Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài bình vôi (stepania rotunda lour ) làm cơ sở để bảo tồn tại vườn quốc gia cát bà - Pdf 49

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công
trình nào khác.
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận
đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học./.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2016
Ngƣời cam đoan

Nguyễn Văn Dinh


ii

LỜI CẢM ƠN

Đƣợc sự đồng ý của Trƣờng Đại học Lâm nghiệp, Phòng đào tạo Sau
Đại học về chƣơng trình đào tạo Thạc sỹ Khóa 22B (2014-2016). Tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Bình vôi (Stephania
rotunda Lour) làm cơ sở để bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Bà”. Sau gần một

năm thực hiện, đến nay đề tài đã hoàn thành.
Để hoàn thành chƣơng trình, tôi xin đƣợc cảm ơn chân thành nhất tới
PGS.TS Trần Ngọc Hải, ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo
mọi điều kiện trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin trân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc phòng Đào tạo Sau đại
học, Khoa QLBVTNR và Môi trƣờng; Lãnh đạo Vƣờn Quốc gia Cát Bà đã

1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam......................................8
1.3. Các nghiên cứu về hệ thực vật tại VQG Cát Bà ................................................12
1.4. Tài nguyên cây thuốc tại Vƣờn Quốc gia Cát Bà...............................................13
1.5. Nghiên cứu về loài Bình vôi ..............................................................................14
1.5.1. Phân loại khoa học ..........................................................................................14
1.5.2. Đặc điểm thực vật ...........................................................................................14
1.5.3. Phân bố, trồng hái và chế biến ........................................................................15
1.5.4. Một số công trình nghiên cứu về cây Bình vôi ...............................................16
1.6. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu .................................................................19
Chƣơng 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................20
2.1. Mục tiêu .............................................................................................................20
2.1.1. Mục tiêu chung ................................................................................................20
2.1.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................................20
2.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:.....................................................................20
2.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................20
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu....................................................................................21
2.4.1. Phƣơng pháp điều tra ngoại nghiệp.................................................................21
2.4.2. Phƣơng pháp nội nghiệp .................................................................................28


iv

2.5. Phƣơng pháp thử nghiệm nhân giống loài Bình vôi ..........................................32
2.5. Đề xuất bảo tồn loài Bình vôi tại Vƣờn Quốc gia Cát Bà..................................37
Chƣơng 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI.......................................38
3.1. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu .............................................................38
3.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên ....................................................................38
3.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội ..................................................................................44
Chƣơng 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................................47


Các kí hiệu

Viết đầy đủ

UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

ĐDSH

Đa dạng sinh học

TCN

Trƣớc công nguyên

SCN

Sau công nguyên

WHO

Tổ chức y tế thế giới

CNI

Viện ung thƣ Hoa kỳ

VQG


Tên bảng

Trang

1.1

Phân loại khoa học Chi Bình vôi (Stephania spp)

14

3.1

Thảm thực vật rừng và sử dụng đất

43

3.2

Thành phần loài khu hệ thực vật Vƣờn Quốc gia Cát Bà

44

4.1

Biến đổi về khối lƣợng củ cây Bình vôi tại các đai cao

49

4.2


Số lƣợng cá thể Bình vôi trong các ô tiêu chuẩn

60

4.8

Phân bố của loài cây Bình vôi theo vị trí chân sƣờn đỉnh

63

4.9

64

4.10

Mô tả phẫu diện đất có cây Bình vôi phân bố tại khu vực nghiên
cứu Vƣờn Quốc gia Cát Bà
Tổ thành tầng cây cao QXTV rừng nơi có cây Bình vôi phân bố

4.11

Đặc điểm cây tái sinh tại địa bàn nghiên cứu

70

4.12

Tổ thành cây tái sinh QXTV rừng nơi có cây Bình vôi phân bố

Ảnh hƣởng của BA đến chất lƣợng chồi tạo thành và hệ số nhân
nhanh của cây Bình vôi (sau 7 tuần )
Ảnh hƣởng của than hoạt tính đến quá trình ra rễ tạo cây hoàn
chỉnh của cây Bình vôi (sau 4 tuần )
Nhận thức của ngƣời dân địa phƣơng về khai thác cây Bình vôi

