VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------------------------
NGUYỄN THỊ NGA
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - Năm 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN Á………………………………………………………………...6
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ............................................................. 6
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................. 9
1.3. Kết quả các công trình nghiên cứu đã đạt được.........................................21
1.4. Những khoảng trống trong các công trình nêu mà luận án cần tiếp tục
nghiên cứu làm rõ .............................................................................................22
1.5. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................25
1.6. Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................................25
Chương 2 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY ...............................................................................................27
2.1. Ý nghĩa, mục đích và vai trò của xã hội hóa giáo dục ..................................27
2.2. Pháp luật về xã hội hóa giáo dục, nội dung và đặc điểm ..............................39
2.3. Những yếu tố tác động đến xã hội hóa giáo dục...........................................49
thường xuyên trong hoạt động của mình. Do đó, con người vừa là mục tiêu vừa
là động lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục là sự nghiệp
trồng người. Theo tinh thần đó, Văn kiện đại hội đảng lần thứ VIII một lần nữa
xác định xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người, cho cộng đồng xã hội là
trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, của từng gia đình là sự nghiệp của
Đảng, của nhà nước và của toàn dân, chúng ta chủ trương giải quyết các vấn đề
xã hội theo tinh thần xã hội hóa trong đó nhà nước giữ vai trò nòng cốt. Sự
nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do dân và vì dân, nhà nước và
nhân dân cùng làm, mọi việc đều phải dựa vào dân. Đó là quan điểm và kinh
nghiệm trong lịch sử chiến tranh nhân dân và trong 10 năm đổi mới cần nắm
vững và phát huy để tạo nguồn lực giải quyết vấn đề con người và xã hội trong
thời kỳ hiện nay.
Xã hội hóa công tác giáo dục theo pháp luật hiện nay là một chủ trương
lớn của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương đó xuất phát từ sự đúc kết từ truyền
1
thống hiếu học, chăm lo cho sự học của người dân, cũng là một tư tưởng tiến bộ
nắm bắt kịp thời xu hướng xã hội hóa giáo dục theo pháp luật trên toàn thế giới.
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, nhiều quốc gia phương tây và các nước
khác trên thế giới đã sớm nhận thấy mặt tích cực và tính cấp thiết của việc đẩy
mạnh xã hội hóa giáo dục.
Xã hội hóa giáo dục theo pháp luật hiện nay nhằm thu hút đầu tư trong
nước và nước ngoài để phát triển giáo dục và đào tạo ở nước ta đã trở thành một
chủ trương lớn, lâu dài và nhất quán, được quán triệt sâu sắc và triển khai rộng
khắp đến các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và
mọi đối tượng thành phần dân cư trong toàn xã hội. Công tác xã hội hóa giáo dục
theo pháp luật đã đem lại hiệu quả tích cực cho nền giáo dục và đào tạo trong
thời gian qua, hơn nữa việc gia nhập WTO của chúng ta càng cho thấy việc cần
theo pháp luật Việt Nam hiện nay làm đề tài luận án tiến sĩ.
2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về xã hội hóa giáo dục
theo pháp luật, pháp luật về xã hội hóa giáo dục, phân tích thực trạng việc pháp
luật xã hội hóa giáo dục của nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất một số
phương hướng, giải pháp góp phần nâng cao vai trò của pháp luật về xã hội hóa
giáo dục nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác xã hội hóa giáo dục và
chất lượng giáo dục đào tạo của nước ta trong bối cảnh hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ
yếu sau:
Thứ nhất, luận giải và làm rõ một số vấn đề lý luận về xã hội hóa giáo dục
theo pháp luật, pháp luật về xã hội hóa giáo dục hiện nay. Nội dung pháp luật về
xã hội hóa giáo dục và tính tất yếu cuả pháp luật về xã hội hóa giáo dục.
Thứ hai, luận án phân tích thực trạng và luận giải những vấn đề đặt ra của
hệ thống pháp luật đối với công tác xã hội hóa giáo dục của Việt Nam trong thời qua.
