B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI 2
NGUYN TH KIM CHUNG
quản lý đánh giá kết quả học tập
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
ở trường tiểu học trên địa bàn quận tây hồ thành phố hà nội
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
H NI - 2017
B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI 2
NGUYN TH KIM CHUNG
quản lý đánh giá kết quả học tập
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
ở trường tiểu học trên địa bàn quận tây hồ thành phố hà nội
Chuyờn ngnh : Qun lý giỏo dc
Mó s
: 60 14 01 14
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Trn Th Tuyt Oanh
cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận
văn là trung thực. Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Kim Chung
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
Trang
1
6
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.2.
triển năng lực
Các thành tố của quá trình đánh giá kết quả học tập của học
sinh tiểu học
Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học
Lập kế hoạch đánh giá học sinh
Tổ chức thực hiện kế hoạch đánh giá học sinh
Chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá kết quả học tập của
học sinh
Kiểm tra giám sát hoạt động đánh giá học sinh của giáo viên
Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá
kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển
năng lực ở trường tiểu học
Yếu tố khách quan
Yếu tố chủ quan
6
6
7
8
8
11
12
14
15
15
17
19
21
21
2.3.2.
2.3.3.
2.3.4.
2.4.
2.4.1.
2.4.2.
2.4.3.
2.4.4.
2.4.5.
2.5.
2.5.1.
2.5.2.
Sơ lược về giáo dục và giáo dục tiểu học quận Tây Hồ
Tình hình giáo dục quận Tây Hồ
Tình hình giáo dục tiểu học
Khái quát về quá trình khảo sát
Mục đích khảo sát
Nội dung khảo sát
Phạm vi và đối tượng khảo sát
Cách thức xử lý kết quả khảo sát
Thực trạng hoạt động đánh giá kết quả học tập của học
sinh theo định hướng phát triển năng lực
Thực trạng thực hiện mục tiêu đánh giá học sinh
Thực trạng thực hiện nội dung đánh giá kết quả học tập của
học sinh
Thực trạng thực hiện phương pháp đánh giá học sinh
Thực trạng thực hiện hình thức đánh giá học sinh
Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập
47
49
51
54
57
57
58
v
2.5.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
59
62
CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN TÂY HỒ
3.1.
Nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Đảm bảo tính mục tiêu giáo dục tiểu học
3.1.2. Đảm bảo phù hợp với định hướng đổi mới đánh giá học sinh
tiểu học hiện nay
3.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn
3.1.4. Đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ
3.1.5. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển
3.2.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
63
63
63
64
68
74
76
78
80
79
81
81
88
91
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBQL
: Cán bộ quản lý
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
bảng
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
2.2
Thực trạng thực hiện nội dung đánh giá kết quả học tập
40
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
2.3
Thực trạng thực hiện phương pháp đánh giá học sinh theo
42
định hướng phát triển năng lực
2.4
Thực trạng thực hiện hình thức đánh giá kết quả học tập
44
của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
2.5
Nhận thức của CBQL và giáo viên về vai trò của quản lý
46
theo định hướng phát triển năng lực
3.1
Đánh giá của CBQL, giáo viên về tính cần thiết của các
82
biện pháp đã đề xuất
3.2
Đánh giá của CBQL, giáo viên về tính khả thi của các
biện pháp đã đề xuất
84
viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
Trang
biểu đồ
3.1
Mức độ cần thiết của các giải pháp
về đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT đã nêu quan điểm chỉ đạo: "Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo
hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học… đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế".
Đối với giáo dục tiểu học, ngoài việc đổi mới chương trình, sách giáo
khoa, thì Bộ GD&ĐT chỉ đạo từ các Sở, Phòng GD&ĐT đến các trường
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo
hướng phát huy tính chủ động tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh tiểu
học và ngày càng tiếp cận đến chuẩn đánh giá quốc tế về kết quả của học
sinh tiểu học.
Sự ra đời của Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT (sửa đổi năm 2016),
thực chất đó là đổi mới cách đánh giá học sinh theo định hướng phát triển
năng lực, đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc nâng cao chất lượng
giáo dục tiểu học.
2
Quận Tây Hồ thành lập được hơn 20 năm, công tác giáo dục cũng được
các cấp lãnh đạo quận đặc biệt quan tâm và những năm gần đây có những
bước thành tích đáng kể.