68

75
76
78
81
82
83
86


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
STT

Tên hình

Trang

1.1

Cây củ Bình vôi (Stephania rotunda Lour)


56

4.6

Tuyến điều tra và vị trí các OTC trên tuyến

61

4.7

Phân bố cây Bình vôi tại khu vực nghiên cứu

62

4.8

Rừng nguyên sinh thƣờng ẩm trên núi đá vôi

66

4.9

Rừng thứ sinh nghèo thƣờng xanh mƣa ẩm trên núi đá vôi

66

4.10

Rừng thƣờng xanh mƣa ẩm phục hồi trên núi đá vôi


79

4.16

Cây đã quấn quanh giá thể

79

4.17

Nuôi ấy mô loài Bình vôi trong phòng nghiệm tại Trung tâm
Công nghệ Hải Phòng.

80

4.18

Cháy rừng tại VQG Cát Bà

87

4.19

Bản đồ khu vực ƣu tiên bảo tồn Bình vôi tại khu vực nghiên cứu

90


1


2
đau bụng… Tuy phân bố nhiều nơi nhƣng thƣờng bị khai thác với số lƣợng lớn nên
dẫn đến cạn kiệt. Mặt khác, những nơi có cây con mọc lại bị ảnh hƣởng do nạn khai
thác, phá rừng dẫn đến có thể tuyệt chủng vì không còn môi trƣờng sống thích hợp.
Do vậy, việc gây trồng và phát triển cây dƣợc liệu nói chung và với loài Bình
vôi nói riêng đã và đang đƣợc Vƣờn Quốc gia Cát Bà quan tâm nhiều trong những
năm gần đây. Nghiên cứu sẽ góp phần triển khai nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen loài
cây thuốc quý cũng nhƣ khai thác phát triển nguồn gen sau này. Chính vì vậy, cần
triển khai đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Bình vôi (Stephania rotunda
Lour.) làm cơ sở để bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Bà” nhằm đánh giá thực trạng
phân bố, xác định đƣợc một số đặc điểm lâm học của loài làm cơ sở cho công tác
bảo tồn cũng nhƣ mở ra hƣớng nghiên cứu tiếp theo nhằm gây trồng phát triển, tạo
sinh kế cho ngƣời dân địa phƣơng, cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch theo
hƣớng bền vững.


3

Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc trên thế giới
Loài ngƣời từ khi ra đời đã biết dựa vào rừng để sống. Không chỉ lấy ra từ
rừng lƣơng thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con ngƣời còn biết lấy cây
rừng làm rau ăn, nƣớc uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh. Từ những kinh
nghiệm dân gian qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới đã phát
triển những phƣơng thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công
dụng của chúng trở nên có ý nghĩa. Việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên
cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và cũng
từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét
đặc trƣng riêng.

600 loại thảo mộc, gây ảnh hƣởng mạnh mẽ đến y học phƣơng Tây và là sách tham
khảo chính đƣợc dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII. Cuốn sách còn đƣợc dịch ra
nhiều ngôn ngữ nhƣ: Tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tƣ và tiếng Hebrew [9]. Vào thời
Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của
một loài cây – “dấu hiệu của thần thánh”- và công dụng y học của chúng. Chẳng
hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria officinalis) giống nhƣ
các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi. Cũng trong thời gian này,
khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotlan các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver
omnirierum) và cây Cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây
mê. Sau này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từ
Dioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phƣơng, ông
đã cho xuất bản cuốn dƣợc thảo “The English Physitian”. Đây là cuốn sách bán
chạy nhất và đƣợc tái bản nhiều lần [1].
Ở Châu Âu đi đầu trong việc nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á là các nhà
thực vật ngƣời Pháp, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá
trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chƣơng trình nghiên cứu về thực vật Đông
Dƣơng, Perry công bố 1.000 loài cây và dƣợc liệu tại Đông Nam Á đã đƣợc kiểm
chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and
Southeast Asia” [32].


5
Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia ở Châu Á có nền y học cổ truyền lâu
đời. Lịch sử nền Y học Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, ngƣời ta đã biết dùng thuốc là
các loài cây cỏ để chữa bệnh nhƣ: sử dụng nƣớc cây Chè (camellia sinensis) đặc để
rửa vết thƣơng và tắm ghẻ [25]. Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản
1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh nhƣ: Rễ gấc (Momordica
cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sƣng tấy, đau khớp, sốt
rét, vết thƣơng tụ máu; Cải Xoong (Nasturtium officinale) giải nhiệt, chữa lở mồm,
chảy máu chân răng, bƣớu cổ. Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã

chế và các hợp chất hoá học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. Vào thế kỷ XVIII,
một bác sĩ ngƣời Anh tên là William Withering (1741-1799) lần đầu tiên khám phá
ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng (Digitalis purpurea), mở ra
sự phát triển trong lịch sử y dƣợc học [1]. Trong nhiều loài Ba gạc (Rauwfolia sp.)
chiết đƣợc chất resecpin, serpentin làm thuốc hạ huyết áp. Chất vinblastin,
vincristin đƣợc chiết xuất từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus) vừa có tác dụng hạ
huyết áp vừa làm thuốc chống ung thƣ máu.
Viện Ung thƣ Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu
cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thƣ, 25%
đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dƣợc tính mạnh đƣợc điều chế từ một loài
Hoa hồng. Đặc biệt ở Madagasca, ngƣời ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng
cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90%
[22], [23].
Với những hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong các cây thuốc
các nhà khoa học nhận thức rõ giá trị chữa bệnh, vì vậy họ đã nghiên cứu cây thuốc
theo các nhóm hợp chất đƣợc tiến hành và đã thu đƣợc nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên,
hƣớng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên
gia có trình độ cao. Do vậy, đây là các nghiên cứu đƣợc triển khai ở các nƣớc phát
triển và một số các nƣớc đang phát triển. Các cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất
ancanoit, flavonoit, cumarin hiện đang đƣợc quan tâm nghiên cứu [27].
Tổ chức Y tế Thế giới- WHO năm 1985, đã thống kê trong số 250.000 loài
thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao đã biết, có gần 20.000 loài thực vật đƣợc sử
dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc. Trong đó, ở Ấn Độ


7
có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc trên 5.000 loài, riêng về thực vật có hoa ở một
vài nƣớc Đông Nam Á đã có tới 2.000 loài là cây thuốc, vùng nhiệt đới châu Mỹ
hơn 1.900 loài [6]. Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ở
các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sử dụng thuốc dân tộc [6]. Trung

những loại thuốc có ích trong tƣơng lai. Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn
các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng. Các nƣớc trên thế giới đang hƣớng về
thực hiện chƣơng trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững
cây thuốc [25].
1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam
“Nam Dƣợc Thần Hiệu” và “Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” của Tuệ Tĩnh đƣợc
coi là tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam [18]. Trong tài liệu này đã mô tả hơn
630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng
hàn. Ông đƣợc coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nƣớc ta, là “Vị thánh thuốc
Nam”. Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau nhƣ: “Tuệ Tĩnh y thƣ”, “Thập
tam phƣơng gia giảm”, “Thƣơng hàn tam thập thất trùng pháp”. Bộ sách gồm 28
tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh của Hải
Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn thứ hai “Y tông Tâm tĩnh”
cho nƣớc ta ở thế kỷ XVIII. [18].
Một số nhà thực vật học, dƣợc học ngƣời Pháp đã đến nƣớc ta nghiên cứu từ
thời kỳ thực dân pháp xâm đô hộ. Đƣợc biết đến là các nhà dƣợc học Crévost,
Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produit de L’Indochine” (1928-1935), trong
đó tập V (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài
thực vật có hoa [29]. Đến năm 1952, Pétélot bổ sung và xây dựng thành bộ “Les
plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê
1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nƣớc Đông Dƣơng [31].
Các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sƣu tầm, nghiên
cứu nguồn tài nguyên cây thuốc nhất là sau khi miền Bắc đƣợc giải phóng năm
1954. Đỗ Tất Lợi- ngƣời đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã xuất bản
đƣợc nhiều tài liệu về việc sử dụng cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc. Đáng
chú ý nhất là năm 1957, ông đã biên soạn bộ “Dƣợc liệu học và các vị thuốc Việt
Nam” gồm 3 tập. Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu


9


10
ở 2795 xã, phƣờng, thuộc 35 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc, đã
có những đóng góp đáng kể trong công tác điều tra sƣu tầm nguồn tài nguyên cây
thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian [13].
Các công trình về cây thuốc ở Việt Nam với quy mô lớn nhỏ khác nhau đã
đƣợc công bố nhƣ: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng và cộng sự đã cho ra đời cuốn
“Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với khoảng 300 loài cây thuốc đƣợc khai
thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc [5]. Trình Đình Lý (1995)
đã xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích”, cho biết trong số các loài thực vật bậc cao
có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260
loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa,
40 loài song mây [19].
“Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1997) đã biên soạn, gồm
khoảng 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa có 2.500 loài thuộc 1050 chi,
đƣợc xếp vào 230 họ thực vật theo hệ thống A. L. Takhtajan. Tác giả đã giới thiệu
sơ bộ về nhận dạng, bộ phận sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hoá học, tính
vị và tác dụng, công dụng,.. của từng loài thực vật [8].
Bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1.000 loài,
trong đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật đƣợc sử dụng làm thuốc của nhóm tác
giả Viện Dƣợc liệu đƣợc biên soạn (2003).
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bố
một số tài liệu liên quan tới cây thuốc: Đáng chú ý là hai tập sách “Tài nguyên thực
vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002) các
tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở
Việt Nam [20].
Bộ sách “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã đƣợc công bố, đây là bộ
sách có ý nghĩa quan trọng trong tra cứu hệ thực vật nói chung và tra cứu thành
phần cây thuốc nói riêng của Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005). Tập sách
đã đề cập tới các tên khoa học, tên thƣờng gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống- sinh

ngƣời Dao sử dụng [24].
Trong nghiên cứu “Cây thuốc truyền thống của ngƣời Dao, huyện Sa Pa, tỉnh
Lào Cai” Lƣu Đàm Cƣ (2005), đã xác định đƣợc 312 loài cây thuốc thuộc 88 họ mà
ngƣời Dao ở Sa Pa sử dụng [12]. Báo cáo khoa học hội nghị toàn quốc, nghiên cứu cơ
bản trong khoa học sự sống, định hƣớng y dƣợc học. NXB KH và KT, Hà Nội).


12
Diện tích rừng nƣớc ta từ 14,3 triệu ha vào năm 1943, đến năm 1999 chỉ còn
10,9 triệu ha, theo thống kê của ngành Lâm nghiệp [28]. Rừng bị phá huỷ sẽ làm
cho toàn bộ tài nguyên rừng ở đó mất đi, trong đó có cây thuốc. Trong quá trình
điều tra dƣợc liệu ở Việt Nam từ năm 1961 đến nay, Viện Dƣợc liệu đã phát hiện
nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú, nay đã bị phá huỷ làm nƣơng rẫy, trồng
cà phê, cao su (ở miền Nam) hoặc thay vào đó là các công trình dân sự, Bên cạnh
các hoạt động có chủ ý của con ngƣời, nạn cháy rừng, lũ lụt và lở đất cũng làm mất
đi nhiều vùng rừng có nhiều cây thuốc quý hiếm mọc tập trung.
Ngoài ra do nhu cầu của xã hội tài nguyên cây thuốc bị khai thác quá mức,
nên ngày càng cạn kiệt và đứng trƣớc nguy cơ bị đe doạ. Chính phủ và ngành y tế đã có
những nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói
riêng. Nhiều công trình Nhà nƣớc về bảo tồn cây thuốc nhƣ: Bảo tồn nguồn gen cây
thuốc - Viện Dƣợc liệu, Bộ Y tế hoặc các mô hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các
dự án đầu tƣ của Nhà nƣớc, cũng nhƣ các dự án của tổ chức phi chính phủ nhƣ: Bảo
tồn cây thuốc của đồng bào Dao tại Ba Vì, Hà Tây - CREDEP; Bảo tồn nguồn gen cây
thuốc- Bộ Y tế; Mô hình Bảo tồn và phát triển cây thuốc ở Sa Pa; Mô hình Bảo tồn cây
thuốc ở Nà Ớt, Sơn La,.. của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã đƣợc hình thành
nhằm duy trì bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm.
1.3. Các nghiên cứu về hệ thực vật tại VQG Cát Bà
Vƣờn quốc gia Cát Bà là khu vực có giá trị cao về đa dạng sinh học không
chỉ trên đất liền mà còn ở dƣới biển, kết quả điều tra khảo sát cho thấy tại đây là nơi
sinh sống của trên 3.000 loài động, thực vật khác nhau với 1.588 loài thực vật bậc