Thứ ba, luận án bước đầu xác định phương hướng và đề xuất một số giải
pháp nhằm tiếp tục phát triển công cuộc xã hội hóa giáo dục theo pháp luật hiện
nay trên cơ sở nền tảng của chủ trương, đường lối của Đảng và hệ thống pháp
3
luật Nhà nước Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
pháp tiếp cận luật học so sánh và đa ngành như lịch sử, giáo dục.
Vb
4
5. Những đóng góp mới của luận án
1. Phân tích và luận giải một cách có hệ thống để góp phần làm sáng tỏ cơ
sở lý luận và tính tất yếu khách quan của pháp luật xã hội hóa giáo dục theo pháp
luật hiện nay ở Việt Nam hiện nay.
2. Đánh giá thực trạng những thành tựu và hạn chế của pháp luật đối với
công tác xã hội hóa giáo dục của nước ta thời gian qua.
3. Đề xuất một số phương hướng, giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện xã hội hóa giáo dục theo pháp luật hiện nay ở Việt Nam, đáp ứng
nhu cầu và đòi hỏi của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối
cảnh Việt Nam đang tham gia hội nhập với các nước phát triển.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiến của luận án
6.1.
Ý nghĩa khoa học
Ở một mức độ nhất định luận án đã góp phần làm rõ vấn đề về lý luận
chung về xã hội hóa giáo dục và hệ thống pháp luật đối với xã hội hóa giáo dục ở
Việt Nam thời gian qua. Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu,
nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan đến xã hội hóa giáo dục hay
những vấn đề liên quan đến chính sách, pháp luật về giáo dục.
6.2.
Về mặt thực tiễn
của nhà vua Mongkut Bangkok, Thái Lan, (2005) Giáo dục đại học ở Thái Lan
và lộ trình cải cách quốc gia, Nxb. Giáo dục. Tác giả đã cung cấp những thông
tin giáo dục đại học ở Thái Lan trong đó chủ yếu xoay quanh những vấn đề cơ
bản như: Quản lý giáo dục đại học, quản lý tài chính trong giáo dục đại học, học
sinh trung học và số đăng ký vào đại học; cải cách giáo dục đại học, mục tiêu và
các chiến lược trong cải cách giáo dục đại học: phương hướng chỉ đạo và cơ chế
thực hiện trong cải cách giáo dục đại học, đặc biệt trong đó tập trung chủ yếu
phát triển các trường đại học công lập theo hướng tự chủ, hỗ trợ kinh phí từ
chính phủ, quản lý trường đại học tự chủ, đặc quyền của trường đại học thuộc cơ
chế tự chủ.
Lữ Đạt – Chu Mãn Sinh (đồng chủ biên) (2010), Cải cách giáo dục ở các
nước phát triển, cải cách giáo dục ở Nhật Bản, Australia, Nxb. Giáo dục Việt
Nam, ngoài ra còn có một số cuốn sách như: Cải cách giáo dục ở các nước phát
6
triển: Cải cách giáo dục ở Mỹ quyển 1,2,3,4, cải cách giáo dục ở Pháp - Đức, cải
cách giáo dục ở Anh, Nxb. Giáo dục Việt Nam. Trong những cuốn sách này, các
tác giả đã đã trình bày nội dung liên quan đến những vấn đề cốt lõi, những công
việc của các nước trên đã tiến hành, làm cho giáo dục trở thành động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế, điều kiện tiên quyết đảm bảo sự phát triển bền vững đất
nước, tạo ra năng lực cạng tranh lành mạnh với các quốc gia khác trong thời kỳ
hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế.
