MỤC LỤC
Nội dung
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng hiểu biết về tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh đối
với học sinh
3. Một số phương pháp lồng ghép trong bài dạy
3.1. Sự chuẩn bị của giáo viên
3.2. Tiến hành lồng ghép trong giờ học
3.2.1. Về lòng yêu nước thương dân và tư tưởng độc lập tự do
3.2.2.Giáo dục cho học sinh về tình yêu thương con người bao la
của Bác
3.2.3. Giáo dục tư tưởng: Chăm lo, bồi dưỡng cho các thế hệ trẻ
3.2.4. Giáo dục cho học sinh tinh thần vì dân vì nước của Bác
3.2.5. Giáo dục cho học sinh học tập đức tính giản dị của Hồ Chủ
Tịch
3.2.6. Giáo dục đạo đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư
3.2.7. Giáo dục tư tưởng tinh thần đoàn kết của Bác
3. Kết quả đạt được
4. Kết luận, kiến nghị
4.1. Kết luận
4.2. Kiến nghị
Trang
2
2
tuổi thanh thiếu niên nói chung và học sinh nói riêng như: vấn đề sử dụng ma
túy và hiểm họa AIDS, vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân, vấn đề vi phạm
an toàn giao thông, vấn đề bạo lực học đường, lối sống thực dụng lấy đồng tiền
làm mục đích cuối cùng của cuộc sống, lối sống hưởng thụ, tự do vô kỉ luật... đã
và đang là mối quan tâm lo lắng của mỗi người, mỗi nhà và toàn xã hội.
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã và đang phát động cuộc vận
động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" một cách sâu
rộng trong toàn Đảng và toàn dân trên phạm vi cả nước. Mục đích là: khơi dậy
và phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp; đấu tranh khắc phục sự suy
thoái về đạo đức, lối sống; chặn đứng, đẩy lùi các tệ nạn xã hội... hình thành và
phát triển các giá trị đạo đức của Chủ nghĩa xã hội, xây dựng con người Việt
Nam Xã hội chủ nghĩa có nhân cách tốt đẹp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có lối
sống văn minh, xây dựng quan hệ xã hội lành mạnh, tiến bộ.
Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một
vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó
đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình dị mà ai cũng có thể
học tập để làm một người công dân tốt. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng
nói: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, chói mà không rợp, mới
gặp lần đầu đã thấy quen thuộc”.
Đạo đức Hồ Chí Minh là một phần giá trị rất quan trọng trong nền văn hóa
Việt Nam. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang đẩy mạnh
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu hướng đổi mới, hội nhập quốc tế.
Vì vậy, việc học tập, rèn luyện tư tưởng, đạo đức lối sống và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết. Bởi vì, tư tưởng, đạo
đức Hồ Chí Minh là nền tảng của xã hội, là động lực để giúp chúng ta vượt qua
khó khăn, thử thách để phát triển kinh tế đất nước, hoàn thiện nhân cách của mỗi
con người.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng ấy, vì vậy từ năm 2006 Bộ
chính trị đã triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”; đến ngày 15/5/2016, Bộ chính trị đã đề ra chỉ thị số 05CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về: lòng yêu nước, truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, lòng biết ơn, Tinh thần đoàn kết, lòng yêu thương con
người, tính giản dị...
- Học sinh lớp 8, 9 trường THCS-DTNT Quan Sơn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Tìm hiểu các tác phẩm:
+ Kể chuyện đạo đức Hồ Chí Minh.
+ Các chuyên đề về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh (Nxb chính trị quốc
gia).
+ Các tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Bác.
+ Tài liệu tập huấn tích hợp nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh.
- Trao đổi với học sinh.
- Khảo sát thực tế.