sagitta), cây Xạ đen (celastrus hindsii), cây Thuốc máu (Vernonia aff.
Acumingiana), cây Bổ béo (Fissistigma thorelii), cây Khôi tía (Ardisia gigantifolia),
cây Kim ngân (Lonicera japonica), cây Sơn đậu căn (Sophora tonkinensis)…
Những loài cây thuốc có giá trị này đang có xu hƣớng suy thoái do việc khai thác
quá mức với mục đích thƣơng mại. Trong số 1.026 loài cây làm thuốc, hầu hết đã
đƣợc ghi nhận về giá trị sử dụng theo kinh nghiệm của y học cổ truyền dân tộc.
Những cây thuốc này có thể sử dụng vào các bài thuốc, toa thuốc đông y khác nhau
để chữa trị nhiều chứng bệnh thông thƣờng nhƣ các bệnh đau xƣơng- khớp, bệnh
đƣờng tiêu hoá, đƣờng hô hấp, bệnh gan, thận, cảm sốt và bệnh ngoài da...


14
Loài Bình vôi Stephania rotunda Lour. nằm trong sách đỏ Việt Nam 2007 và
đã đƣợc ghi trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
(nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để hạn
chế khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại.
1.5. Nghiên cứu về loài Bình vôi
1.5.1. Phân loại khoa học
Bảng 1.1: Phân loại khoa học Chi Bình vôi (Stephania spp).
Giới (regnum):

Plantae

Bộ (ordo):

Ranunculales

Họ (familia):

Menispermaceae

quả vào tháng 7-10.

Hình 1.1: Cây củ Bình vôi (Stephania rotunda Lour.)
1.5.3. Phân bố, trồng hái và chế biến
Các loại Bình vôi ở nƣớc ta có diện phân bố rất rộng trên cả ba miền Bắc,
Trung, Nam. Thƣờng tập trung ở vùng núi đá vôi nhƣ Tuyên Quang, Cao Bằng,
Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Vũng Tàu,
Bà Rịa. Riêng loài (Stephania pierei Diels) tập trung chủ yếu ở các tỉnh ven biển
Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận.


16
Hiện ta đang thu hái củ Bình vôi chủ yếu từ nguồn mọc hoang dại. Khi thu về
cạo sạch vỏ nâu đen, thái lát mỏng đem phơi hoặc sấy khô hoặc đem chiết rotundin.
Có thể trồng Bình vôi bằng hạt hoặc phần đầu của củ. Thu hái quả chín vào
khoảng tháng 8-10, lấy hạt bảo quản trong cát ẩm rồi gieo hạt vào mùa xuân (tháng
2-3). Ngoài ƣơm cây giống từ hạt, có thể cắt phần đầu của củ để làm giống. Mỗi đầu
có thể xẻ làm 4 mảnh cũng trồng vào mùa xuân. Trồng bằng hạt có năng suất cao
hơn trồng từ mầm củ. Năng suất trung bình 1 tấn củ khô/1 ha (Đỗ Tất lợi, 1991.).
1.5.4. Một số công trình nghiên cứu về Bình vôi
1.5.4.1. Một số công trình nghiên cứu về Bình vôi trên thế giới
Kondo (Nhật), năm 1944 đƣa ra công thức khai triển của rotundin nhƣ sau
với công thức thô là C13H19 (OCH3)3CH3N.
Tại Ấn Độ, năm 1950 và 1952, Qiaudry G. R và Sidiqui nghiên cứu và chiết
từ củ cây Stephama glabra (Roxb.) Miers nhiều ancaloit và đặt tên là hyndarin
C23H25O4N, stefarin C18H19O3N và xyckanin C38H4206N2 trong đó hyndarin
chiếm thành phần chủ yếu (chừng 30% hyndarin. 15-18% stefarin và rất ít
xycleanin). Nghiên cứu cấu tạo hyndarin ngƣời la thấy rằng hyndarin thực ra cũng
chỉ là một ancaloit đã biết có tên là tetrahydropanmatin.
Trƣớc năm 1965, ngƣời ta vẫn cho rằng hyndarin và rotundin là hai ancaloit

đại học dƣợc khoa, Hà Nội) Ngô Vân Thu còn chiết từ củ bình vôi Việt Nam một
ancaloit mới với tỷ lệ 1% và đặt tên là ancaloit A đã đƣợc xác định công thức sau
đây: Năm 1965 tại Liên Xô cũ, Phan Quốc Kính và cộng sự cũng chiết từ củ bình
vôi mang từ Việt Nam sang một số ancaloit khác và đặt tên là ancaloit A, ancaloit C
và D với tỷ lệ 0,08% mỗi thứ (Hoá học các hợp chất thiên nhiên, 6-1965). D.
Đối với những ancaloit khác của củ bình vôi, chỉ có ancaloit A (tức là
roemerin) do Ngô Vân Thu chiết, đƣợc Dƣơng Hữu Lợi thí nghiệm duợc lý (Y học
Việt Nam, 1-1966) và đã đi tới những kết luận sau đây:
1. Dung dịch ancaloit A có tác dụng gây tê niêm mạc và phong bế: Tính theo
công thức G. Valette, dung dịch 0,5% có tác dụng gây tê niêm mạc tƣơng đƣơng với
dung dịch 1,8% clohydrat cocain, theo thí nghiệm của Mak và Nelson, dung dịch


18
ancaloit A 0,5% có tác dụng gây tê phong bế mạnh hơn dung dịch clohydrat cocain
1% và đung dịch novocain 3%.
2. Ancaloit A làm giảm biên độ và tần số co bóp của tim ếch cô lập, nhƣng
với liều mạnh hơn, tim ếch ngừng ở thời kỳ tâm trƣơng. Điều này chứng tỏ dung
dịch ancaloit A có ảnh hƣởng trực tiếp trên tấm cơ và làm ngừng co bóp. Dung dịch
ancaloit A có tác dụng đối lập với tác dụng gây tăng trƣơng lực và nhu động co bóp
ruột của dung dịch axetylcholin. Dung dịch ancaloit A có tác dụng an thần gây ngủ
với liều lƣợng nhẹ nhƣng với liều cao kích thích thần kinh hệ trung ƣơng, gây co
giật và chết. Ở điểm này, dung dịch ancaloit A hoàn toàn khác hẳn với dung dịch
rotundin. Ngoài ra, ancaloit A có tác dụng giãn mạch hạ huyết áp, giảm cả huyết áp
tối đa và tối thiểu.
3. Dung dịch ancaloit A có độc tính DL50: 0,125g/kg thể trọng chuột, nhƣ
vậy liều độc tƣơng đƣơng với clohydrat cocain, đồng thời dung dịch ancaloit A
cũng có những biếu hiện độc nhƣ co- cain (kích thích thần kinh hệ trung ƣơng, biểu
hiện co giật…). Trên lâm sàng rotundin đƣợc áp dụng rộng rãi từ năm 1944 và trong
suốt kháng chiến chống Pháp để điều trị có kết quả một số trƣờng hợp đau tim, mất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status