Tác giả Laura Brannelly và Joan Sullivan - Owomoyela trong cuốn sách
Thúc đầy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các điều kiện xung
đột đề cập đến sự tham gia của cộng đồng và phát triển mô hình Cộng đồng tham
gia vào giáo dục ở các nước Jordan. Afghanistan, Iraq, Liberia, Uganda và vùng
lành thổ Palestine. Các tác giả đã nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào
giáo dục trong hoàn cánh chính trị của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác
World Bank (2008), Vietnam Higher Education and Skills for Growth. Báo cáo
đã đánh giá hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam chưa có các công cụ cần
thiết để thích ứng với sự phát triển và thay đổi nhu cầu của một nền kinh tế ngày
càng năng động. Hướng tới đẳng cấp trong khu vực và quốc tế, thực hiện hệ
thống giáo dục đại học sẽ đòi hỏi một tập hợp các cải cách để tạo ra sự linh hoạt
và đa dạng, mở rộng sự tham gia của khu vực tư nhân, đầu tư phát triển một số
cơ sở giáo dục đại học trọng điểm có tầm cỡ khu vực và thế giới. Để đến đó,
Việt Nam sẽ cần phải tạo quản trị hỗ trợ và các khuôn khổ tài chính, với những
sửa đổi xác định vai trò của khu vực công và tư nhân, được thực hiện theo ba
giai đoạn: (i). Tăng cường khuôn khổ cho một hệ thống giáo dục đại học cạnh
tranh. (ii). Giúp các trường đại học tiếp cận với các nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội. (iii). Đầu tư hơn nữa trong việc xây dựng một hệ thống giáo dục đại học đạt
đẳng cấp trong khu vực và quốc tế.
Các công trình trên đây, tập trung chủ yếu vào phân tích và phát triển hệ
thống giáo dục ở mỗi quốc gia, gắn với những đặc tính riêng biệt bởi hệ thống
chính trị, pháp luật và truyền thống văn hóa ở mỗi quốc gia đó. Nội dung chính
của các công trình trên là phân tích các quy định của pháp luật của mỗi nước về
giáo dục - đào tạo. Thông qua các công trình nghiên cứu này, chúng ta cũng rút
ra được những bài học kinh nghiệm quý giá về phát triển hệ thống giáo dục, đặc
8
biệt là giáo dục đại học để nghiên cứu và vận dụng trong bối cảnh thực tế của đất
nước.
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Những nghiên cứu liên quan đến xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Công sản Việt Nam đã
khẳng định: xã hội hóa là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống
các chính sách xã hội. Trên cơ sở đó nhìn nhận công tác xã hội hóa giáo dục là
là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý cách
mạng Việt Nam. Tư tưởng xã hội hóa giáo dục được thừa nhận như là một nhân
tố mới trong sự nghiệp giáo dục hiện nay.
Trong cuốn xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam, (2009) do tác
giả chủ biên, Nxb. Dân trí. Tác giả đã tập trung luận giải các nội dung như kinh
tế tri thức và xã hội hóa học tập, toàn cầu hóa và xã hội hóa học tập, những vấn
đề giáo dục được thế giới quan tâm, kinh nghiệm xây dựng xã hội học tập ở Việt
Nam. Trong đó, tác giả khẳng định: Để xây dựng xã hội học tập, những công
việc đặt ra sẽ quá tầm cuả một chiến lược giáo dục. Nó đòi hỏi thật sự phải có
một cuộc cải cách toàn diện từ hệ thống đến chương trình, nội dung, phương
pháp và công tác quản lý trong mọi lĩnh vực từ giáo dục phổ thông, giáo dục
nghề nghệp, giáo dục đại học [27, tr.360]. Mặt khác, xây dựng xã hội học tập là
công việc của toàn Đảng, toàn dân, do vậy, sự nghiệp này phải được tiến hành
theo tinh thần xã hội hóa [27, tr.357].
Trong cuốn Tiến tới một xã hội học tập ở Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc
Gia Hà Nội do tác giả Nguyễn Ngọc Phú chủ biên. Cuốn sách là tập hợp tuyển
chọn những báo cáo khoa học trong hội thảo: Xây dựng xã hội học tập ở Việt
Nam. Các tác giả làm rõ khái niệm và các điều kiện cơ bản để xây dựng một xã
hội học tập, trong đó đề cập đến mối liên hệ giữa xã hội hóa giáo dục và xây
dựng xã hội học tập.
Cuốn sách Khoa học giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay do Phan Văn
Kha và Nguyễn Lộc đồng chủ biên, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Các tác giả
đã làm rõ một số khái niệm, trong đó khái niệm xã hội hóa giáo dục đã được
phân tích sâu sắc, đặc điểm lý luận, thực chất tình hình xã hội hóa giáo dục đồng
thời các tác giả đã đưu ra các quan điểm: về mặt lý luận, thực chất xã hội hóa
10
giáo dục là vận động và tổ chức để các toàn xã hội được hưởng quyền lợi về giáo
chuyển đổi các cơ sở công lập, bán công sang loại hình ngoài công lập còn chậm.
