1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài.
Ngày nay, ngày càng nhiều phương tiện, thiết bị kỹ thuật được sử dụng
rộng rãi theo những phương pháp dạy học (PPDH) thích hợp. Việc sử dụng
phương tiện kỹ thuật dạy học đã mang lại hiệu quả cao nhất. Mặt khác, việc đổi
mới nội dung dạy học đã dẫn tới việc phải đổi mới cả PPDH, hướng tới việc
khai thác kiến thức từ phương tiện trực quan trong dạy học một cách có hiệu
quả. Một trong những phương tiện dạy học (PTDH) hiện nay được giáo viên
(GV) và học sinh (HS) đón nhận và sử dụng rộng rãi trong chương trình địa lí 9
chính là Atlat địa lí Việt Nam. Atlat địa lí Việt Nam được coi là “tài liệu” duy
nhất mà HS được sử dụng ở nhiều kỳ thi.
Atlat địa lí Việt Nam vừa là nguồn cung cấp kiến thức, thông tin tổng hợp;
là phương tiện để học tập, rèn luyện các kỹ năng cũng như hỗ trợ rất lớn trong
các kỳ thi môn Địa lý. Thực tế cho thấy một số HS chưa biết khai thác Atlat
đúng cách nên mặc dù được sử dụng Atlat trong khi làm bài thi nhưng vẫn còn
bỏ sót nhiều dữ liệu liên quan đến câu hỏi cần trả lời có trong các trang Atlat.
Chính vì vậy, dù trong các kì thi Bộ GD&ĐT quy định được sử dụng Atlat
nhưng chỉ có số ít HS phát huy tối đa được tác dụng của nguồn “tài liệu” quý giá
này.
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Rèn luyện kĩ năng khai
thác Atlat Địa lí Việt Nam cho học sinh lớp 9 trường PTDTBT THCS Trung
Hạ”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích chính của sáng kiến kinh nghiệm :
- Góp phần nâng cao trình độ chuyên môn công tác của bản thân
- Để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp.
- khắc phục một số nhược điểm phổ biến trong học sinh là sự hạn chế về
kĩ năng sử dụng Atlat địa lý Việt Nam, đồng thời giúp các em có được phương
pháp làm việc với Atlat địa lý việt nam một cách tích cực nhất trong quá trình
học tập.
- Giup nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9
thông tin về sự vật, hiện tượng địa lí một cách sinh động, tạo điều kiện hình
thành biểu tượng địa lí cho HS.
Phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm của quá trình dạy học,
phương tiện dạy học là một đối tượng để HS chủ động, tự lực khai thác tri thức
địa lí dưới sự hướng dẫn của GV. Qua hoạt động tự giác với phương tiện dạy
học, HS không chỉ nắm được tri thức khoa học mà còn phát triển được năng lực
tư duy. Thông qua việc sử dụng phương tiện dạy học, học sinh phải tiến hành
các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp...nắm tri thức và phát hiện ra những tri
thức mới.
Các phương tiện truyền thống như bảng viết, hình vẽ trên bảng, bản đồ
và tranh ảnh dạy học, phiếu ghi, bảng trắc nghiệm, vật thật...Các phương tiện
hiện đại như: Phim, băng video, máy ảnh, máy chiếu, các phương tiện nghe
nhìn, máy tính, các phần mềm...đều là những phương tiện trực quan, những
phương tiện thực hành quan trọng trong dạy học địa lí.
Kết quả nghiên cứu tâm lí cho thấy, nếu chỉ có đọc thì người học chỉ nhớ được
10%, chỉ có nghe thì khả năng tiếp thu là 20%, cả nghe và nhìn thì khả năng
tiếp thu được 50%, nếu được trình bày thì khả năng nhớ có thể lên đến 70%.
Đặc biệt, nếu được kết hợp cả nghe, đọc, nghiên cứu, tự trình bày thì mức độ
nhớ lên tới 90%. Chỉ riêng điều đó cũng nói lên sự đòi hỏi phải áp dụng các
phương tiện nghe nhìn vào quá trình dạy học.
Tuy nhiên, dù là phương tiện hiện đại hay truyền thống thì chúng cũng
chỉ là những công cụ hỗ trợ trong tiết học nhằm làm sáng tỏ những điều cần
trình bày của GV và trực quan hóa nội dung giảng dạy giúp HS tiếp thu dễ dàng
và tham gia học tập một cách chủ động tích cực. Mỗi loại phương tiện có
những ưu nhược điểm riêng. Vấn đề là GV phải biết lựa chọn phương tiện cho
phù hợp với đối tượng HS, phù hợp với nội dung bài học, nếu không sự truyền
đạt và khai thác, tiếp thu kiến thức sẽ không có hiệu quả.
