.5.Những điểm mới của SKKN
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lý luận của SKKN
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.3. Một số biện pháp giúp trẻ 24 – 36 tháng tuổi nhận biết, phân biệt tốt ba
màu xanh, đỏ, vàng.
2.4. Hiệu quả cuả “Một số biện pháp giúp trẻ 24 – 36 tháng tuổi nhận biết, phân
biệt tốt ba màu xanh, đỏ, vàng đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
a. Kết luận.
b. Kiến nghị.
20


MỤC LỤC
MỤC LỤC

Trang
1

1. MỞ ĐẦU.
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu

hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- Kết luận

26
26

- Kiến nghị

26

- Tài liệu tham khảo + Phụ lục.

27

21


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status