(iii). Cơ chế, chính sách đầu tư, thu hút các nguồn lực xã hội dể phát triển cơ sở
giáo dục ngoài công lập còn chưa đủ mạnh. (iv). Công tác tổ chức chỉ đạo thiếu
kiên quyết, sự phối hợp giữa các bộ ngành và địa phương chưa chặt chẽ. (v). Một
số cơ quan quản lý còn buông lỏng hoặc chậm chuyển đổi phương thúc quản lý
của nhà nước cho phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời chưa hoặc ít quan tâm
đến việc nâng mức hưởng thụ của người dân về giáo dục.
Đề tài cấp Bộ của nhóm tác giả do Mai Ngọc Cường – chủ nhiệm đề tài,
Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự chủ về tài chính của
các trường đại học ở Việt Nam (2007). Theo quan điểm của các tác giả đưa ra thì
tự chủ về tài chính là một trong những phương cách để tăng cường quản lý tài
chính và chia sẻ ngánh nặng với nhà nước về trách nhiệm của các đối tượng khác
nhau trong xã hội về sự phát triển của sự nghiệp giáo dục. Tuy nhiên, tự chủ như
thế nào? Xây dựng quy trình quản lý ra sao? Tiêu chí để đánh giá một trường
công lập có khả năng tự chủ hay không thì trong đề tài không đề cập đến.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có đề án Đề án xã hội hóa giáo dục và đào
tạo, đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp xã hội hóa giáo dục ở tầm vĩ mô,
nhằm tạo ra những chuyển biến cơ bản trong giáo dục, chuẩn bị tốt nguồn nhân
lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong hai chục năm đầu
của thế kỷ XXI.
Luận án tiến sỹ của Dương Thị Thanh Huyền (2005) Xã hội hóa giáo dục
mầm non và những biện pháp thực hiện trên địa bàn Hà Nội, Luận án tiến sỹ
giáo dục học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội: Tác giả luận án đã nêu được bản
chất của xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội
từ năm 1990 đến nay, qua đó nêu ra những biện pháp tổng thể để thực hiện xã
hội hóa giáo dục mầm non trên địa bàn Hà Nội.
Ngoài việc làm sáng tỏ bản chất về xã hội hóa giáo dục mầm non trong
điều kiện phát triển của đất nước ta hiện nay thì luận án còn khái quát được thực
trạng về xã hội hóa giáo dục mần non trên phạm vi cả nước, bên cạnh đó tác giả
hoạt động đào tạo nghề, các nguồn vốn đầu tư, thực trạng huy động vốn cho đầu
phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam giai đoạn 2001-2008 và các giải pháp huy
động vốn cho đầu tư phát triển đào tạo nghề của Việt Nam đến năm 2020.
13
Luận án tiến sỹ Đỗ Thị Nhan (2015) Phân tích hiệu quả huy động và sử
dụng vốn đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đai học, cao đẳng công lập trên địa
bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập quốc tế,
Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Tài chính. Tác giả luận án đã trình bày lý luận
cơ bản về phân tích hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư cho phát triển giáo
dục đại học, cao đẳng công lập trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội nhập
quốc tế. Phân tích thực trạng trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Giải pháp nâng cao
hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát tiển giáo dục đại học, cao đẳng
công lập trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong điều kiện xã hội hóa giáo dục và hội
nhập quốc tế.
Tác giả Lương Thị Việt Hà (2015) với đề tài luận án tiến sỹ Quản lý hoạt
động tham gia xã hội hóa giáo dục của Trường trung học phổ thông khu vực
đồng bằng sông cửu long, Luận án tiến sỹ khoa học giáo dục, Viện khoa học
giáo dục Việt Nam. Tác giả luận án đã trình bày cơ sở lý luận về quản lý hoạt
động tham gia xã hội hóa giáo dục của trường trung học phổ thông Việt Nam.