2. Nội dung.
2.1. Cơ sở lí luận:
Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã và đang thực
hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,
trên khắp cả nước, các nhà trường đã và đang phát động tổ chức thực hiện cuộc
vận động này. Để góp phần tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động này thì việc lồng
3
ghép giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết. Nhà truờng chính
là một môi trường tốt để truyền bá tư tưởng giáo dục thế hệ trẻ về tư tưởng Hồ
Chí Minh, tư tưởng Hồ chí Minh cần được tích hợp trong môn học sẽ đem đến
cho học sinh một niềm tin, nhận thức đúng đắn, tránh những tư tưởng sai lệch do
những thông tin ngoài luồng, do tác động của xã hội.
Tấm gương về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch
cho học sinh, nhằm hạn chế vấn đề học sinh vi phạm nội quy nhà trường như
thời gian qua.
2.2. Thực trạng hiểu biết về tư tuởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với học sinh:
Sách giáo khoa môn Lịch sử có nhiều sự kiện về Hồ Chí Minh đặc biệt là
Lich sử lớp 9, hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trình bày
kỹ hơn và lồng với kiến thức lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, qua học tập các môn
khoa học xã hội, qua bộ môn Lịch sử, qua sinh hoạt đoàn đội, qua việc tiếp nhận
4
những thông tin đại chúng, ở mức độ nhất định các em cũng đã hiểu được cuộc
đời hoạt động, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức được vai trò, công lao to lớn
của Bác đối với dân tộc và nhân loại. Nhưng hiểu biết của các em về Bác Hồ
còn đơn giản, chưa sâu sắc, nặng về cảm tính, sự tiếp thu, lĩnh hội kiến thức còn
mang tính đối phó, nên tác động về tư tưởng Hồ Chí Minh đến suy nghĩ hành
động của các em chưa mạnh mẽ, chưa có hiệu quả cao, có học sinh còn cho rằng
“Tư tưởng Hồ Chí Minh quá vĩ đại, các em không đủ sức để lĩnh hội”.
Thực tế hiện nay cho thấy, chất lượng học môn lịch sử của học sinh còn
quá thấp, đặc biệt là ở miền núi. Nhiều em ở vùng sâu vùng xa đi lại khó khăn,
gia đình hoàn cảnh ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập. Đa số các em vẫn còn
thói quen học vẹt, không nắm sâu được kiến thức, vì vậy sẽ mau quên kiến thức
cũ, hoặc có nhớ thì cũng không thực sự chính xác các sự kiện lịch sử. Mặt khác,
các em không thích học môn lịch sử vì cho rằng đó là môn phụ, không quan
trọng lại có quá nhiều mốc thời gian và sự kiện khô khan, khó nhớ. Vì vậy, các
em không hứng thú trong học tập môn này, hoặc chỉ học qua loa đối phó. Vậy,
phải làm sao để thu hút được học sinh có hứng thú và chuyên tâm hơn trong học
môn lịch sử?
Xuất phát từ thực tế bức thiết đó, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Kinh
nghiệm giáo dục tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào dạy lịch sử Việt Nam
lớp 8, 9”.
khi ra đi tìm đường cức nước.
Để giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm tìm con
đường cứu nước cho dân tộc, đặc biệt là tính tự lập của bản thân. Giáo viên kể
chuyện “Hai bàn tay”:
Khi vào Sài gòn Nguyễn Tất Thành gặp lại anh Tư Lê người quen cũ lúc
còn ở Phan Thiết . Người tâm sự với Tư Lê:
- Tôi muốn ra các nước phương Tây xem họ làm như thế nào sau đó trở về giúp
đồng bào chúng ta.
- Nhưng chúng ta lấy tiền đâu để đi - Tư Lê nói lại.
- Nguyễn Tất Thành giơ hai bàn tay nói: Đây tiền đây, tiền đây chúng ta làm bất
cứ việc gì để sống và để đi.
- Tư Lê không giữ lời hứa, Bác một mình làm phụ bếp trên tàu La-tu-sơ-trơ-rêvin ra nước ngoài tìm đường cứu nước.
