MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU. ……………………………………………………………………..1
1.1. Lý do chọn đề tài:.............................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu…....................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................2
1. 4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................2
2. NỘI DUNG..........................................................................................................3
2.1.Cơ sở lí luận.......................................................................................................3
2.2. Thực trạng việc dạy học văn bản “Tiếng nói của văn nghệ”- Nguyễn Đình
Thi............................................................................................................................3
2.3. Các giải pháp dạy văn bản Tiếng nói của văn nghệ - Nguyễn Đình Thi (tiết
96,97-Ngữ văn 9, tập 2) theo hướng phát triển năng lực học sinh”........................ 5
2.3.1. Tuân thủ nguyên tắc: Giáo viên là người hướng dẫn, học sinh phải tự mình
khám phá kiến thức..................................................................................................5
2.3.2. Hướng dẫn học sinh cách tiếp cận văn bản “Tiếng nói của văn nghệ”Nguyễn Đình Thi theo đặc trưng kiểu văn bản........................................................5
2.3.3. Chú trọng xây dựng câu hỏi, tạo tình huống phù hợp để phát huy tối đa
phẩm chất và năng lực học sinh...............................................................................6
2.3.4. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực vào các hoạt động
học............................................................................................................................
8
2.3.5. So sánh, đối chiếu với một số bộ môn khoa học khác để thấy được sự tác
động
đặc
thù
của
văn
nghệ
đến
với
con
người.........................................................8
toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn
với thực tiễn cuộc sống”. Điều này đã đi đến một sự thống nhất là phải đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh. Chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung vốn đã cũ mòn sang tiếp cận năng lực người học.
Giáo viên từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì (kiến thức hàn lâm)
chuyển sang quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Do đó trong
các tiết học, giáo viên cần chú trọng dạy học sinh cách học, cách vận dụng kiến
thức, rèn luyện kĩ năng thực hành, hình thành năng lực, phẩm chất cho các em.
Để thực hiện tinh thần đổi mới ấy đòi hỏi các cấp lãnh đạo chuyên môn đến
các giáo viên trực tiếp giảng dạy phải thật sự hiểu rõ và tích cực áp dụng phương
pháp dạy học mới vào các hoạt động giáo dục. Đối với môn Ngữ văn đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh phải được giáo viên
dạy văn thực hiện đồng bộ ở cả 3 phân môn: Tiếng việt, tập làm văn, văn bản.
Trong đó đối với những tiết dạy văn bản, giáo viên phải luôn đóng vai trò là người
hướng dẫn cho học sinh cách học. Hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi
gợi sự liên tưởng, tưởng tượng và tư duy cho các em, làm sao để tiết dạy phải phát
huy tính tích cực, chủ động, tự giác, phát triển năng lực tự học của học sinh.
Chương trình Ngữ văn 9, tập 2 có bốn văn bản nghị luận: “Bàn về đọc
sách” (Chu Quang Tiềm), “Tiếng nói của văn nghệ” (Nguyễn Đình Thi), “Chuẩn
bị hành trang vào thế kỉ mới”( Vũ Khoan), “Chó Sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn
của La- phông- ten” (Hi-pô-lit- ten). Trong đó văn bản “Tiếng nói của văn nghệ” Nguyễn Đình Thi là một văn bản nghị luận thường được đánh giá là nhiều kiến
thức lí luận trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh. Điều này đòi hỏi giáo viên phải
có phương pháp dạy học mới làm sao để phát huy năng lực, khơi gợi được sự tích
cực, chủ động, sáng tạo của các em khi học văn bản này.
Là một giáo viên nhiều năm được phân công giảng dạy bộ môn Ngữ văn
nhất là Ngữ văn 9, cũng như những đồng nghiệp khác, trong những năm đầu tôi
rất lúng túng khi dạy văn bản này. Tham gia dự giờ thăm lớp tại trường, dự giờ
chuyên đề cụm tại trường bạn, bản thân cũng đã thao giảng giáo viên dạy giỏi về
tiết dạy văn bản này và nhận được sự trao đổi, góp ý quý giá của nhiều giáo viên
cùng chuyên môn . Với niềm đam mê nghề nghiệp, cùng những lo lắng, trăn trở,
- Phương pháp giải quyết vấn đề
- Phương pháp đàm thoại, phân tích, gợi mở
- Phương pháp kiểm tra đánh giá.