Thực trạng quản lý hoạt động tham gia xã hội hóa giáo dục của một số trường
trung học phổ thông tại 5 tỉnh, thành phố đồng bằng sông cửu long. Trên cơ sở
đó đưa ra giải pháp quản lý.
Luận án tiến sỹ Bùi Tiến Hanh (2007) Hoàn thiện cơ chế quản lý tài
chính nhằm thúc đấy xã hội hóa giáo dục ở Việ Nam, Học viện Tài chính. Tác
giả luận án đã nêu lên cơ sở lý luận về xã hội hóa giáo dục và cơ chế quản lý tài
chính xã hội hóa giáo dục. Cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở nước
ta và kinh nghiệm quốc tế. Mục tiêu, quan điểm và định hướng xã hội hóa giáo
Luận án tiến sỹ của Phạm Thị Thu Hương (2015), Vấn đề xã hội hóa giáo
dục trong điều kiện Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học, viện Khoa học
xã hội Việt Nam. Trong đề tài của mình, tác giả luận án đã đi sâu nghiên cứu
những ưu điểm và những hạn chế của cơ chế, chính sách trong tiến trình thực
hiện xã hội hóa giáo dục, tác giả luận giải: Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ
trương, chính sách cụ thể về xã hội hóa giáo dục, khuyến khích các tầng lớp
nhân dân, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước tham gia vào sự nghiệp giáo
dục như: Về chính sách sử dụng đất đai, về thuế, về phí và lệ phí, về tín dụng, về
chính sách huy động nguồn vốn, bước đầu đã thu hút được sự tham gia của các
15
lực lượng xã hội. Tuy nhiên, vẫn có những chế độ, chính sách về xã hội hóa giáo
dục chưa đồng bộ, chưa thống nhất, nhiều văn bản quy phạm châm được các bộ,
ngành, địa phương hướng dẫn, phổ biến đã gây nhiều lúng túng, bất cập trong
quá trình tổ chức, thực hiện. Như hệ thống chính sách, pháp luật về sử dụng đất
đai cho các trường ngoài công lập như: Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 30 tháng 5
năm 2008 quy định: Nhà nước có nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành
giải phóng mặt bằng đối với cơ sở thực hiện xã hội hóa phù hợp với quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, có hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với
các dự án đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa đã tự thực hiện công tác đền bù, giải
phóng mặt bằng. Tuy nhiên, hầu hết các thành phố lớn, thị xã có quỹ đất hẹp,
nên chỉ có một số rất ít các cơ sở được giao đất, còn phần lớn các cơ sở ngoài
công lập phải đi thuê của các cơ quan, xí nghiệp, trường công hoặc tư nhân với
giá rất cao [20, tr.81].
Ngoài ra còn một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, các sách, các bài
viết chuyên khảo và các bài báo về tình hình thực trạng thực hiện xã hội hóa giáo
dục ở nước ta, trong đó có cả những sách, tạp chí nghiên cứ về những thành tựu
cũng như hạn chế của xã hội hóa giáo dục như bài Mấy suy nghĩ về định hướng
các chính sách và quản lý của nhà nước về xã hội hóa giáo dục, tuy nhiên để
nghiên cứu sâu về pháp luật xã hội hóa giáo dục theo pháp luật Việt Nam hiện
nay thì vẫn còn ít các đề tài, các công trình và các nhà khoa học tiến hành nghiên
cứu. Trên thực tế, chỉ có một số các cuốn sách, các đề tài luận án tiến sỹ nghiên
cứu hay nói đến vấn đề này nhưng số lượng chưa có nhiều. Chúng ta có thể kể
đến một số các cuốn sách, các đề tài sau:
Cuốn Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật của tiến sỹ Lê Quốc
Hùng, (2004), Nxb. Tư pháp. Cuốn sách là một công trình có giá trị cao trong
bối cảnh nền giáo dục của chúng ta đang hướng tới cả xã hội tham gia và xã hội
hóa giáo dục. Ngoài việc tập hợp hầu hết các thông tư, Nghị quyết, Nghị định và
Luật liên quan đến sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với chính sách xã hội
hóa giáo dục như Luật Giáo dục 1998, Nghị đinh 73/1999/CP, Nghị định
90/1999/CP, Thông tư liên tịch 44/2000/TTLT-BTC-BLĐTBXH-BGDD thì tác
giả còn phân tích các chính sách của nhà nước đối với chủ trương xã hội hóa
17
giáo dục như chính sách tài chính cho giáo dục đại học, chính sách quản lý tài
chính đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập, các điều kiện và thủ tục thành
lập trường đại học dân lập, chính sách huy động vốn của các doanh nghiệp cho
phát triển giáo dục đào tạo. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục đào tạo thông quan việc xây dựng các chính sách ban
hành văn bản quy phạm pháp luật về những vấn đề như: Xây dựng đội ngũ nhân
viên và xác lập vị trí trong tâm của sinh viên trong trường. Tác giả khẳng định
Để nâng cao và ổn định chất lượng đào tạo nhất thiết phải xây dựng cho được
đội ngũ cán bộ giáo viên cơ hữu của trường dân lập [11, tr.92]. Trong giải pháp
này tác giả còn nhấn mạnh thể hóa cán bộ quản lý đị học dân lập là nhu cầu bức
thiết trong quá trình phát triển, bên cạnh đó tác giả cũng dẫn chiếu điều luật giáo
dục 1998, Điều 45, Quy chế đại học dân lập nêu rõ: Hiệu trưởng trường đại học
nhằm làm cho không chỉ thế hệ trẻ mà là mọi người dân đều được hưởng quyền
lợi mà giáo dục mang đến đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho
mọi người dân, mọi tổ chức chính trị - kinh tế - văn hóa xã hội phát huy cao nhất
trách nhiệm và năng lực của mình đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Tác giả luận
giải muốn thực hiện tốt chủ trương Xã hội hóa giáo dục nhất thiết phải có một hệ
thống hành lang pháp lý phù hợp, chuẩn xác phục vụ cho công cuộc đổi mới giáo
dục của nước ta.
Trong bài Xã hội hóa giáo dục bất cập giữa cung và cầu của tác giả Phan
Chánh Dưỡng, báo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần. Tác giả đã lập luận rằng, xã
hội hóa giáo dục phải nhất thiết đi từ hình thức đến nội dung, trong quan điểm
của mình tác giả cho rằng cần phải cố những chính sách quy định về tiêu chuẩn
trong việc xét tú tài hay cử nhân, dựa vào đó chúng ta mới có thể nắm bắt được
chất lượng của đầu ra đối với các ngành đào tạo đại học, cao đẳng, từ đó mới
kiểm soát được chất lượng giáo dục và đào tạo. Trong phần phân tích nội dung
cốt lõi của xã hội hóa giáo dục tác giả nêu rõ Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ
về tài chính cho các trường ở các cấp khác nhau, không kể trường công lập hay
ngoài công lập vì ngân sách giáo dục quốc gia đều do người dân đóng góp. Một
vấn đề nữa là chính sách của Nhà nước về việc cấp đất cũng nên coi là đất công
của nhà nước chu cấp cho ngành giáo dục. Việc này không chỉ thuộc trách nhiệm
của riêng Bộ Giáo dục - Đào tạo mà ở tầm chính sách quốc gia, Nhà nước phải
19
có những quy định tỷ lệ đất đai dành riêng cho giáo dục. Bên cạnh đó tác giả
khẳng định: Nhà nước cũng nên quan tâm tới các chính sách cho các trường học,
có chế độ phúc lợi dành cho những người làm giáo dục, nhất là các thầy cô giáo,
những người trực tiếp tham gia công tác giáo dục, không nên phân biệt giáo viên
trường công lập hay ngoài công lập. Có chính sách như vậy thì xã hội hóa giáo
dục mới đào tạo được đầu ra phù hợp với yêu cầu của xã hội. Qua đó cho thấy
xét và đánh giá về kết quả nghiên cứu mà các công trình đã đạt được.