Vấn đề đổi mới trong giáo dục, đổi mới trong dạy học được ngành
giáo dục quận hết sức chú trọng. Nhiều cuộc vận động đổi mới phương pháp
dạy học, đổi mới đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực được
Phòng GD&ĐT quận phát động và các nhà trường đã triển khai tích cực.
Song hiện hầu như các nhà trường mới chỉ chú trọng đổi mới phương
pháp dạy học còn hoạt động đánh giá học sinh còn nhiều hạn chế, chưa theo
kịp yêu cầu về đổi mới. Bởi việc chuyển đổi từ đánh giá kết quả giáo dục theo
chương trình, nội dung hiện hành sang đánh giá kết quả học tập theo định
Biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường
tiểu học của quận Tây Hồ.
4. Giả thuyết khoa học
Quản lý đánh giá học sinh các trường tiểu học quận Tây Hồ đã mang
lại hiệu quả nhất định. Song, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và và yêu cầu
đánh giá theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT, thì việc đánh giá học sinh
tiểu học vẫn còn những bất cập. Nếu xác định được những biện pháp quản lý
đánh giá học sinh đồng bộ với quá trình dạy học hướng vào phát triển các
năng lực của học sinh, sẽ nâng cao được hiệu quả đánh giá, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục của các trường tiểu học trên địa bàn quận.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu và giả thuyết khoa học luận văn tập
trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đánh giá kết quả học tập của
học sinh trong các trường tiểu học quận Tây Hồ
- Phân tích đánh giá thực trạng biện pháp quản lý việc đánh giá kết
quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực của các trường.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học
sinh các trường tiểu học trên địa bàn quận Tây Hồ.
4
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Địa bàn khảo sát
- Trường tiểu học Đông Thái - quận Tây Hồ.
- Trường tiểu học Chu Văn An - quận Tây Hồ
- Trường tiểu học An Dương - quận Tây Hồ
- Trường tiểu học Xuân La - quận Tây Hồ
- Trường tiểu học Quảng An - quận Tây Hồ
Chương 2: Thực trạng quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo
định hướng phát triển năng lực ở các trường tiểu học quận Tây Hồ, Hà Nội.
Chương 3: Biện pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh
theo định hướng phát triển năng lực ở các trường tiểu học trên địa bàn quận
Tây Hồ.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Có nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu về vấn đề đánh giá học sinh
theo định hướng phát triển năng lực trong các nhà hiện nay, cụ thể là:
Trong cuốn "A learning integrated assessment system, Educationnal
Research Review, 2006" của Birenbaum và các cộng sự [43] cho rằng nếu
năng lực được coi như là khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ một
cách kết hợp để giải quyết các vấn đề trong bối cảnh cụ thể thì các chương
trình giảng dạy và các phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp cả ba yếu tố
này. Ưu điểm của cách này là độ tin cậy kết quả đánh giá sẽ cao hơn và áp lực
thi cử sẽ giảm bớt do bài thi nội dung, kiến thức không còn là kết quả duy
nhất quyết định sự tiến bộ trong học tập của con người.
Nghiên cứu lý thuyết chung về kiểm tra - đánh giá trong lớp học như
công trình của C.A.Paloma và Trudy W. Banta [44]. Những tài liệu viết về
lĩnh vực này được biết đến như: cuốn "Measuring Educationnal Achievement"
(Đo lường thành tích giáo dục) của Robert L. Ebel [49] mô tả rất chi tiết
phương pháp đo lường đánh giá học sinh ở các trường phổ thông ở Mỹ. Qua
công trình này cho thấy việc đánh giá học sinh cần tập trung vào đánh giá các
nước, được rất nhiều các tác giả quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công trình
cụ thể là:
Tác giả Lâm Quang Thiệp với cuốn sách "Lý thuyết và thực hành về
đo lường và đánh giá trong giáo dục" nghiên cứu về đo lường đánh giá trong
giáo dục bằng phương pháp định lượng được sử dụng trong giảng dạy và có
tính thực tiễn cao [34].
Tác giả Nguyễn Công Khanh và các cộng sự đã nghiên cứu đánh giá
học sinh theo hướng tiếp cận năng lực và xuất bản cuốn "Kiểm tra, đánh giá
trong giáo dục" và cuốn Hướng dẫn đánh giá học sinh tiểu học (theo Thông tư
8
22/2026/TT-BGDĐT). Đây là những cuốn sách có giá trị rất lớn trong bối
cảnh đổi mới hoạt động, đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng
lực trong các nhà trường hiện nay [22].