Tóm lại, giữa phương pháp dạy học tích cực và các phương tiện dạy học
có mối quan hệ chặt chẽ. Điều quan trọng là người GV phải biết thực hiện
nhuần nhuyễn khi áp dụng các phương pháp và phương tiện đó để phát huy một
đồ trong dạy - học địa lí, còn nhiều GV quan niệm: Bản đồ chỉ là đồ dùng trực
quan, là phương tiện dùng để minh hoạ cho nội dung bài giảng, cho nên GV tập
trung giảng xong nội dung rồi mới chỉ bản đồ để minh hoạ cho nội dung bài
giảng dẫn đến hiệu quả dạy - học chưa cao. Việc sử dụng BĐGK treo tường
như vậy rất hình thức, chưa đúng với mục đích và ý nghĩa của việc sử dụng bản
đồ trong giảng dạy địa lí.
Hiện tại còn một số GV chưa nắm được vai trò của Atlat trong việc giảng
dạy môn địa lí, chưa chú trọng sử dụng nó trong việc giảng dạy, không hướng
dẫn HS sử dụng Atlat, hoặc có người chỉ thông báo cho HS xem thêm trong
Atlat, không hướng dẫn cụ thể xem gì và xem như thế nào? dẫn tới hiệu quả
chưa cao.
Đối với học sinh lớp 9,các em đã làm quen với bộ môn Địa lí từ lớp 6, vì
vậy việc hướng dẫn HS sử dụng Atlat một cách thành thạo là việc làm rất quan
trọng và cần thiết, tạo được thói quen làm việc độc lập, sáng tạo, khoa học cho
các em.
2.3 . Những giải pháp được áp dụng trong khai thác atlat địa lí việt nam
cho học sinh lớp 9
2.3.1. Các nguyên tắc và qui trình sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam
2.3.1.1. Các nguyên tắc khai thác Atlat
3
- Luôn giữ mối quan hệ thường xuyên các yếu tố tự nhiên giữa Atlat và
SGK Địa Lí lớp 9
- Chú ý khai thác, nhìn tổng thể và chi tiết các hiện tượng tự nhiên trong
từng trang cụ thể. Giữ mối liên hệ giữa các trang trong việc trả lời các câu hỏi cho
đầy đủ nhất một số dạng câu hỏi phải kết hợp một số trang Atlat khi trả lời.
- Khi gặp câu hỏi phải tra cứu thông tin trang cuối xem nội dung đó nó
nằm ở trang Atlat nào.
- Trang kí hiệu chung (Hình 1) thể hiện tương đối đầy đủ kí hiệu, cần chú
- Bước 4: Cho HS trao đổi và nêu kết quả nghiên cứu từ các bản đồ trong
Atlat.
+ HS tiến hành làm việc theo nhiệm vụ mà GV đã phân công ở bước 3.
+ GV lần lượt cho HS trình các ý kiến của mình, các HS khác lắng nghe
và bổ sung.
- GV kết luận chốt kiến thức đúng, HS lắng nghe và ghi chép bài.
4
2.3.1.3. Phương pháp rèn luyện kĩ năng khai thác Atlat địa lí Việt Nam cho
HS lớp 9 qua các trang ATLAT.
2.3.1.3.1 Kĩ năng khai thác tri thức trong các trang Atlat biểu hiện nội dung dân
cư - bản đồ địa lí dân số (trang 15)
- Đọc nội dung chính biểu hiện trên bản đồ dựa vào bảng chú giải.
- Đọc các biểu đồ dân số Việt Nam qua các năm để thấy sự gia tăng dân số.
- Đọc biểu đồ cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi (tháp dân số) để
nhận rõ sự biến đổi về cơ cấu dân
Hình 2.2. Bản đồ Dân số
(Nguồn: Atlat địa lí Việt Nam)
5
- Phân tích bản đồ để thấy được đặc điểm phân bố dân cư nước ta giữa khu
vực đồng bằng và miền núi, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền Bắc và miền
Nam không đồng đều. Nguyên nhân là do điều kiện tự nhiên, KT - XH và lịch
sử khai thác lãnh thổ khác nhau.