1.3.1. Về lý luận
Trước hết, hầu hết các nghiên cứu đều đưa ra được các khái niệm về xã
hội hóa giáo dục theo những các hiểu khác nhau, bên cạnh đó, chỉ ra được vai
trò, tầm quan trọng của xã hội hóa giáo dục cũng như vai trò và tầm quan trọng
của các chính sách Nhà nước của hệ thống pháp lý đối với quá trình xã hội hóa
giáo dục ở Việt Nam. Một số tác giả đã phân tích thực trạng thực hiện xã hội hóa
giáo dục trong thời gian qua để từ đó thấy được tầm quan trọng không thể thiếu
của hệ thống pháp lý và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối
với công cuộc giáo dục đào tạo và đặc biệt là công cuộc xã hội hóa giáo dục.
Qua đó cũng làm rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp giáo dục
- đào tạo, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển giáo dục - đào tạo của
đất nước trong xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay. Phần lớn các tác giả đều có
chung một quan điểm đó là: Trong những năm gần đây, với sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước cùng toàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội khác bên cạnh
sự nỗ lực không ngừng của ngành giáo dục - đào tạo, sự nghiệp giáo dục và đào
tạo đã gặt hái nhiều thành tựu to lớn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại những bất cập và yếu kém như trong
quản lý tài chính giáo dục, quản lý quỹ đất giao cho các cơ sở tham gia Giáo dục
- Đào tạo, chương trình giáo dục, chính sách đối với cán bộ giảng viên và nhân
viên tham gia trong công tác giáo dục chính những bất cập này làm cho tiến trình
xã hội hóa công tác giáo dục - đào tạo còn bị hạn chế và kém hiệu quả.
1.3.2. Về thực tiễn
Các công trình nghiên cứu đã đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện các
chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về chủ trương phát triển giáo
dục trong nhiều văn kiện Đại hội Đại biểu của Đảng như: văn kiện Đại hội Đại
biểu của Đảng lần thứ VII, văn kiện Đại hội Đại biểu của Đảng lần thứ VIII, văn
21
22
Tuy nhiên, bên cạnh việc kế thừa các kết quả của các công trình nghiên
cứu nêu trên, luận án tiếp tục tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, xã hội hóa giáo dục theo pháp luật hiện nay là vấn đề mới của
đất nước ta, sự nghiệp xã hội hóa giáo dục theo pháp luật mới chỉ được chính
thức nhìn nhận từ sau Đại hội lần thứ VII của Đảng thì hệ thống pháp luật về xã
hội hóa giáo dục cũng chỉ mới được hình thành từ đó. Ở Việt Nam đã có nhiều
công trình quan tâm nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục dưới nhiều góc độ và lĩnh
vực khác nhau như xã hội học, quản lý giáo dục, quản lý tài chính giáo dục, giáo
dục học, tâm lý học. Tuy nhiên, việc nghiên cứu xã hội hóa giáo dục theo pháp
luật hiện nay trên cơ sở những chính sách nhà nước, những văn bản quy phạm
pháp luật của hệ thống pháp luật Việt Nam thì vẫn còn ít cả về số lượng đề tài
nghiên cứu lẫn nội dung nghiên cứu, trong đó, các đề tài chưa phân tích đầy đủ
được bản chất, vai trò của xã hội hóa giáo dục theo hướng pháp luật là gì? Chưa
chỉ rõ được nội dung, nội hàm của xã hội hóa giáo dục theo pháp luật cụ thể là
gì, nhất là trong bối cảnh hiện nay? Những điều kiện cần thiết để tham gia và
thực hiện xã hội hóa giáo dục theo pháp luật là những điều kiện nào? Những chủ
trương, chính sách, pháp luật nào quy định trong từng trường hợp, lĩnh vực của
xã hội hóa giáo dục? Chủ thể thực hiện của xã hội hóa giáo dục theo pháp luật là
ai? Hệ thống pháp của nhà nước có vai trò như thế nào và áp dụng văn bản quy
phạm pháp luật nào để thực hiện xã hội hóa giáo dục? Luận án sẽ tập trung phân
tích và luận giải một cách chuyên sâu và có hệ thống chủ đề xã hội hóa giáo dục
theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, từ công tác xã hội hóa giáo dục theo pháp luật hiện nay cho thấy,
chủ trương, chính sách, pháp luật về xã hội hóa đã từng bước được xác định,
nhưng trên thực tế trong thời gian qua, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu
để góp phần cung cấp hệ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xã hội