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh với "Đánh giá và đo lường kết quả học
tập" đã hệ thống đầy đủ các thuật ngữ và khái niệm, các nguyên tắc, phương
pháp, kĩ thuật, các nội dung đánh giá trong giáo dục [30].
Trong cuốn "Đánh giá trong giáo dục tiểu học" [19]. Tác giả Phó Đức
Hòa cũng đề cập những vấn đề chung về đánh giá trong giáo dục; một số quy
định về đánh giá kết quả giáo dục tiểu học ở Việt Nam Quy trình đánh giá
trong dạy học; vấn đề đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan.
Hiện nay cũng có nhiều những công trình nghiên cứu, luận án, luận văn,
một số bài viết của một số tác giả cũng quan tâm đến việc quản lý đánh giá học
sinh theo định hướng phát triển năng lực, như "Biện pháp quản lý đánh giá học
sinh theo tiếp cận năng lực ở Trường tiểu học Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh",
luận văn của tác giả Lê Hồng Anh; "Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá
trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung
học cơ sở Nguyễn Bá Ngọc - Hải Phòng", luận văn của tác giả Hà Huy Hiệp...
Theo tác giả Trần Quốc Thành: Quản lý là một quá trình định hướng,
quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là một quá trình tác động đến
hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định [33, tr. 6].
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý là sự tác động có ý thức
thông qua kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các
quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu
đúng ý chí của người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục được hiểu theo nhiều góc độ, nhiều quan niệm khác
nhau, ví dụ như:
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý giáo dục là hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống
giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục
10
của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa
hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất" [17, tr. 89].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng
quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy
công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội" [3, tr. 25].
Tác giả Anthony J. Nitkon: "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp: Tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa,... nhằm đảm bảo sự vận
hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát
triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng" [41].
Thuật ngữ quản lý giáo dục được xem xét dưới hai cấp độ chủ yếu:
cấp vĩ mô và cấp vi mô. Quản lý giáo dục cấp vĩ mô là quản lý một nền hệ
động giáo dục và dạy học của cơ sở hay trường học mà họ được giao trách
nhiệm quản lý [23].
Trong đề tài này, quản lý trường học được tiếp cận chủ yếu ở góc độ
thứ hai.
Cụ thể là: Quản lý nhà trường là những tác động có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống và phù hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu
trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên và người
học...) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới
mục tiêu giáo dục đã đề ra.
1.2.2. Đánh giá
Đánh giá (Evaluation) là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu
và đưa ra nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau, cụ thể là:
Theo tác giả Woodhouse: đánh giá chính là sự lượng giá mà kết quả là
điểm, có thể cho bằng số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1 đến 4),
bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (Xuất sắc, giỏi, khá, đạt, không đạt).
Điểm có thể là "qua" (Pass) hay "trượt" (Fail). Câu hỏi đánh giá "Kết quả của
bạn như thế nào?" [12].
12
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu
thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo
dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp
và hành động trong giáo dục tiếp theo. Có thể nói rằng, đánh giá là quá trình
thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định
mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục [37].
Còn theo tác giả Trần Bá Hoành: "Đánh giá là quá trình hình thành
những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các
thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề
Các tác giả đưa ra rất nhiều định nghĩa về năng lực. Tuy nhiên, các
định nghĩ này có nhiều điểm giống nhau. Roegier (2000) định nghĩa năng lực
như sau: "Năng lực, đối với cá nhân, là khả năng huy động một cách có ý thức
một tập hợp tích hợp các nguồn để giải quyết một gia đình tình huống - vấn
đề". Định nghĩa về năng lực do trong Khung tham chiếu châu Âu ngắn gọn
nhưng tương đối đầy đủ và rõ ràng: "Năng lực là một tập hợp các kiến thức,
kĩ năng và khả năng cho phép hành động" (CECR: 16).
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc
đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục
năng lực. Khái niệm này cũng được định nghĩa khá tương đồng với các định
nghĩa mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra. Chẳng hạn, theo quan điểm
của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm
lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định
nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Năng lực là "khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
thực hiện hoạt động nào đó" [33, tr. 61] như năng lực tư duy, năng lực tài
chính hoặc là "phẩm chất sinh lý, trình độ chuyên môn tạo cho con người khả
năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao" như năng lực
chuyên môn, năng lực lãnh đạo.
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với
những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết
quả tốt. Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả của hoạt động. Năng lực vừa
15
là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát
triển ngay trong chính hoạt động ấy (kinh nghiệm, trải nghiệm).
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản