Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa: Tài chính
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
2. Tình hình quản lý, sử dụng vốn lưu động của công ty.............................................25
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
1
Khoa: Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển theo mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy quản lý tài chính doanh nghiệp
cần phải có những thay đổi cho phù hợp với xu thế phát triển này. Hơn nữa,
nước ta đã và sẽ hội nhập chủ động, hiệu quả vào khu vực AFTA/ASEAN,
mức độ mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ, tài chính, đầu tư sẽ đạt ngang
bằng với các nước trong khối ASEAN, từng bước tạo điều kiện về kinh tế,
pháp lý để hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và thế giới, thì vấn đề quản
lý điều hành vốn kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề quan trọng.
Vốn kinh doanh là yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong mọi quá
trình sản xuất kinh doanh và đồng thời cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với
sự tăng trưởng phát triển kinh tế của đất nước. Muốn cho quá trình sản xuất
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa: Tài chính
2
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
I. Khái quát về vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
1. Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh.
1.1. Khái niệm vốn kinh doanh:
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trước đến nay có rất
nhiều quan niệm về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những
quan niệm khác nhau về vốn.
Doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào cũng cần có
một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực hiện các khoản
đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua sắm tài
sản cố định, nguyên vật liệu... Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều
hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ
nhu cầu thị trường. Số tiền mà doanh nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản
phẩm, dịch vụ phải bù đắp được các chi phí bỏ ra, đồng thời phải có lãi.
Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
Hiện nay khái niệm vốn kinh doanh được sử dụng phổ biến là:
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại (DNTM) là biểu hiện
là số vốn cần thiết để đăng kí kinh doanh. Đó là vốn đóng góp của các thành
viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty tư nhân hoặc vốn
của nhà nước giao.
- Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do trích từ lợi nhuận, do ngân sách
nhà nước cấp, sự đóng góp của các thành viên, do bán trái phiếu… bổ sung để
tăng thêm vốn kinh doanh.
- Vốn liên doanh: là vốn do sự đóng góp của các bên khi tiến hành cam
kết liên doanh, liên kết với nhau trong hoạt động thương mại, dịch vụ.
- Vốn đi vay: trong hoạt động kinh doanh, ngoài số vốn chủ sở hữu, vốn
liên doanh để có đủ vốn kinh doanh doanh nghiệp phải đi vay của ngân hàng
trong và ngoài nước.
* Theo giác độ chu chuyển vốn kinh doanh:
- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định bao gồm: toàn
bộ những tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể có đủ tiêu chuẩn giá trị
và thời gian sử dụng qui định.
- Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu
thông.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa: Tài chính
4
+ Tài sản lưu động là những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn giá trị
và thời gian sử dụng để xếp vào tài sản cố định.
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
5
Khoa: Tài chính
2.2. Đặc điểm của vốn cố định:
Tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình kinh doanh, sau mỗi chu
kỳ kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, nên giá trị của nó
được chuyển dần từng phần vào giá trị của sản phẩm.
Tài sản cố định giữ nguyên hình thái vật chất của nó trong thời gian dài,
chỉ tăng thêm khi có xây dựng cơ bản mới hoặc mua sắm. Tài sản cố định hao
mòn dần, có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
- Hao mòn hữu hình phụ thuộc mức độ sử dụng tài sản cố định và các
điều kiện khác có ảnh hưởng tới độ bền lâu dài của tài sản cố định như:
+ Hình thức và chất lượng của tài sản cố định.
+ Chế độ quản lý, sử dụng tài sản cố định.
+ Chế độ bảo vệ, bảo dưỡng, sữa chữa, thay thế thường xuyên, định kỳ
đối với tài sản cố định.
+ Trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm của người sử dụng và sự quan
tâm của cấp lãnh đạo.
+ Các điều kiện tự nhiên và môi trường…
- Hao mòn vô hình chủ yếu là do tiến bộ khoa học- công nghệ mới và
năng suất lao động xã hội quyết định.
Tài sản cố định chuyển đổi thành tiền chậm hơn nhưng những tài sản cố định
như: nhà cửa, kho tàng, quầy hàng... lại là những tài sản có giá trị cao, là bộ mặt
cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp liên doanh...
- Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô
của doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và
là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả
các nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng
hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá. Bởi vậy
các doanh nhân thường ví “buôn tài không bằng dài vốn”.
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm trong sản suất kinh doanh. Vốn kinh doanh bao giờ cũng là
cơ sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính toán hoạch định các chiến lược và kế
hoạch kinh doanh. Nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình và
quan hệ kinh tế và nó cũng là dầu nhờn bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động
có hiệu quả.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố giá trị. Nó chỉ
phát huy được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ
kinh doanh. Nếu vốn không được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh
doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn
đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá
sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
7
+ Vốn phi hàng hoá là số tiền định mức của vốn bằng tiền. Vốn phi hàng
hoá gồm có vốn bằng tiền và tài sản khác.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa: Tài chính
8
. Vốn bằng tiền gồm có: tiền mặt tồn quỹ, tiền bán hàng chưa nộp vào
ngân hàng, tiền ứng kinh phí cho các cơ sở, khoản tiền đang chuyển.
. Tài sản khác gồm: Bao bì, vật liệu bao gói, các công cụ nhỏ, chi phí đợi
phân bổ. Ngoài ra còn phụ tùng thay thế và dụng cụ nhỏ.
- Vốn lưu động không định mức là số vốn lưu động có thể phát sinh
trong quá trình kinh doanh và trong sản suất dịch vụ, nhưng không thể có đủ
căn cứ để tính toán định mức được.
Vốn lưu động không định mức gồm có: vốn bằng tiền (tiền mua hàng và
giao cho nhân viên đi mua hàng), tiền gửi ngân hàng, tài sản có kết toán (các
khoản nợ nhờ ngân hàng thu, các khoản nợ phải đòi ở khách hàng, tiền ứng
trước để mua hàng, thanh toán công nợ dây dưa…), các phế liệu thu nhặt
trong ngoài vốn, tài sản chờ thanh lý...
* Quá trình chu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại:
- Với những doanh nghiệp thương mại thuần tuý, thì quá trình chu
chuyển của vốn lưu động thường trải qua hai giai đoạn:
+ Giai đoạn I: Mua hàng hoá (T – H), vốn lưu động chuyển từ hình thái
=
sản xuất
Vốn lưu động
+ Vốn lưu thông
sản xuất
Thành phần vốn lưu động là tổng thể các loại và các nhóm những yếu tố
vật chất khác nhau (hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu...) dưới hình thái giá trị.
Cơ cấu vốn lưu động là quan hệ tỉ lệ giữa giá trị mỗi loại và nhóm đó so với
toàn bộ giá trị vốn lưu động.
Trong nền kinh tế quốc dân, thành phần và cơ cấu vốn lưu động ở các
doanh nghiệp có sự khác nhau. Điều này do đặc điểm và tính chất hoạt động
của ngành đó quyết định. Kinh doanh thương mại là lĩnh vực lưu thông và
phân phối hàng hoá nên vốn lưu động chiếm tỉ lệ chủ yếu trong vốn kinh
doanh, thành phần và cơ cấu vốn của nó cũng khác với vốn lưu động trong
công nghiệp và xây dựng.
1.2. Nguồn của vốn lưu động.
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại gồm vốn tự có, vốn
coi như tự có và vốn đi vay:
- Vốn tự có gồm:
+ Nguồn vốn pháp định gồm: nguồn vốn lưu động do ngân sách hoặc cấp
trên cấp cho đơn vị (vốn cấp lần đầu và cấp bổ sung), nguồn vốn cổ phần nghĩa vụ
do các cổ đông đóng góp hoặc vốn pháp định của chủ xí nghiệp tư nhân.
+ Nguồn vốn tự bổ sung: hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp (thông qua các quỹ khuyến khích phát triển sản xuất), các
khoản chênh lệch giá hàng hoá tồn kho.
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Vốn này dùng để
xây dựng và trang bị các loại tài sản cố định khác nhau của doanh nghiệp. Tài
sản cố định của doanh nghiệp thương mại phản ánh cơ sở vật chất kỹ thuật
của doanh nghiệp, phản ánh năng lực kinh doanh hiện có và trình độ tiến bộ
khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp.
Đặc điểm cơ bản nhất của kinh doanh thương mại là gắn liền với quá
trình phân phối và lưu thông hàng hóa. Do đó vốn cố định của các doanh
nghiệp thương mại thường chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số vốn kinh
doanh. Cũng như các ngành khác, trong thương mại vốn cố định biểu hiện
dưới hai hình thái:
- Hình thái hiện vật: đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh
của các doanh nghiệp bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, công cụ,
thiết bị đo lường thí nghiệm, phương tiện vận tải, bốc dỡ hàng hoá...
- Hình thái tiền tệ: đó là giá trị tài sản cố định chưa khấu hao và vốn khấu
hao khi chưa sử dụng để tái sản xuất tài sản cố định, là bộ phận vốn cố định
đã hoàn thành vòng luân chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa: Tài chính
11
Tài sản cố định được phân loại theo những tiêu thức khác nhau:
- Theo hình thái biểu hiện, tài sản cố định bao gồm:
+ Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu, có hình
Chuyên đề tốt nghiệp
12
Khoa: Tài chính
+ Các loại dụng cụ đồ nghề chuyên dùng để đóng gói hàng hoá, tháo mở
bao bì, phân loại, chuẩn bị hàng hoá...
+ Các loại phương tiện vận chuyển như ô tô tải, ô tô chuyên dùng, rơ
moóc, xe chuyển hàng...
+ Các loại tài sản cố định khác không ở các nhóm kể trên như bao bì tài
sản, container...
- Căn cứ vào tình hình sử dụng, tài sản cố định được chia thành:
+ Tài sản cố định đang sử dụng: là những tài sản cố định của doanh
nghiệp đang sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc phúc lợi, sự
nghiệp hay an ninh quốc phòng của doanh nghiệp.
+ Tài sản cố định chưa cần dùng: là những tài sản cố định cần thiết cho
hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp song
hiện tại chưa cần dùng, đang được dự trữ để sử dụng sau này.
+ Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý: là những tài sản cố định
không cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, cần được thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra
ban đầu.
Trong các doanh nghiệp thương mại không phải lúc nào, ở doanh nghiệp
nào cũng đủ các thành phần nói trên của tài sản cố định. Trong quá trình phát
triển, vốn cố định của các doanh nghiệp sẽ được tăng thêm thông qua xây
dựng, cải tạo, mở rộng hoặc mua sắm mới. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các
loại tài sản cố định sẽ làm cho thành phần của tài sản cố định ngày càng
được đầu tư hoặc mua sắm bằng quỹ xí nghiệp.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: gồm các khoản vốn do các đơn vị tham
gia liên doanh, liên kết góp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản đã hoàn thành.
3. Sự cần thiết của việc sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả
trong các doanh nghiệp thương mại.
Sử dụng vốn trong kinh doanh thương mại là một khâu có tầm quan
trọng quyết định đến hiệu quả của kinh doanh vì bất cứ khâu nào trong kinh
doanh cũng liên quan đến vấn đề sử dụng vốn. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn
kinh doanh lại là kết quả tổng hợp của tất cả các khâu, các bộ phận trong kinh
doanh, từ phương hướng kinh doanh đến các biện pháp tổ chức thực hiện,
cũng như sự quản lý, hạch toán theo dõi, kiểm tra, nghệ thuật kinh doanh và
cơ hội kinh doanh.
Mục tiêu cũng như ý tưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh là hướng
tới hiệu quả kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng một cách triệt để mọi
nguồn lực sẵn có. Chính vì thế, các nguồn lực kinh tế trên cơ sở khai thác và
sử dụng, đặc biệt là nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có tác
động mạnh mẽ tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Khai thác sử dụng
các tiềm lực về vốn sẽ đem lại hiệu quả thực sự cho hoạt động sản xuất kinh
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa: Tài chính
14
thời gian huy động vốn. Lựa chọn và tìm được nguồn tài trợ thích hợp là nhân
tố trực tiếp quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
15
Khoa: Tài chính
- Chi phí kinh doanh: là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng
vốn. Chí phí tăng làm giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng theo dẫn đến sức tiêu thụ
giảm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, các doanh nghiệp luôn phấn
đấu giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá
trên thị trường, quá trình tiêu thụ diễn ra nhanh hơn, tăng vòng quay của vốn,
góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Lựa chọn phương án kinh doanh thích hợp: trong nền kinh tế thị trường,
quy mô và tích chất sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là do thị
trường quyết định. Khả năng nhận biết, dự đoán thị trường và nắm bắt thời cơ
là những nhân tố quyết định đến thành công hay thất bại trong kinh doanh. Vì
vậy, việc lựa chọn đúng phương án kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Các phương án kinh doanh phải được xây dựng
trên cơ sở tiếp cận thị trường. Có như vậy sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp
mới có khả năng tiêu thụ được, vốn lưu động luân chuyển đều đặn, tài sản cố
định mới có khả năng phát huy hết công suất, hiệu quả sử dụng vốn cao.
- Các mối quan hệ của doanh nghiệp: những mối quan hệ này thể hiện trên
hai phương diện là quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và giữa doanh
hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất
kinh doanh theo những ngành nghề mà doanh nghiệp đã lựa chọn và hướng các
hoạt động đó theo chính sách quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy, chỉ một thay đổi
nhỏ trong cơ chế quản lý và chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng đến hoạt
động của doanh nghiệp như: việc quy định trích khấu hao, tỷ lệ trích lập các
quỹ, các văn bản chính sách về thuế xuất nhập khẩu... Nói chung, sự thay đổi
cơ chế và chính sách của nhà nước sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc sử dụng
vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp. Song nếu doanh nghiệp nhanh chóng nắm
bắt được những thay đổi và thích nghi thì sẽ đứng vững trên thị trường và có
điều kiện để phát triển và mở rộng kinh doanh, phát huy khả năng sáng tạo
trong quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Sự tác động của thị trường: tuỳ theo loại thị trường mà doanh nghiệp
tham gia sẽ có những tác động riêng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
của doanh nghiệp. Nếu thị trường mà doanh nghiệp tham gia là thị trường tự
do cạnh tranh, sản phẩm của doanh nghiệp đã có uy tín với người tiêu dùng
thì đó sẽ là tác nhân tích cực thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường và
tăng doanh thu cho doanh nghiệp. Còn đối với thị trường không ổn định thì
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng không ổn định do kết quả kinh doanh
thất thường nên vốn không được bổ sung kịp thời.
Hiện nay ở nước ta thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh, các
chính sách công cụ nợ trung và dài hạn còn hạn chế, giá của vốn chưa thực sự
biến động theo giá thị trường mà chủ yếu là giá áp đặt. Đây là điều hết sức
khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc huy động vốn cho sản xuất kinh
doanh cũng như thực hiện chính sách đầu tư trong trường hợp có vốn nhàn
rỗi. Điều này cho thấy, để đạt được mục đích sử dụng vốn có hiệu quả là hoàn
toàn không dễ dàng. Đây là yếu tố mà doanh nghiệp không có khả năng tự
khắc phục song lại có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động kinh
doanh, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nguyễn Hồng Quân
Địa chỉ:
Số 125 Đường Nguyễn Phong Sắc - Quận Cầu Giấy - Hà Nội.
Tel:
(04) 7567.857; (069) 515.644
Fax:
(04) 7567.858;
Email:
[email protected]
Website:
http://www.cktqp.gov.vn/mipeco
Giám đốc:
Vương Đình Dung.
Sáng 2/7/2009 tại Hà Nội, Tổng Cục Hậu Cần, Bộ Quốc phòng tổ chức
ra mắt Tổng công ty Xăng dầu Quân đội.