Sau khi kể song giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh: Qua câu chuyện trên
em thấy ở Bác thể hiện đức tính gì?
Để các em trình bày nhận thức của bản thân, sau đó giáo viên kết luận:
Câu chuyện thể hiện ý chí và nghị lực, tinh thần vượt qua khó khăn và thử thách
để thực hiện khát vọng là tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc.
Thông qua việc giáo viên kể chuyện học sinh thấy được ý chí và nghị lực,
tinh thần vượt qua khó khăn và thử thách để đạt được khát vọng của mình, điều
Bác hằng nung nấu bấy lâu nay là tìm thấy con đường cứư nước cho dân tộc,
học sinh càng biết ơn Bác đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc
ta để có cuộc sống như ngày nay.
Giáo viên giáo dục cho học sinh: Ngoài việc biết ơn Bác đã vượt qua gian
lao để tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, để ta có được cuộc
sống như ngày nay, thì các em cần học ở người đó là tính tự lập bản thân, vượt
qua khó khăn. Vì “bàn tay ta làm nên tất cả; có sức người sỏi đá cũng thành
cơm”. Giáo viên nhắc nhở học sinh, cần phải biết cách tự chăm sóc bản thân
mình như: tự giặt ủi quần áo, các đồ dùng cá nhân và phụ giúp việc nhà...
Qua mẫu chuyện trên giáo viên phải giáo dục cho học sinh tính tự lập, ý
chí vượt khó, mọi việc đều làm nên từ chính đôi bàn tay của chính mình.
3.2.2.Giáo dục cho học sinh về tình yêu thương con người bao la của Bác:
- Giáo dục cho học sinh về tình yêu thương con người bao la của Bác
trong hành trình tìm đường cứu nước:
Khi đến Mĩ người đã nhìn thấy Tượng Nữ thần Tự do, không giống như
những du khách khác khi đến đây người ta chỉ chú ý đến vẻ đẹp về nghệ thuật
của bức tượng. Người đã nhìn rất chăm chú hình ảnh những người phụ nữ da
đen đang bị chà đạp được khắc ở phía dưới của bức tượng. Người đã ghi lại dưới
chân tượng nữ thần tự do dòng chữ “Ánh sáng trên đầu nữ thần tự do tỏa rộng
khắp trời xanh, còn dưới chân thần tự do thì người da đen bị chà đạp, số phận
người phụ nữ bị chà đạp, đến bao giờ người da đen mới được bình đẳng với
người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Bao giờ người phụ
nữ bình đẳng với nam giới?.
Giáo viên có thể hỏi học sinh: Qua đoạn văn trên của Bác, em cảm nhận
được điều gì?
Giáo viên gọi học sinh trả lời và củng cố: Bác là người có tình yêu thương
con người bao la. Tình yêu của Bác không chỉ dành cho dân tộc ta, mà dành cho
tất cả các dân tộc trên thế giới, cho tất cả những ai bị đọa đầy đau khổ. Qua đó
giáo viên giáo dục cho học sinh tình yêu thương con người, trước tiên là hãy biết
yêu thương gia đình, người thân, bạn bè, yêu các dân tộc trên đất nước Việt Nam
ta. Có yêu thương thì mới có gắn kết với nhau, mới tạo thành khối đoàn kết dân
tộc, làm nên sức mạnh toàn dân để xây dựng đất nước, để chống lại kẻ thù...
- Hoặc khi dạy chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1947, giáo viên có thể kể
câu chuyện: “trong một lần người đã đến thăm người tù binh Pháp, giữa mùa
7
đông giá lạnh, thấy anh rét run người, Bác đã lấy chiếc áo khoác đang mặc trên
người khoác lên người anh ta khiến cho người tù binh Pháp đã rơi lệ”.
Qua câu chuyện trên, giáo viên hỏi học sinh: Em có nhận xét gì về hành
động của Bác?
niên Việt Nam giác ngộ cách mạng, định hướng tư tưởng cách mạng vô sản.
