skkn một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh học phân môn hình học 7 ở trường PTDTBT THCS trung tiến - Pdf 49

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT HUYỆN QUAN SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
HỌC PHÂN MÔN HÌNH HỌC 7 Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS
TRUNG TIẾN

Người thực hiện: Nguyễn Viết Phú
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường PTDTBT THCS Trung Tiến
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC:
NỘI DUNG
1.Mở đầu

TRANG
1

1.1 Lí do chọn đề tài

1

1.2.Mục đích nghiên cứu


3.Kết luận,kiến nghị

12

Kết luận

12

Kiến nghị

13

Tài liệu tham khảo

14


1. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Toán học là một môn khoa học đặc biệt quan trọng trong mọi lĩnh vực. Con
người chúng ta trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không thể thiếu kiến thức về
toán. Nhà tư tưởng người Anh R. Bêcơn đã nói: “Ai không hiểu biết toán học thì
không thể hiểu bất cứ một môn khoa học nào khác và không thể phát hiện ra sự
dốt nát của bản thân mình”. Nghiên cứu về toán cũng chính là nghiên cứu một
phần của thế giới.
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự nghiệp giáo dục cũng đổi mới không
ngừng. Các nhà trường càng chú trọng đến chất lượng toàn diện bên cạnh sự đầu
tư thích đáng cho giáo dục. Với vai trò là môn học công cụ, bộ môn toán đã góp
phần tạo điều kiện cho các em học sinh học tốt các môn khoa học tự nhiên khác.
Việc học tốt môn toán giúp học sinh có khả năng nắm được một cách chính xác,

sinh hứng thú về vấn đề đang được đặt ra hướng các em đến với những hành vi tự
1


giác, chủ động và tích cực trong việc chiếm lĩnh tri thức. Đặc biệt với học sinh có
biểu hiện chán học, khó tiếp thu hoặc không có tinh thần tiếp thu kiến thức sẽ
khiến các em rơi vào tình trạng học sa sút. Bởi vậy người giáo viên phải dùng cái
tâm của mình để giúp các em vượt qua trở ngại này vươn lên trong học tập. Và
khi ấy người giáo viên thực sự dành cho các em một sự động viên, khích lệ kịp
thời để tạo ra một bước đột phá trong học tập. Khi xác định được mục đích, ý
nghĩa lớn lao của vấn đề này mới có thể xây dựng được phương pháp phù hợp
nhất. Chính vì vậy tôi chọn đề tài này với mong muốn tìm được một phương
pháp tối ưu nhất để trong quỹ thời gian cho phép hoàn thành được một hệ thống
chương trình qui định, nhằm lấp đầy các chỗ hổng kiến thức và từng bước nâng
cao thêm về mặt kỹ năng trong việc giải các bài tập Hình học cho học sinh. Từ đó
phát huy, khơi dậy khả năng sử dụng hiệu quả kiến thức vốn có của học sinh,
đồng thời thu hút, lôi cuốn các em ham thích học phân môn Hình Học nói giêng
và môn toán nói chung, đáp ứng những yêu cầu về đổi mới phương pháp và nâng
cao chất lượng dạy học hiện nay.
1.3.Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh khối 7 Trường PTDTBT-THCS Trung Tiến – Quan Sơn –Thanh
Hóa Năm học 2017 – 2018
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu từ các tài liệu và sách tham khảo có liên quan.
- Thông qua dự giờ rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
- Hệ thống lý thuyết của từng tiết dạy, từ đơn giản đến phức tạp.
- Triển khai nội dung đề tài, kiểm tra và đối chiếu kết quả học tập của học sinh
từ đầu năm học đến cuối học kì I vầ giữa học kì II
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận

2.2.1. Thuận lợi
*Về phía chính quyền
- Các chế độ ưu đãi, khuyến học của nhà nước và các tổ chức luôn có sự
quan tâm hỗ trợ kịp thời tới các gia đình học sinh và các em học sinh.
- Được sự quan tâm, chỉ đạo, hỗ trợ của nhà trường và các cá nhân, tổ chức
trong địa bàn đối với sự nghiệp giáo dục.
*Về đội ngũ giáo viên:
- Đội ngũ giáo viên giảng dạy nhiệt tình, có kinh nghiệm, có ý thức tự học,
đầu tư nghiên cứu chuyên môn, áp dụng khoa học công nghệ.
- Giáo viên nghiên cứu và áp dụng đề tài gắn liền với thực tế địa bàn công
tác, nắm được các phong tục tập quán của địa phương công tác.
*Về phía học sinh: Học sinh được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, đồ dùng
học tập, phần lớn có ý thức học tập, chăm ngoan, lễ phép.
*Về thiết bị đồ dùng dạy học của giáo viên: Được trang bị đầy đủ
2.2.2. Khó khăn
*Về phía học sinh
- Do đặc điểm của bộ môn toán, đặc biệt đối với phân môn hình học 7 là:
Học sinh phải học một luợng kiến thức nhiều, khó… đòi hỏi các em phải thường
xuyên rèn luyện, dẫn đến tâm lí các em ngại học hình, không hứng thú khi phải
tiếp xúc với các kiến thức hình học, kể cả những học sinh chăm học, có ý thức tốt.
Bên cạnh đó còn có một số học sinh ham chơi, không tự mình rèn luyện nên kiến
thức bị hổng, chính vì thế mà các em ngại học phân môn này.
- Học sinh còn nhỏ nên các em chậm thích nghi với các điều kiện sinh hoạt
và học tập mới. Sự tiếp xúc của các em với thế giới ngoài gia đình và nhà trường
còn hạn hẹp. Các em vẫn còn nhiều nhút nhát, thụ động trong lĩnh hội kiến thức.
- Các em thường thu nhận các định nghĩa, tính chất, định lí một cách hình
thức. Hầu hết các em chỉ học thuộc lòng nguyên vẹn theo kiểu học vẹt mà không
rõ nội dung bài học nói gì, áp dụng vào làm bài tập ra sao.
- Một bộ phận học sinh không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy
đủ, trên lớp các em thiếu tập trung suy nghĩ.

SL
%
SL
%
SL
%
36
1
2,7%
4
11%
15
41,6%
16
44,7%
Kết quả Phiếu điều tra về học lực học sinh trong học tập phân môn hình học
7 trước khi áp dụng đề tài:
SLHS
36

Giỏi
SL
0

%
0%

Khá
SL
3

Bước đầu tiên trong việc gây hứng thú cho học sinh là dựa vào các hoạt động
tập thể của trường, lớp để thu hút học sinh tham gia. Trong những buổi sinh hoạt
tập thể học sinh có cơ hội được bày tỏ những khó khăn đang vướng mắc và học
sinh có thể mạnh dạn hơn khi tiếp xúc với giáo viên.
Mặt khác, qua việc nắm được sở trường và hạn chế của học sinh, giáo viên
có thể lựa chọn giải pháp tác động hợp lý, chính xác. Vì vậy giáo viên phải chủ
động xây dựng, tổ chức các buổi sinh hoạt tập thể cho học sinh.
Ví dụ: Giáo viên tham gia cùng học sinh chuẩn bị công tác khai giảng năm
học; Tham gia vào các buổi tập văn nghệ chào mừng ngày lễ trong năm học, …
Qua đó, tạo ra mối quan hệ gần gũi giữa giáo viên và học sinh, xóa đi tâm lí nhút
nhát, sợ giáo viên của một số học sinh.
2.3.2. Thu thập thông tin
4


Qua các hoạt động tập thể mà giáo viên đã xây dựng để thu hút học sinh,
giáo viên còn có thể thu thập thông tin để đối chiếu với sự điều tra trước đó.
Tác dụng của giải pháp này giúp giáo viên điều chỉnh kịp thời sự tác động
đến học sinh của mình.
Nắm rõ các thông tin về học sinh ta có thể giúp các em cảm thấy:
+ Không còn đơn độc trước tập thể lớp.
+ Luôn được sự che chở giúp đỡ của thầy cô và các bạn.
+ Khoảng cách giữa thầy và trò không còn xa cách.
+ Các em có thể mạnh dạn hơn trong các hoạt động tập thể.
2.3.3. Khảo sát và điều chỉnh
Giáo viên là người chủ động tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình các em cũng như
việc nắm bắt tâm sinh lí của mỗi cá nhân. Sự tác động của giáo viên dành cho học
sinh cũng rất cần tinh tế và khéo léo. Đối với mỗi học sinh giáo viên cần có hướng
giải quyết hợp lí, tránh gây hiệu ứng đồng loạt.
2.3.4. Các giải pháp trong giảng dạy

Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào tóm tắt ấy mà
nhắc lại được đề của bài toán.
Ngoài việc tóm tắt bài toán, công việc quyết định giải được bài toán hay
không là việc vẽ được hình của bài toán một cách khoa học và chính xác:
Ví dụ: Vẽ hình,viết giả thiết và kết luận:
Cho  ABC có AB=AC, Aˆ = 600.Các tia phân giác của các góc B, C cắt nhau ở I
và cắt AC; AB theo thứ tự ở D; E. Chứng minh rằng ID = IE.
5