Công ty Xăng dầu Quân đội, tiền thân là xưởng MX 315,được thành lập
ngày 30/9/1965.Năm 2008,Công ty Xăng dầu Quân đội được Chính phủ quyết
định chuyển đổi thành Tổng Công ty xăng dầu Quân đội theo hình thức Công
tư tưởng, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, làm tốt đặc thù
của một doanh nghiệp vừa làm nhiệm vụ quốc phòng, vừa sản xuất, kinh
doanh trong cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.
Tổng công ty sẽ đảm bảo những nguồn lực tốt nhất để xây dựng hệ thống
mạng lưới cung ứng xăng dầu theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng.Tập trung xây
dựng Tổng công ty không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, trong đó Công ty mẹ
đủ sức đầu tư hỗ trợ cho các Công ty con, nâng cao tính tự chủ, năng động
trong sản xuất kinh doanh của các công ty con.
2. Hệ thống tổ chức của Tổng Công Ty Xăng Dầu Quân Đội.
2.1 Cơ cấu quản lý của Công ty mẹ - Tổng công ty Xăng dầu quân
đội gồm:
• Tổng giám đốc, các phó Tổng giám đốc, các Giám đốc điều hành, Kế
toán trưởng.
• Bộ máy giúp việc gồm:
-
Phòng Kế hoạch Tổng hợp
Phòng Kinh doanh - Xuất nhập khẩu
Phòng Kỹ thuật - Vật tư
Phòng Tài chính - Kế toán
- Phòng Tổ chức lao động
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
3. Kết quả hoạt động kinh doanh:
Qua quá trình đào tạo và tự đào tạo đến đến nay đội ngũ cán bộ công
nhân viên đã có bước chuyển biến quan trọng về chất, đặc biệt là lớp trẻ sau
này đã hình thành một tập thể năng động, sáng tạo đủ năng lực chuyên môn
kỹ thuật đáp ứng mọi yêu cầu công tác trong thời kỳ mới.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
20
Khoa: Tài chính
Sự đầu tư một cách toàn diện,có chiều sâu như vậy đã tạo điều kiện cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát triển mạnh mẽ và ổn định tạo
nên thế và lực đưa công ty lên một tầm cao mới.
Với mục đích kinh doanh chính là đáp ứng tốt nhất về xăng dầu và các
sản phẩm hoá dầu,góp phần làm bình ổn thị trường trên địa bàn mình phụ
trách.Ngoài ra công ty còn tận dụng phát huy hết điều kiện năng lực sẵn có để
phát triển các hoạt động kinh doanh khác.Bằng sự nỗ lực của mình công ty đã
đạt được những kết quả nhất định trong sản xuất kinh doanh như: thực hiện
đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế tài chính, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả,
làm tròn nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Trong kinh doanh,dưới tác động của cơ chế thị trường công ty đã nhanh
chóng hoạch định những chiến lược kinh doanh mới, thay đổi cơ chế đảm bảo
nguồn và cơ chế định giá cùng với việc mở rộng mạng lưới thay đổi phương
thức bán hàng (bán buôn, bán lẻ, bán qua đại lý) đã làm thoả mãn ngày càng
2006
2007
2008
2009
Tổng DT
Giá vốn
CP bán hàng
CP QLDN
CP khác
Lợi nhuận trước thuế
8551042,1
8939955,1
180335,9
20892,1
59114,3
-649255,5
11957258,2
12412262,3
251746,3
33766,7
77694
-818211,2
16134765,1
1325,8
-189,7
2006/2007
∆
%
3406216,1
39,8
3472307,2
38,84
71410,4
39,6
12874,6
61,62
18579,7
31,43
-168955,7
-26.02
-11953,1
-64,6
2007/2008
∆
%
4177506,9
34,93
5103031,6
41,11
-100,62
Nguồn: Báo cáo hoạt động kết quả kinh doanh các năm phòng kế toán.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
22
Khoa: Tài chính
Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty trước khi
xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế TG là khá khả quan.Từ năm 2006-2008
Tổng công ty luôn đạt kế hoạch và vượt chỉ tiêu về doanh số bán hàng,doanh
thu.Tuy nhiên khi cuộc khủng hoảng kinh tế TG bùng nổ,mà mặt hàng xăng
dầu lại mang y nghĩa tối quan trọng trên thế giới,Tổng công ty cũng bị ảnh
hưởng ít nhiều,làm cho sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn,trở ngại.
Doanh thu từ năm 2006-2008 có sự tăng trưởng vượt bậc,mỗi năm mức
tăng đều trên 30% (39,8% năm 2007 và 34,93% năm 2008).Con số thực tế lần
lượt là 3406216,1 và 4177506,9 triệu đồng.Nhưng tổng DT năm 2009 đã bị
chững lại và bị sụt giảm do suy thoái kinh tế toàn cầu,giảm 2296977,6 triệu
đồng,ứng với -14,23%.Đây là 1 thách thức mà công ty cần vượt qua để tiếp
tục phát triển.
Về lợi nhuận, đặc biệt là trong năm 2007,2008 ở nhiều thời điểm giá nhà
nước giao cho công ty là quá cao, có mặt hàng (giá giao + VAT + phí xăng
cấu các công trình xăng dầu,đường ống dẫn…góp phần đẩy mạnh sự phát
triển dân sinh cũng như sự phát triển của toàn công ty.
Thực hiện đầy đủ,nộp ngân sách nhà nước đúng hạn.Tổng nộp NSNN năm
2006-2009 là 22887,6 triệu đồng.Tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng chục
nghìn người lao động với mức thu nhập bình quân là 2,5 triệu/người/tháng.
Với những kết quả đạt được,trong những năm tới Tổng công ty xăng dầu
Quân đội quyết tâm giữ vững và phát triển mạng lưới rộng khắp xuống cả
vùng sâu,vùng xa nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng, đóng góp nhiều
hơn vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
II. Thực trạng tình hình sử dụng vốn kinh doanh của Tổng
công ty xăng dầu Quân đội.
1. Khái quát về vốn kinh doanh của công ty.
Tổng Công ty xăng dầu Quân đội là một doanh nghiệp nhà nước, nên
nguồn vốn kinh doanh của công ty chủ yếu là do nhà nước cấp và nguồn tự bổ
xung qua quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Nguồn do ngân
sách nhà nước cấp hàng năm không đáng kể,trong khi đó nguồn tự bổ xung có
ý nghĩa rất quan trọng, nó phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty.
Bảng 2: Cơ cấu vốn kinh doanh của công ty.
Đơn vị: triệu đồng.
Năm
2006
2007
2008
2009
Tổng vốn
kinh doanh
1711660,9
ta thấy, vốn cố định của công ty từ năm 2006 đến năm 2009 chiếm khoảng từ
1 – 6%, vốn lưu động chiếm từ 94 – 98% trong tổng số vốn. Như vậy với một
doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thiết yếu như xăng dầu thì đây là cơ cấu
vốn hợp lý đảm bảo quá trình kinh doanh diễn ra liên tục, ổn định.
Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn của công ty qua các năm.
Nguyễn Hồng Quân
Lớp: TCDN C - CĐ24
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu
2006
Trị giá
Tỷ trọng
1635243,4
95,53%
I.Nợ phải trả
1.Nợ dài hạn
Khoa: Tài chính
24
2007
Trị giá
Tỷ trọng
6%
1623743,4
94,86%
3497090,2
93,31%
3134174,
97,27%
3803124,
87,8%
0
0
0
0
1
0
237692,9
6,34%
75980,1
2,36%
260071,7
6%
1.Nguồn vốn quỹ
13443,8
0,78%
11116,9
0,3%
6914,8
0,22%
8496,9
0,2%
cường huy động vốn chiếm dụng để đưa vào kinh doanh.Tuy nhiên dấu hiệu
tăng nguồn vốn CSH cũng cho thấy những tín hiệu tích cực trong việc kinh
doanh của công ty.
Để xem xét khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về
mặt tài chính, ta đi vào so sánh chỉ tiêu tỷ suất tài trợ.
Nguồn vốn CSH
Tỷ suất tài trợ (Tstt)
=
Tổng nguồn vốn
76417,6
Tstt 2006
=
=
0.0447
1711660,98
248809,2
Tstt 2007
=
Nguyễn Hồng Quân
= 0,0664