Đồng thời, thể hiện tư tưởng chăm lo bồi dưỡng đội ngũ kế cận, chăm lo giáo
dục tư tưởng cách mạng cho thế hệ thanh niên, giúp cho học sinh nhận thức
được tổ chức Đoàn là cánh tay đắc lực của Đảng, Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên là tiền thân của sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Qua việc lồng ghép giáo dục tư tưởng cho học sinh thấy được suốt cuộc
đời hoạt động của Bác lúc nào Người cũng chăm lo bồi dưỡng đội ngũ kế cận,
chăm lo giáo dục tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ. Từ đó giáo viên giáo dục cho
học sinh nhận thức được vai trò của thế hệ trẻ các em trong sự nghiệp xây dựng
8
và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, thanh niên là lực lượng nòng cốt. Vì thanh niên là lực lượng có sức khỏe,
có hoài bão, có nghị lực, có văn hóa, dám nghĩ, dám làm… Từ việc giáo dục tư
tưởng này để cho học sinh nhận thức được vài trò của thế hệ thanh niên trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ đó ra sức học tập, chiếm lĩnh đỉnh cao tri
thức nhân loại góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bác không chỉ chăm lo bồi dưỡng tư tưởng cách mạng cho thế hệ thanh
niên mà Người còn quan tâm đến các cháu thiếu niên nhi đồng:
Ngay sau khi khai trường đầu tiên sau cách mạng Hồ chủ tịch căn dặn thế
hệ trẻ “Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong, chờ đợi các em rất
nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có
trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để
sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không. Chính là nhờ phần lớn
ở công học tập của các em” và Bác căn dặn thanh niên, nhi đồng “Muốn làm
người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và
nghị lực của mình, phải ra sức làm việc để chuẩn bị cho cái tương lai đó. Ngày
nay các cháu là nhi đồng ngày mai các cháu là chủ của nước nhà, của thế giới.
Các cháu đoàn kết thì thế giới hòa bình, và dân chủ, sẽ không có chiến tranh.
Qua đó, giáo viên cần giáo dục học sinh: tinh thần yêu nước, tinh thần
quyết tâm, phải tập trung tinh thần, vượt qua khó khăn để thực hiện mục tiêu,
hoài bão, ước mơ…
Hoặc khi giảng đến đoạn sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
giáo viên kể mẩu chuyện: Khi họp ban tổ chức chuẩn bị cho ngày tuyên bố độc
lập, sau khi nghe các đồng chí trong ban tổ chức báo cáo về sự chuẩn bị cho
buổi lễ xong, Bác nhẹ nhàng nói “Bác nghe các chú báo cáo về sự chuẩn bị cho
buổi lễ khá chu đáo. Tuy nhiên, Bác không nghe chú nào báo với Bác là nhà vệ
sinh được bố trí ở đâu?”
Sau khi kể song, giáo viên hỏi học sinh: Qua câu hỏi đó của Bác, em có
nhận xét gì?
Giáo viên mời học sinh phát biểu và củng cố: Bác là người luôn tỉ mỉ,
chăm chút từng việc nhỏ. Qua đó, giáo viên giáo dục cho học sinh: Không nên
chủ quan, hãy quan tâm đến tất cả mọi việc của bản thân, gia đình, trường lớp và
xã hội; dù ở bất kì cương vị nào cũng phải lao động, phải làm tất cả mọi việc.
Hãy làm vệ sinh khi thấy nhà, trường, lớp bẩn,… đừng bao giờ nghĩ đó không
phải là công việc của mình, nhằm góp phần giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường.