A

ABC , Aˆ 60 0 , AB=AC

GT
KL

BD là phân giác góc B: ABˆ D DBˆ C
CE là phân giác góc C: ACˆ E ECˆ B
CE  BD = {I}
Chứng minh rằng ID = IE

D

E
I
B

C


? Để chứng minh ID = IE ta có thể đưa về chứng minh hai tam giác nào bằng
nhau không?
Kẻ đường phụ tạo ra các cặp tam giác bằng nhau trong đó có liên quan đến
ID, IE.
Lưu ý gì về điểm I đối với cạnh BC, BA, CA của  ABC.
6


Và hướng dẫn học sinh tìm cách giải.
Ba là: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học
sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời.
Khi giáo viên hỏi: “Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng
túng. Vì vậy việc kiểm tra, đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và
phải trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần
hướng dẫn các em thông qua các bước:
- Đọc lại lời giải.
- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn
diễn đạt trong lời giải đúng chưa.
- Thử lại các kết quả vừa tính được từ bước đầu tiên.
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài
giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều
kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học
sinh.
Bốn là: Hình thành khả năng khai thác một bài toán.
Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài
giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều
kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học
sinh.

Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ một góc bằng tổng ba góc bằng cách:
+ Qua điểm A vẽ đường thẳng xy song song với BC
+ � Aˆ1 Cˆ (So le trong).
Aˆ 2  Bˆ (So le trong).
+ � Bˆ  BAˆ C  Cˆ  Aˆ1  BAˆ C  Aˆ 2 180 0 (đpcm).
Hoạt động 3:
Tổ chức hoạt động nhóm bài 1 (SGK.T107)
Hoạt động 4: Củng cố, dặn dò.

C

x
1
B

2

A

y

Lời bình: Tiết 17 – hình học 7 là một tiết hình với lượng kiến thức tương đối ít,
nên giáo viên phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng suy luận và kĩ năng trình bày
một bài toán khoa học chặt chẽ.
* Đối với tiết dạy luyện tập:
Cần tìm được chìa khoá cho lời giải của mỗi bài toán. Và hãy tạo cho học
sinh được hưởng niềm vui khi tự mình tìm ra chìa khoá của lời giải.
Tiết luyện tập không phải là tiết chữa bài tập, mà là tiết dạy cách suy nghĩ
giải toán. Để giải bài toán hình, thường bao gồm bốn bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài (nêu được: giả thiết, kết luận, vẽ hình nếu có)

Bước 3: Tuyên dương một số em có tiến bộ, phê bình những học sinh chưa
cố gắng. Nêu những sai lầm một số em hay mắc phải….
2.3.4.3. Buổi học vui – vui học.
Những kiến thức nhận từ các buổi học vui – vui học hay các buổi ngoại khoá
nhiều khi được nhớ hơn kiến thức nhận từ các tiết học chính khoá. Chính vì vậy
mỗi giáo viên nên tổ chức một cách khoa học các buổi học mà vui - vui mà học
hoặc các buổi ngoại khoá vào các giai đoạn ôn hết chương hoặc ôn hết học kì,
giáo viên chỉ cần tến hành trong một tiết hoặc một tiếng đồng hồ cũng có thể ôn
tập cho học sinh nhớ được một lượng kiến thức không nhỏ thông qua các cách
chơi do giáo viên sáng tạo: Trò chơi ô chữ, hỏi đáp nhanh, thi giữa các đội,...
Chẳng hạn sau khi dạy hết chương trình học kì 1 - hình học 7, giáo viên lên
kế hoạch (về nội dung, thời điểm, hình thức tổ chức....) tiến hành buổi “Học vui vui học”. Giáo viên dành thời gian 1 tiết tổ chức trò chơi nhằm ôn tập củng cố lại
phần lí thuyết hình học 7 của học kì I, thông qua ba phần thi giữa các đội như sau:
Hoạt động 1: (5phút) Giáo viên chia 4 nhóm, giới thiệu thể lệ chơi (tuỳ theo thời
gian và thời điểm mà giáo viên tiến hành lên kế hoạch, hình thức chơi).
Hoạt động 2: ( 30phút) Tiến hành tổ chức chơi.
Phần 1: Khởi động.
Thi lật ô chữ: gồm 7 hàng ngang với 7 nội dung kiến thức. Giáo viên đọc câu
hỏi, đội nào phất cờ trước thì giành được quyền trả lời, nếu trả lời đúng được 10
9


điểm, sai trừ 1 điểm. Trả lời đúng ô hàng dọc khi chưa đưa gợi ý được 40 điểm,
trả lời sai sẽ mất quyền tham gia phần chơi này. Nếu trả lời đúng ô hàng dọc khi
có gợi ý được 20 điểm.
Hệ thống câu hỏi phần thi khởi động:
- Hàng ngang số 1 (gồm 8 chữ cái): Hai đường thẳng …. là hai đường thẳng
cắt nhau và trong các góc tạo thành có một góc bằng 900.
- Hàng ngang số 2 (gồm 7 chữ cái): Hai góc…. là hai góc có mỗi cạnh góc
này là tia đối của một cạnh góc kia.

Hi-Lạp cổ đại.
Câu 1.2: Ông có một câu nói rất hay:
“Hoa quả của đất chỉ có một lần trong năm,
còn hoa quả tình bạn thì nở suốt bốn mùa”.
Câu 1.3: Ông có một định lí rất nổi tiếng
về quan hệ độ dài các cạnh của một tam giác
vuông.
Câu 2: Nhà toán học này là ai?
Câu 2.1: Ông là người Đức?
Câu 2.2: Ông được mệnh danh là:
“Hoàng tử của các nhà toán học”.
Câu 2.3: Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã
tính rất nhanh được tổng:
1+2+3+4+...+100?

Câu 3: Nhà toán học này là ai?
Câu 3.1: Ông là nhà toán học cổ HyLạp
Câu 3.2: Ông sinh năm 624 và mất
năm 547 trước công nguyên.
Câu 3.3: Ông là một trong những
người đầu tiên đo được chiều cao của Kim
tự tháp Ai Cập nhờ các kiến thức về tam
giác đồng dạng.
Hoạt động 3: (10phút) Nhận xét, đánh giá, tuyên dương.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Mặc dù thời gian rất hạn chế nhưng tôi đã vận dụng sáng kiến kinh nghiệm
này vào các tiết dạy hình học 7 trong năm học 2017 - 2018 và đã đạt được kết quả
khả quan.
Trước hết bản thân đã nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất phù hợp với
chương trình sách giáo khoa mới và với những tiết dạy theo hướng đổi mới. Học

%
SL
%
2017 -2018
7
36
5
14% 13 36% 15 41,6%
3
8,4%
Kết quả Phiếu điều tra về học lực học sinh trong học tập phân môn hình học
7 sau khi áp dụng đề tài:
SLHS

Giỏi

Khá

TB

Yếu

Kém
SL
%
1
2,7%

SL
%

mạnh dạn trình bày quan điểm của mình về “Một số giải pháp tạo hứng thú cho
học sinh trong học tập phân môn hình học 7 ở trường PTDTBT-THCS Trung
Tiến”, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Với việc nghiên
cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần giúp giáo viên tiến hành các giờ dạy
12


học hình học đạt hiệu quả tốt hơn, học sinh tích cực, chủ động trong việc tiếp
thu, lĩnh hội kiến thức của bài học. Về phía bản thân, tôi xin hứa sẽ tiếp tục phát
huy những kết quả đạt được của việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm trên, đồng
thời không ngừng rút kinh nghiệm, khắc phục khó khăn để nâng cao hơn nữa chất
lượng dạy học.
- Kiến Nghị
Để nâng cao hiệu quả khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi đề xuất một số ý
kiến cần làm đối với giáo viên giảng dạy bộ môn toán như sau:
a. Phân loại học sinh: Qua khảo sát chất lượng đầu năm của bộ môn, giáo viên
nên phân loại học sinh để có giải pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học
sinh.
b. Họp với gia đình cha mẹ học sinh: Tìm hiểu giáo dục học sinh và tìm giải pháp
phối hợp giúp các em vươn lên.
c. Chuẩn bị bài lên lớp và nội dung giảng dạy một cách kĩ lưỡng:
* Về soạn bài
- Cần lưu ý hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ từng đối
tượng học sinh, đặc biệt là học sinh yếu kém môn toán để hướng sự chú ý của các
em từ đầu.
- Tận dụng các câu chuyện về các nhà toán học, về lịch sử toán học có liên
quan đến bài dạy để tạo hứng thú cho học sinh.
*Về giảng dạy
- Phải xây dựng cho các em lòng tin vào bản thân.
- Giảm tối đa sự chê trách, mạt sát các em, biết tuyên dương kịp thời các em có





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status