2. NỘI DUNG
2.1.Cơ sở lí luận
Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước ngày càng đòi hỏi
nguồn nhân lực không những đủ về số lượng mà còn đảm bảo về chất lượng đào
tạo. Điều này đòi hỏi phải đào tạo nên nguồn nhân lực có trình độ đảm bảo được
các yêu cầu của công cuộc đổi mới. Muốn vậy phải đổi mới giáo dục từ nền giáo
dục mang tính hàn lâm, xa dời thực tiễn sang nền giáo dục hiện đại phát huy tính
chủ động sáng tạo của người học. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và
2
vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học đã được áp dụng trong những năm gần
đây trong hệ thống giáo dục các cấp.
Tiếp thu định hướng đổi mới đó trong những năm gần đây ngành giáo dục
đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học chuyển từ chương trình giáo dục
tiếp cận nội dung quan tâm đến việc học sinh học được cái gì sang chỗ học sinh
vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện
chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách
học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm
chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh
theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên
cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn
cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải
quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễn đời sống mà môn văn học phản ánh bằng
nghệ thuật ngôn từ.
Hơn nữa môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu
Giáo viên vẫn còn sa vào lối truyền thụ kiến thức một chiều, học sinh tiếp thu
kiến thức một cách thụ động. Sau các tiết dạy, trao đổi với nhiều đồng nghiệp ở
các trường, họ bày tỏ mong muốn có một tiết dạy văn bản này theo phương pháp
mới để giáo viên có thể tham khảo, học tập. Tham khảo ý kiến của nhiều giáo
viên khi dạy văn bản này, họ đều có chung một kết luận: Văn bản thực sự khó dạy.
Kể cả những giáo viên được chọn dạy thực tập chuyên đề cụm và giáo viên dạy
thao giảng các kỳ thi giáo viên giỏi các cấp, họ cũng có không ít băn khoăn. Cái
khó này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Có thể là do một số giáo viên còn non về
kiến thức lí luận văn học mà yêu cầu đổi mới trong nhiều năm trở lại đây là giáo
viên phải nắm chắc kiến thức lí luận văn học hoặc có nhiều giáo viên kiến thức rất
chắc nhưng họ lại chưa tìm ra được hướng đi mới cho tiết dạy hay có thể là do
ngôn từ văn bản trừu tượng đối với học sinh mà xu hướng của các em là thích học
những văn bản tự sự hoặc văn bản trữ tình hơn. Hay do tâm lí người dạy cho rằng,
văn bản khó truyền thụ, khó khơi dậy sự hứng thú, tích cực học tập ở các em nên
dẫn đến giờ dạy kém hiệu quả, chưa đạt kết quả như mong muốn .
Dù là nguyên nhân nào thì cuối cùng cũng đi đến một kết luận, cứ đến bài
dạy này là giáo viên tỏ ra ngán ngẩm, rồi loay hoay, xoay sở không biết làm sao
để thu hút, tạo hứng thú cho các em trong hai tiết dạy bài này. Rồi các kĩ năng,
những phương pháp nào là tốt nhất để hướng dẫn, rèn luyện cho các em cách
học ? Làm cho học sinh hiểu rằng các em phải tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận
thức dưới sự tổ chức, dẫn dắt của giáo viên ? Quả thực đây đúng là một vấn đề
nan giải và cần trao đổi, bàn bạc để tìm ra hướng đi cho giáo viên khi dạy văn bản
này.
Sau nhiều năm giảng dạy tiếp cận, trao đổi với học sinh các lớp, các trường
khi được hỏi về vấn đề học văn bản này, các em tỏ ra không mấy hứng thú vì đây
là một văn bản thuộc về nghị luận văn chương - lĩnh vực khoa học chuyên sâu mà
kiến thức về chuyên ngành lí luận văn học thì các em chưa được học. Vốn kiến
thức văn học nghệ thuật còn hạn chế vì các em chưa có điều kiện để đọc nhiều
cũng như trải nghiệm cuộc sống. Các em chia sẻ với tôi rằng: khi đọc một câu văn
trong văn bản phải mất khá nhiều thời gian suy nghĩ, nghiền ngẫm thì mới hiểu
SL
%
0
0
3
8.1
SL
25
Yếu-Kém
%
SL
%
67.6
9
24.3
cần cung cấp thêm cho học sinh những kiến thức về tác phẩm văn nghệ bằng cách
hỏi: Em hiểu như thế nào thì được gọi là một tác phẩm văn nghệ? Học sinh tự
trình bày bằng những hiểu biết của các em trong cuộc sống. Sau đó giáo viên nhận
xét, bổ sung thêm: các tác phẩm hội họa, điêu khắc, bài thơ, bài hát, vở chèo,...
được gọi là tác phẩm văn nghệ. Tác phẩm văn nghệ phản ánh cuộc sống bằng
hình tượng. Chất liệu thể hiện của tác phẩm văn học là ngôn từ hay nói cách khác
“văn học là nghệ thuật của ngôn từ”. Nội dung đặc thù của tác phẩm văn nghệ là
phản ánh thực tại khách quan thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ.
5
Thực tại khách quan ấy chính là những gì diễn ra trong cuộc sống. Tác giả lấy đề
tài trong cuộc sống. Những đề tài ấy được đưa vào tác phẩm để thể hiện cách
nhìn, cách nghĩ, cách cảm của người nghệ sĩ. Thông qua tác phẩm ấy tác giả gửi
đến người đọc những điều mới mẻ.
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần 2: Sức mạnh của văn nghệ, giáo viên
hỏi: Thông qua sức mạnh của văn nghệ, tác giả muốn khẳng định vai trò, chức
năng gì của văn học? Bằng việc hướng dẫn học sinh về nhà tìm đọc tài liệu lí luận
văn học từ cuối tiết trước để chuẩn bị cho tiết học này, học sinh sẽ nhận ra được
văn học có chức năng giáo dục con người. Giáo viên có thể cung cấp thêm: Văn
học có nhiều chức năng (tính đa chức năng của văn học): chức năng thẩm mỹ,
chức năng nhận thức, chức năng khêu gợi tư tưởng, tình cảm (chức năng giáo
dục), chức năng giao tiếp và giải trí...chức năng nào cũng giúp người đọc khi
thưởng thức tác phẩm văn nghệ thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, hiểu
được thông điệp nhà văn muốn gửi gắm, giáo dục con người hướng thiện, biết
vui, buồn, yêu, ghét, giận, hờn, biết phê phán cái xấu, cái ác.
Khi tìm hiểu phần 3: Con đường để văn nghệ đến với người đọc, giáo viên
hỏi: Thông qua con đường của văn nghệ đến với người đọc, tác giả muốn khẳng
định một đặc trưng nào của văn nghệ? Học sinh sẽ nhận thấy: Đặc trưng của văn
nghệ là tác động đến con người bằng tư tưởng, tình cảm. Bằng cách dẫn dắt như
đẹp vốn có của các em.
b. Về phát huy năng lực:
Tôi chú trọng phát huy cả năng lực chung và năng lực riêng của bộ môn Ngữ văn
cho các em.
- Năng lực chung:
+ Năng lực hợp tác: Học sinh hoạt động nhóm tóm tắt hệ thống luận điểm
và tìm dẫn chứng thể hiện sức mạnh của văn nghệ.
+ Năng lực tự học và sử dụng công nghệ thông tin: Giáo viên hướng dẫn
học sinh tự tìm đọc sách “Lí luận văn học” (GS Phương Lựu chủ biên) và tác
phẩm An-na-ca-rê-nhi-na (L. Tônxtôi) trên mạng in-te-net hoặc ở các quầy sách,
lưu ý học sinh về cách chọn và đọc sách ở cuối tiết dạy.
+ Năng lực giải quyết vấn đề: Giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề ?So
sánh với các môn khoa học xã hội khác, em thấy sự tác động của văn nghệ có
khác các môn này như thế nào? Học sinh có năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề
ngay trong một tình huống học tập.
+ Năng lực tư duy: Phần tổng kết bài, giáo viên đặt câu hỏi: ?Qua hai tiết
học, em hãy khái quát lại những nét đặc sắc về nghệ thuật và nội dung của văn
bản bằng việc thể hiện một sơ đồ tư duy trên bảng. Với câu hỏi này, sẽ phát huy
được năng lực tư duy của các em.
- Năng lực riêng của môn văn:
+ Năng lực giao tiếp: Được thể hiện trong toàn tiết dạy, học sinh có cơ hội
giao tiếp bằng việc trả lời câu hỏi, trình bày chính kiến, quan điểm. Giao tiếp giữa
các học sinh với nhau trong hoạt động nhóm hoặc đánh giá, nhận xét nhóm khác.
+ Năng lực tạo lập văn bản: Dạy văn bản giáo viên có thể định hướng cho
các em học tập cách viết văn nghị luận của tác giả Nguyễn Đình Thi với hệ thống
luận điểm rõ ràng, luận cứ chính xác, cách lập luận chặt chẽ, lời văn, giọng văn
chân thành say sưa,... giúp các em nắm chắc hơn những yêu cầu cần thiết để tạo
lập những văn bản nghị luận trong các bài viết hay trong văn bản nói. Kết thúc bài
học, giáo viên tiếp tục ra bài tập về nhà để rèn luyện thêm cho học sinh sự thành
thạo trong việc tạo lập đoạn văn nghị luận.
nhanh chóng, khoa học hơn dễ hiểu, dễ nhớ.
2.3.5. So sánh, đối chiếu với một số bộ môn khoa học khác để thấy
được sự tác động đặc thù của văn nghệ đến với con người.
Một trong những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là giáo
viên cần đưa ra những tình huống có vấn đề. Học sinh có khả năng phát hiện vấn
đề từ một tình huống trong học tập hoặc trong thực tiễn. Vì “Tư duy chỉ bắt đầu
khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (Rubinstein). Bước quan trọng tiếp theo là
học sinh có thể giải quyết hợp lí tình huống đặt ra. Như vậy học sinh sẽ có khả
năng hoạt động một cách tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn
đề thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được mục đích học
tập khác.
Nắm được tinh thần đó, theo tôi khi dạy văn bản này, giáo viên có thể đưa
ra tình huống cho học sinh giải quyết vấn đề để từ đó các em thấy được sự tác
động đặc thù của văn nghệ so với một số bộ môn khoa học xã hội khác. Ví dụ: ?
So sánh với các bộ môn khoa học xã hội khác như: Giáo dục công dân, lịch sử,
địa lí...để các em thấy sự tác động của văn nghệ có khác các môn học này như thế
nào? Từ tình huống đó, học sinh sẽ phải vận dụng kiến thức môn học Giáo dục
công dân (môn học này thường hô khẩu hiệu bắt mọi người phải làm như thế này,
đừng làm thế kia, nặng về áp đặt, giáo dục đạo đức con người kiểu như: phải tiết
kiệm, phải giản dị, khiêm tốn, năng động, sáng tạo,.... Môn Lịch sử, Địa lí tác
động đến con người cách ghi nhớ máy móc các sự kiện, diễn biến, vấn đề, tái hiện
8
sự vật, hiện tượng một cách khách quan. Còn tác phẩm nghệ thuật, đúng như
Nguyễn Đình Thi đã nói: “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường đi,
nghệ thuật đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta phải tự bước lên con
đường ấy” Bằng cách nói giàu hình ảnh “trỏ vẽ”, “đốt lửa”, tự bước lên đường
ấy”, tác giả đã gián tiếp khẳng định sự tác động đặc thù của văn nghệ đến người
đọc thông qua con đường tư tưởng, tình cảm (đặc trưng của văn học), văn học tác
các em, gợi cho các em ý thức tìm hiểu: vì sao tác phẩm văn nghệ lại thu hút mọi
người như vậy?
Sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Ngữ văn nói chung và tiết dạy văn bản
này nói riêng là một công việc cần làm và phải được diễn ra thường xuyên. Tuy
nhiên điều quan trọng là giáo viên cần phải lựa chọn các đồ dùng phù hợp với bài
dạy, thao tác nhuần nhuyễn trong việc đưa ra các thiết bị, đồ dùng. Sử dụng và cất
một cách hợp lí, tránh sự phân tán của học sinh.
9
2.3.7. Lồng ghép vào bài dạy dẫn chứng các tác phẩm văn nghệ, những
mẩu chuyện cụ thể để học sinh thấy được sự tác động của tác phẩm ấy đối
với bản thân các em.
Luận điểm là linh hồn của văn nghị luận. Để làm sáng rõ luận điểm phải có
hệ thống luận cứ phong phú (dẫn chứng và lí lẽ). Dạy văn bản nghị luận, ngoài
những dẫn chứng có trong văn bản, giáo viên dẫn dắt để đưa thêm nhiều dẫn
chứng ngoài văn bản gây hứng thú cho các em. Nhiều dẫn chứng minh họa cụ thể
giúp các em hiểu bài hơn. Dạy văn bản này giáo viên có thể gợi dẫn cho học sinh
phát hiện ra nhiều dẫn chứng các tác phẩm văn học mà các em đã được học ở cấp
dưới và kì 1 của năm học này để học sinh từ việc học tác phẩm các em biết liên hệ
bản thân. Các em đã rút ra được điều gì khi học tác phẩm ấy? Tác phẩm ấy đã
đem lại cho em những gì? Từ đó các em thấy được sức mạnh kì diệu của tác phẩm
văn nghệ? Học sinh biết liên hệ thực tế bày tỏ chính kiến, quan điểm, rèn cho các
em ý thức sống đẹp, sống có ích trong xã hội. Ngoài ra giáo viên có thể hướng
dẫn cho học sinh những địa chỉ tin cậy để tìm đọc những tác phẩm văn nghệ có
giá trị, hướng dẫn cho các em phương pháp đọc sách hiệu quả, tránh việc học sinh
đọc nhiều mà không thu nhận được điều gì hoặc tránh cho việc học sinh sa vào
việc đọc những cuốn sách có nội dung xấu, ảnh hưởng đến nhân cách các em.