Khi dạy bài 24 lịch sử 9: Cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ
nhân dân. Mục tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám. Giáo viên có thể
tích hợp tư tưởng nhân văn của người, thể hiện qua các biện pháp giải quyết
những khó khăn về nạn đói, nạn dốt sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Giáo
viên có thể trình bày: Để giải quyết nạn đói, trước mắt người phát động tinh thần
“nhường cơm sẻ áo”, “hũ gạo tiết kiệm”, “ngày đồng tâm” và Bác là người thực
hiện trước “cứ ba bữa nhịn ăn một bữa” lấy gạo đó cứu dân nghèo. Hoặc biện
pháp giải quyết nạn dốt, người từng nói “giặc đói, giặc dốt, nguy hiểm tựa giặc
ngoại xâm”, vì vậy người kí xác lệnh lập cơ quan “Nha bình dân học vụ”, tiến
hành xóa nạn mù chữ. Để giúp học sinh có cái nhìn chân thật, khắc sâu hơn, giáo
viên có thể sử dụng những đoạn phim tư liệu về nạn đói cuối năm 1944, đầu
năm 1945. Qua những kiến thức trên giáo viên giúp cho học sinh: Tinh thần
đoàn kết, tiết kiệm và ý thức tự giác trong học tập. Giáo viên có thể dẫn chứng
cuối cùng để bảo vệ nền độc lập tự do của tổ quốc”.
Giáo viên có thể nêu câu hỏi: Câu nói trên của Bác thể hiện điều gì?
Sau đó giáo viên mời học sinh phát biểu và củng cố: Thể hiện tư tưởng
độc lập dân tộc, sự quyết tâm đánh kẻ thù xâm lược. Qua đó giáo viên giáo dục
học sinh tinh thần yêu nước: Việt Nam ta là một dân tộc nhỏ bé, nhưng những
chiến công hiển hách của ông cha ta đã làm “chấn động cả địa cầu”, ta đã lần
lượt đánh bại hai tên đế quốc hùng mạnh nhất của thế giới tư bản. Từ đó cho
thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng sức mạnh của dân tộc, bằng tinh thần
đoàn kết, ý chí quyết tâm, dân tộc ta sẽ có đủ khả năng để đánh bại bất cứ kẻ thù
xâm lược nào. Giáo viên kêu gọi học sinh luôn vững niềm tin vào sự lãnh đạo
của Đảng, luôn đoàn kết và thể hiện tinh thần yêu nước qua việc học tập, lao
động, đóng góp theo sức lực của mình để bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước.
- Khi dạy bài 26 lịch sử 9: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống Thực Dân Pháp (1950 – 1953). Mục IV: Phát triển hậu phương
kháng chiến về mọi mặt. Giáo viên tích hợp nội dung: Xây dựng và phát triển
hậu phương vững mạnh. Nhằm xây dựng hậu phương vững mạnh để chuẩn bị
cho một giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Đầu năm 1953, Đảng ta tiến hành
5 đợt giảm tô và 1 đợt cải cách ruộng đất ở một số xã thuộc vùng tự do. Giáo
viên nhấn mạnh: Cải cách ruộng đất trong kháng chiến là một sáng tạo của cách
mạng Việt Nam trong việc kết hợp dân tộc – dân chủ.
Khi giảng giáo viên nhấn mạnh cụm từ “dân tộc – dân chủ” và đặt câu
hỏi: Tại sao cải cách ruộng đất trong kháng chiến được coi là sự sáng tạo của
cách mạng Việt Nam trong việc kết hợp vấn đề dân tộc – dân chủ?
Giáo viên gọi học sinh trả lời và chốt ý: Vấn đề dân tộc – dân chủ là tư
tưởng cốt lõi của Bác, được thể hiện trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng, đó là đánh đế quốc và phong kiến. Đánh đế quốc là giành độc lập dân tộc,
đánh phong kiến là giải quyết vấn đề bình đẳng giai cấp trong xã hội, đặc biệt là
11
- Khi dạy bài 28 lịch sử 9: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu
tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền sài gòn ở miền Nam (1954 – 1965).
Khi dạy mục I: Tình hình nước ta sau hiệp định Giơ-ne-vơ 1954. Đất
nước ta tạm thời chia làm hai miền: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng tiến
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam chịu ách kìm kẹp của Mĩ – Ngụy.
Nhân dân hai miền thực hiện hai nhiệm vụ khác nhau: Miền Bắc hàn gắn vết
thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội
đạt nhiều thành tựu; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân, trực tiếp đấu tranh chống Mĩ và tay sai giành nhiều thắng lợi.
Giáo viên giáo dục tinh thần lao động của nhân dân miền Bắc và tinh thần
chiến đấu dũng cảm của nhân dân miền Nam: Miền Bắc với vai trò là hậu
phương, nhân dân miền Bắc thi đua sản xuất thực hiện mục tiêu kế hoạch 5 năm
xây dựng chủ nghĩa xã hội và đảm bảo sự chi viện cho chiến trường miền Nam;
12
nhân dân miền Nam làm nên phong trào “Đồng khởi”; đánh bại chiến lược
“chiến tranh đặc biệt” của Mĩ. Sau thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”,
Mĩ trực tiếp nhảy vào miền Nam. Bác đã kêu gọi cả nước đứng lên chống Mĩ.
Người nói: “Dù Mĩ có đưa mấy chục vạn quân vào miền Nam, nhân dân ta cũng
quyết tâm đánh bại chúng, chúng càng thua đau ở miền Nam thì chúng điên
cuồng ném bom miền Bắc. Đế quốc Mĩ giống như con thú giữ bị thương cố giãy
giụa trước hơi thở cuối cùng. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày
thống nhất ta xây dựng đất nước đoàng hoàng hơn tươi đẹp hơn...”
Qua câu nói của Bác giáo viên giúp cho học sinh thấy được khả năng dự
đoán tình hình rất chính xác của Bác (thất bại ở miền Nam, Mĩ sẽ đưa quân đánh
phá miền Bắc) và niềm tin tất thắng, tư tưởng không có gì quý hơn độc lập tự
do. Từ đó giáo viên giáo dục cho học sinh: Trong cuộc sống phải biết hoạch định
được kế hoạch, dự báo được tình hình, tin tưởng vào khả năng thực hiện, niềm
tin vào tương lai tươi sáng và hãy luôn nhớ “chính nghĩa luôn thắng hung tàn”.
Bởi vì thế hệ thanh thiếu niên hiện nay do bị tác động bởi nhiều yếu tố,
như phim ảnh, lối sống không lành mạnh đã suy thoái về đạo đức, lối sống, từ
trang phục, lối sống, cách cư xử với mọi người… Vì vậy, giáo dục học sinh học
tập đức tính giản dị của Bác là vô cùng cần thiết, từ đó góp phần hình thành
nhân cách cho học sinh.
Khi giảng đến chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950, giáo viên có
thể cho học sinh xem hình: Người đang theo dõi mặt trận Đông Khê (cao Bằng);
Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Biên Giới năm 1950.
Sau khi học sinh xem hình ảnh, giáo viên đặt câu hỏi: Qua hình ảnh trên,
em có nhận xét như thế nào về Bác?
Sau khi học sinh nhận xét, giáo viên chốt ý: Do tầm quan trọng của chiến
dịch Biên giới Thu – Đông 1950, nên Bác không sợ hy sinh, gian khổ, trực tiếp
ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch. Phong cách của Bác rất bình dị, Bác luôn gần gũi
với các chiến sĩ. Bác chưa bao giờ tự cho mình có quyền được hưởng những đặc
quyền, đặc lợi. Từ những phẩm chất cao quý đó của Bác, giáo viên giáo dục học
sinh về ý chí, không sợ hy sinh, gian khổ, sự bình dị, không nên đua đòi, lối
sống chan hòa, tình cảm với mọi người sung quanh.
Để nói thêm về tính bình dị, giáo viên có thể minh họa bằng câu nói sau
của Bác: “Tôi có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà
hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo
mặc, ai cũng được học hành. Nếu nhân dân tín nhiệm tội đứng ra gánh vác công
việc nước, không được nhân dân tín nhiệm thì tôi về làm bạn với trẻ chăn trâu
và cụ già hái củi...”. Trong bữa ăn các món ăn rất giản dị, thịt gà do Người nuôi,
cá bắt dưới hồ, có khi Người để lại đĩa thịt gà mà ăn trọn những quả cà xứ nghệ.
Giáo viên có thể dùng câu chuyện: Nhà nước đề nghị phong tặng huân
chương và tạc tượng Bác. Bác nói: “Đất nước có chiến tranh các chú để đồng
đúc đạn để đánh giặc”.
Qua câu nói trên cho thấy, Bác Hồ của chúng ta vô cùng giản dị, Dù ở
cương vị nào lối sống của Người cũng giản dị, một đôi dép cao su, bộ đồ ka ki
đã ngả màu theo thời gian. Người sống giản dị nhưng không tầm thường, trên
thì phải hội tụ những đức tính nào? Bản thân em nhận thấy mình đã hội tụ đủ
những đức tính đó chưa?
Giáo viên hướng dẫn học sinh cần làm gì để trở thành người “Cần kiệm,
liêm, chính”.
Để thực hiện đức tính “Cần”: Khi thấy trường lớp mất vệ sinh thì các em
hãy tự giác dọn vệ sinh, thấy rác thì nhặt; về nhà phải biết phụ giúp việc nhà,
tham gia dọn vệ sinh đường làng, ngõ xóm.
Để thực hiện đức tính “Kiệm”: Các em chỉ cần thực hiện những việc làm
rất thiết thực như: Vào buổi sáng tiết trời còn mát, vì vậy các em không nên bật
quạt nhằm tiết kiệm điện; các em ở khu tập thể nội trú cần sử dụng nước vừa đủ
cho hoạt động cá nhân, không nên xả nước quá nhiều khi không cần thiết.
Để thực hiện đức tính Liêm: Không được tham lam, dối trá, trong thi cử
không được quay cóp, xem bài của bạn, hãy nỗ lực học tập và lao động bằng
chính sức lực của mình, hãy sống thanh cao và liêm khiết.
Để thực hiện đức tính Chính: Phải chân thành, thẳng thắn góp ý khi thấy
bạn sai trái, luôn đấu tranh vì lẽ phải, chống biểu hiện tiêu cực.
3.2.7. Giáo dục tư tưởng tinh thần đoàn kết của Bác:
- Giáo dục tư tưởng tinh thần đoàn kết quốc tế, “Bốn phương vô sản đều
là anh em” của Bác:
Sau khi sang Pháp Người nhận xét: “Người Pháp ở Pháp tốt hơn người
Pháp ở Đông Dương”, ở đâu cũng có hai loại người người bóc lột và người bị
bóc lột. Để thấy được chúng ta chống bọn thực dân Pháp kẻ đã gây bao đau
thương, tang tóc cho các dân tộc thuộc địa chứ người Pháp tiến bộ là bạn chúng
ta. Phải tranh thủ sự giúp đỡ của họ. Sau khi dùng lược đồ giới thiệu hành trình
cứu nước của Bác. Từ năm 1911-1917 Bác đi khắp thế giới Bác từng đi thăm
khu phố Hac-lem nơi ở của người da đen ở Mĩ, Người hiểu rõ được bản chất tàn
bạo của chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, muốn đánh đổ đế quốc thực dân thì vô sản
15
- Khi dạy bài 25 lịch sử 9: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống Thực dân Pháp (1946 – 1950).
Khi dạy nội dung: Mặc dù đã kí hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm
ước ngày 14/9/1946, Pháp tăng cường hoạt động khiêu khích, tiến công ta ở
nhiều nơi, ngày 18/12/1946, Pháp gửi tối hậu thư đòi ta giải tán lực lượng tự vệ
chiến đấu, giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng. Trước tình hình đó, ngày
19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết
định ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:
“...Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo,
đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh Thực
Dân Pháp để cứu Tổ quốc.
16
Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm. Không có gươm thì dùng
cuốc, xuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống Thực Dân Pháp cứu
nước.
... Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh,
thì thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”
Để giúp các em cảm nhận được ý chí quyết tâm của Bác, tình cảm của
Bác, giáo viên nên sử dụng đoạn ghi âm lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do
Bác Hồ phát động.
Sau khi học sinh nghe song đoạn trích trên, giáo viên đặt câu hỏi: Em có
cảm nhận gì qua lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác?
Giáo viên gọi học sinh trả lời và củng cố: Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến thể hiện ý chí quyết tâm đấu tranh bảo vệ nền độc lập của nước nhà; lời
kêu gọi đã thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của mọi công dân.
Qua đó, giáo viên giáo dục học sinh ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc, tinh
1
8A
Sĩ
số
31
2
8B
32
3
9A
30
4
9B
26
TT Lớp
8
5
7
%
19.
3
25.
0
16.
7
26.
9
Yếu
SL %
0
0
Kém
SL %
0
0
0
0
0
trọng trong nhà trường hiện nay.
Để hoàn thành sứ mệnh, tạo ra những “sản phẩm” hoàn hảo hơn thì mỗi
giáo viên cần phải thực hiện nghiêm túc việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh
cho học sinh để giúp mỗi học sinh luôn kính yêu Bác và ra sức học tập, rèn
luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức làm theo lời Bác dạy. Đồng thời để thực hiện
việc lồng ghép giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua việc giáo dục tư tưởng,
đạo đức Hồ Chí Minh trong tiết học lịch sử thật sự đi vào chiều sâu thì mỗi giáo
viên phải biết linh hoạt, phân bố thời gian, kiến thức cho phù hợp với từng bài,
sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp tùy theo nội dung bài học, tùy theo
đối tượng học sinh của từng lớp. Cần giáo dục học sinh những nội dung gần
nhất, cụ thể nhất, thiết thực nhất, để học sinh luôn cảm nhận được tư tưởng Hồ
Chí Minh luôn rất gần với mình, không cao siêu, không vĩ đại, ai cũng có thể
học tập và làm theo được. Giáo viên cần tránh tình trạng quá sa đà dẫn đến việc
biến tiết học lịch sử thành tiết kể chuyện đạo đức Hồ Chí Minh, không truyền
thụ hết nội dung trong bài học.
4.2. Kiến nghị:
Từ kết quả thu được trong quá trình vận dụng thực hiện các giải pháp lồng
ghép trên để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử cần:
- Tổ chức cho học sinh thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua các
buổi ngoại khóa.
18
- Các bài dạy có liên quan giáo viên phải phát động cho học sinh sưu tầm ảnh, tư
liệu lịch sử về Bác.
- Chú trọng sử dụng thiết bị dạy học hiện đại để thông qua các kênh hình, kênh
chữ để trực quan cho học sinh thấy và dễ hiểu, dễ nắm bắt.
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị nội dung bài học ở nhà, sau đó
kiểm tra sự chuẩn bị của các em và quan tâm học sinh yếu, kém, tuyên dương,
động viên kịp thời nếu những học sinh này làm tốt nhiệm vụ mà giáo viên giao
đánh giá
giá xếp loại
Năm học đánh
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng, Sở,
giá xếp loại
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Sử dụng đồ dùng trực quan
2006 - 2007
1
Phòng
B
trong dạy học lịch sử
Một số vấn đề về phương
2008 - 2009
pháp sử dụng hộp hiện vật cổ
2 phục chế trong bộ môn lịch
Phòng
B
sử 6 nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh
Phòng
3 Phương pháp ôn tập lịch sử 9
2010 - 2011
C
Sử dụng đồ dùng trực quan