- GV hướng dẫn HS đọc bản đồ và trả lời các câu hỏi:
+ So sánh mật độ dân số giữa vùng Đồng bằng sông Hồng với vùng
- GV hướng dẫn HS đối chiếu bảng kí hiệu chung ở trang bìa với kí hiệu
trình bày trên bản đồ sẽ đọc được toàn bộ cây trồng, vật nuôi rồi ghi vào bảng
mẫu dưới đây và trả lời các câu hỏi:
+ Phân tích những thuận lợi và khó khăn cho phát triển nông nghiệp của
từng vùng?
+ Phân tích thuận lợi, khó khăn cho phát triển KT - XH từng vùng?
+ Khai thác biểu đồ để thấy được cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp, tốc
độ tăng trưởng và tỉ trọng từng ngành nông - lâm - thuỷ sản từ năm 2000 đến
năm 2007.
+ Khai thác hình ảnh để minh hoạ cho hoạt động trồng trọt đặc trưng của
ba vùng địa hình đồng bằng, trung du và cao nguyên.
+ Nêu cơ cấu sản xuất nông nghiệp và xu hướng phát triển của các ngành
nông - lâm - thuỷ sản? giải thích
2.3.1.3.3 Kĩ năng khai thác tri thức trong các trang Atlat biểu hiện nội dung
địa lí các vùng kinh tế - Bản đồ vùng TD MNBB và ĐBSH (trang 26)
- Có 5 trang Atlat biểu hiện cho 8 vùng kinh tế, trong mỗi trang Atlat có
cả bản đồ tự nhiên và kinh tế (trừ bản đồ các vùng kinh tế trọng điểm
- Bản đồ tự nhiên thể hiện: Độ cao địa hình, các dãy núi, các đỉnh núi, các
con sông, các đồng bằng và tài nguyên khoáng sản, ngoài ra còn có các tuyến
đường giao thông.
- Bản đồ kinh tế thể hiện: Ranh giới các tỉnh, hiện trạng sử dụng đất nông
nghiệp, hệ thống đường giao thông, các cửa khẩu quốc tế, các cây trồng và vật
nuôi, các băi tôm, cá, các điểm công nghiệp, trung tâm công nghiệp, các ngành
công nghiệp.
Khi khai thác cần chú ý kết hợp 2 bản đồ. Bản đồ tự nhiên nhằm giải thích
cho sự phân bố các ngành kinh tế. GV hướng dẫn HS cách khai thác sau:
8
đồ dùng thích hợp nhất, không nên sử dụng quá nhiều đồ dùng trong một tiết
học. Bài giảng phải chuẩn bị thật chu đáo và thống nhất với các loại đồ dùng
dạy học. Việc chuẩn bị bài giảng không chỉ là soạn nội dung bài học mà phải
soạn cả nội dung của bản đồ, tranh ảnh.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Phương pháp thực nghiệm
Việc thực nghiệm được tiến hành song song ở lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng. Đây đều là những lớp có số lượng và trình độ học sinh tương đương
nhau. Trong đó, lớp thực nghiệm dạy theo giáo án thiết kế của đề tài, lớp đối chứng
vẫn giảng dạy như bình thường.Tiến hành thực nghiệm rèn kĩ năng khai thác Atlat
địa lí Việt Nam cho HS lớp 9 vào dạy học ở các lớp thực nghiệm.
Đồng thời, sau mỗi tiết dạy của từng bài đều tiến hành kiểm tra nhanh học
sinh dưới dạng trắc nghiệm khoảng 10 đến 15 phút những nội dung kiến thức
trong bài ở mức độ trung bình.
2.4.2. Tổ chức thực nghiệm
2.4.2.1. Bài thực nghiệm
10
Danh sách các bài thực nghiệm
STT
Tên bài thực nghiệm
1
Bài 3: phân bố dân cư và các loại hình quần cư
2
Bài 17+18 : vùng trung du và miền núi bắc bộ
2.2. Chọn trường, lớp thực nghiệm
Thực nghiệm được tiến hành tại trường PTDTBT THCS Trung Hạ.chọn 2
lớp 9 để tiến hành thực nghiệm : 1 lớp thực nghiệm, 1 lớp đối chứng
Sau quá trình so sánh đối chiếu, GV không chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu
quả của việc sử dụng Atlat địa lí Việt Nam trong việc hướng dẫn HS học tập tích
cực, chủ động khai thác và chiếm lĩnh tri thức mới, hình ảnh ở các em những kĩ
năng kĩ xảo tương ứng để các em vận dụng sáng tạo trong quá trình học tập sau
này.
2.4.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm
2.4.3.1. Về hoạt động của giáo viên và học sinh
- Qua thực tế các tiết dạy ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng do sử dụng các
PPDH khác nhau nên cách thức tổ chức các hoạt ðộng và việc tham gia các hoạt
động khám phá, tìm hiểu giải quyết vấn đề của HS và Gv ở các lớp có sự khác
biệt rõ. Ở các lớp thực nghiệm, GV chú trọng hơn trong việc rèn kĩ nãng khai
11
thác Atlat địa lí cho HS và kết hợp với các PPDH tích nên lớp học rất sôi nổi. Ở
lớp đối chứng vì sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình,
đàm thoại, giảng giải, …) nên một số HS còn chưa chú ý đến bài học.
Kết quả đánh giá hoạt động của thầy và trò trong giờ học
Lớp thực nghiệm
Lớp đối chứng
- Trò hoạt động là chủ yếu, tích cực, - Thầy nói và giảng bài là chủ yếu.
sôi nổi.
- Thầy tổ chức, điều khiển, dẫn dắt - Thầy truyền đạt kiến thức, trò thụ
HS tự lĩnh hội kiến thức.
động tiếp thu.
- Có sự trao đổi qua lại thầy - trò, - Ít có sự trao đổi qua lại, lớp học
trò - trò, lớp hơi ồn ào.
trật tự, gò bó.
- HS không quan tâm nhiều đến thời - HS buồn chán, mong sớm kết thúc
gian tiết học, vẫn muốn tiếp tục khi tiết học.
- Làm việc ít hoặc thụ
15
30
động
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ thực tế tiết học của lớp đối chứng và thực nghiệm)
3.3.3. Kết quả kiểm tra kiến thức
Kết quả ở bài phân bố dân cư và các loại hình quần cư
Lớp thực nghiệm
Lớp đối chứng
Xếp loại
9a
9b
Số HS
Tỉ lệ (%)
Số HS
Tỉ lệ (%)
Loại giỏi
10
37
4
16
Loại khá
10
37
5
20
Loại trung bình
7
26
12
41
6
22
0
0
27
100
Lớp đối chứng
9b
Số HS
Tỉ lệ (%)
4
16
5
20
11
44
5
20
25
100
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả bài kiểm tra kiến thức của HS)
Như vậy, nhờ có sự trợ giúp đắc lực của Atlat địa lí mà HS có thể so sánh,
phân tích, tổng hợp trình bày tự tin một vấn đề địa lí liên quan đến bài học. Nhờ
có Atlat mà nhiệm vụ bài tập về nhà của các em đã thực hiện dễ dàng, hiệu quả
hơn rất nhiều.
Với những lớp dạy đối chứng học sinh ít tập trung hơn nên giờ học có phần tẻ
nhạt, lớp học trầm hơn, học sinh kém sôi nổi. Sự tiếp thu kiến thức của các em
3.2 Kiến nghị với các cấp quản lý.
- Đối với nhà trường: cần cung cấp thêm một số bản đồ cho giáo viên trong
quá trình dạy học đặc biệt là bản đồ tự nhiên Việt Nam.
- Đối với bộ phận thiết bị: cần sắp xếp lại các loại bản đồ một cách có hệ thống
và khoa học để tạo thuận lợi cho giáo viên và học sinh tham khảo và học tập.
- Đối với bộ môn Địa lý: khi giáo viên ra đề kiểm tra nên có câu hỏi cụ thể liên
quan đến Atlat để học sinh khai thác nhằm đáp ứng với yêu cầu chung của các
đề thi hiện nay.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Trung hạ, ngày 20 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm
là do chính tôi viết, nếu sai tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm
Người viết
Hà Thị Tâm
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lâm Quang Dốc (1996), Sử dụng bản đồ giáo khoa ở trường phổ
thông, Nxb Giáo dục.
2. Lâm Quang Dốc (2004), Bản đồ giáo khoa, Nxb Đại học sư phạm
3. Lâm Quang Dốc (2006), Hướng dẫn sử dụng bản đồ, lược đồ trong
sách giáo khoa địa lý ở trường phổ thông, Nxb Đại học sư phạm
4. Lâm Quang Dốc (2008), Hướng dẫn sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam,
Nxb Đại học sư phạm.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SKKN
2.1 Cơ sở lý luận của SKKN
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng skkn
2.3 Những giải pháp được áp dụng trong SKKN
2.4 Hiệu quả của SKKN
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
3.2 Kiến nghị
Trang
1
1
1
1
1
1
1
3
3
10
13
13
14
16