2.3.8. Ra bài tập cho học sinh luyện ở nhà đúng với tinh thần đổi mới
kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh.
sự dẫn dắt của giáo viên. Các em được làm việc nhiều hơn, có nhiều cơ hội để
trình bày suy nghĩ, chính kiến của mình. Khi chấm bài làm ở nhà của học sinh, tôi
thấy chất lượng bài của các em đáng ghi nhận, đa số các em làm đúng hướng nên
đạt điểm cao. Các đồng nghiệp khi dự giờ tiết dạy cũng thừa nhận các giải pháp
đưa ra là hợp lí.
Với việc áp dụng đề tài này tôi đã nghiên cứu và dạy thử nghiệm trong
nhiều năm và đạt được những con số cụ thể về kết quả học tập của học sinh sau
khi học xong văn bản “ Tiếng nói của văn nghệ” tôi đã chấm một cách khách
quan đối với học sinh khối lớp 9 năm học 2016 – 2017 và năm học 2017 - 2018
như sau:
Năm học 2016 – 2017:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
SL
%
SL
%
SL
24
1
4.2
6
25
17
70.8
0
0
Năm học 2017 – 2018:
Lớp
9
Sĩ số
Giỏi
Khá
Trung bình
0
%
0
Những đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm đã mở ra một hướng đi cho
giáo viên khi dạy văn bản “Tiếng nói của văn nghệ” - Nguyễn Đình Thi theo
phương pháp mới. Hy vọng nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các cấp quản lí
chuyên môn và các đồng nghiệp đón nhận, tham khảo để bản thân được góp một
phần công sức nhỏ bé vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học theo đúng với
tinh thần chỉ đạo hiện nay.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học
sinh khi dạy văn bản “ Tiếng nói của văn nghệ” là điều vô cùng cần thiết trong
quá trình dạy học; giáo viên có cơ hội để tự học, tự bồi dưỡng, củng cố thêm kiến
thức lí luận văn học, các phương pháp, kĩ năng dạy học tích cực nhằm đáp ứng
yêu cầu đổi mới dạy học trong nhiều năm trở lại đây. Hơn nữa dạy học văn bản
“Tiếng nói của văn nghệ” theo phương pháp đổi mới này đã kích thích giáo viên
nỗ lực hết mình để tìm ra hướng đi mới cho các bài dạy về văn bản nghị luận tiếp
theo. Đối với học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, các em có cơ hội
11
được tiếp cận với phương pháp dạy học tích cực là văn bản nghị luận văn chương
- văn bản nghị luận chuyên sâu về một lĩnh vực văn học nghệ thuật. Vì thế học
xong văn bản các em có thêm kiến thức lí luận văn học, có thêm kĩ năng để tìm
hiểu các văn bản nghị luận tiếp theo. Đặc biệt học sinh đã tích cực, chủ động
trong việc khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên, hình thành năng
lực ứng dụng những điều đã học được vào thực tiễn cuộc sống.
tổng chủ biên.
2. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn THCS, tập 2 –
Nhà xuất bản Giáo dục của nhiều tác giả:Nguyễn Thị Hà, Trần Thị Nga, Phạm Thị
Ngọc Trâm, 2010
3. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9, tập 2 – Nhà xuất bản Hà Nội do TS Nguyễn Văn
Đường chủ biên, 2005.
4. Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn, lớp 9 – Nhà xuất bản
ĐHSP.
5. Kiến thức bổ trợ Ngữ văn 9 – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam do Nguyễn Văn
Long chủ biên, 2011
6. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9 theo hướng tích hợp – Nhà xuất bản Giáo dục của
Hoàng Hữu Bội viết năm 2005.
7. Sách giáo viên Ngữ văn 9 – Nhà xuất bản Giáo dục do Nguyễn Khắc Phi tổng
chủ biên 1992.
8. Đổi mới phương pháp dạy học – Nhà xuất bản giáo dục do Trần Đình Sử chủ
biên.
13
14