Sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh (qua một số tác phẩm cụ thể) tt - Pdf 49

O Ụ V
OT O
Ọ SƢ P
M
N I

TRƢỜN

O N T ẾN LỰC

SỰ CHUYỂN ỔI
TỪ N ÔN N Ữ VĂN

Ọ SAN

N ÔN N Ữ

(Qua một số tác phẩm cụ thể)
huyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
M số: 6

TÓM TẮT LUẬN N T ẾN SĨ N Ữ VĂN

à Nội – 2018

ỆN ẢNH


Luận án đƣợc hoàn thành tại:
Trƣờng ại học Sƣ phạm à Nội


học. Và để phù hợp với quy luật phát triển chung của các phương tiện giao tiếp,
nghiên cứu ngôn ngữ ngày càng cần phải được mở rộng phạm vi theo hướng
liên ngành, khẳng định và dành vị trí xứng đáng cho các loại phương tiện ngôn
ngữ khác bên cạnh phương tiện ngôn ngữ nói / viết.
1.2. Xét ở phương tiện biểu đạt, ngôn ngữ văn học là ngôn từ nghệ thuật,
là phương tiện của hoạt động giao tiếp văn chương còn ngôn ngữ điện ảnh là
hình ảnh động và âm thanh nghệ thuật, là phương tiện của hoạt động giao tiếp
điện ảnh. Bởi vậy, trong sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ
điện ảnh sự tương đồng hay khác biệt của hai loại ngôn ngữ (phương tiện giao
tiếp) này sẽ được biểu lộ ra rõ nhất.
1.3. Nghiên cứu liên ngành ngày càng trở thành xu hướng tất yếu trong
nghiên cứu khoa học bởi khả năng làm tăng tính hiệu quả của hoạt động nghiên
cứu. Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã bắt nhịp được với thực tiễn nghiên
cứu của ngôn ngữ học, mở rộng phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ đến các loại hình
ngôn ngữ-phương tiện giao tiếp như ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh dựa trên nền
tảng lí thuyết tín hiệu học với sự mở rộng nội hàm của khái niệm ngôn ngữ.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, chưa có công trình khoa học nào tiếp cận, so sánh các
loại hình ngôn ngữ nghệ thuật, các hoạt động giao tiếp nghệ thuật theo hướng
liên ngành.
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài nghiên cứu “Sự
chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh” (Qua một số tác phẩm
cụ thể).
Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn và thực hiện đề tài “Sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang
ngôn ngữ điện ảnh” (Qua một số tác phẩm cụ thể), mục đích của chúng tôi là
bước đầu làm rõ những xu hướng chuyển đổi ở phương diện ngôn ngữ khi hoạt
động giao tiếp văn học chuyển tiếp sang hoạt động giao tiếp điện ảnh / văn bản


2

của đạo diễn Đặng Nhật Minh được phát hành, nhận được nhiều giải thưởng trong
nước và quốc tế, đánh một dấu mốc quan trọng trong bước phát triển của điện ảnh


3
Việt Nam) đến năm 2014 (- thời điểm chúng tôi thực hiện việc khảo sát ngữ liệu
nghiên cứu), cụ thể:
STT
VBTKVH nguồn
PT A chuyển thể
1
“Thương nhớ đồng quê” (1992)
“Thương nhớ đồng quê” (1995)
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Đạo diễn Đặng Nhật Minh
2
“Những người thợ xẻ” (1989)
“Những người thợ xẻ” (1999)
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Đạo diễn Vương Đức
3
“Ba người trên sân ga” (1990)
“Đời cát” (1999)
(Truyện ngắn của Hữu Phương)
Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân
4
“Bến Không chồng” (1990)
“Bến Không chồng” (2000)
Tiểu thuyết của Dương Hướng
Đạo diễn Lưu Trọng Ninh.

Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình
12 “Phiên bản” (2009)
“Hương Ga” (2014)
Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
Đạo diễn Cường Ngô
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu;
- Khảo sát những xu hướng chuyển đổi, biến đổi từ ngôn ngữ văn học
sang ngôn ngữ điện ảnh (qua kí hiệu - biểu tượng và đối thoại).


4
- Phân tích, lí giải cho những xu hướng chuyển đổi, biến đổi về mặt ngôn
ngữ (thể hiện qua sự chuyển đổi kí hiệu - biểu tượng và đối thoại) khi
VBTKVH được chuyển thể sang PTĐA.
6 Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong quá trình
khảo sát để xác định được biểu tượng nào, lời đối thoại nào được chuyển đổi
sang PTĐA, số lượng bao nhiêu; biểu tượng nào, lời đối thoại nào không được
chuyển đổi sang PTĐA, số lượng bao nhiêu. Đây là cơ sở quan trọng để nhận
định mức độ phổ biến của các xu hướng chuyển đổi biểu tượng, đối thoại từ
VBTKVH sang PTĐA.
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để diễn giải các xu hướng chuyển
đổi, biến đổi biểu tượng (ở chương 2) và các xu hướng chuyển đổi, biến đổi đối
thoại (ở chương 3), giúp làm rõ các thuộc tính của đối tượng nghiên cứu.
Thủ pháp so sánh – đối chiếu được sử dụng vào việc phát hiện những
đặc điểm khác nhau của kí hiệu ngôn từ văn học, đối thoại văn học với kí hiệu
hình ảnh điện ảnh, đối thoại điện ảnh nói riêng và sự khác nhau của hệ thống
ngôn ngữ văn học/ giao tiếp văn học với hệ thống ngôn ngữ điện ảnh/ giao tiếp

học sang biểu tƣợng trong phim truyện điện ảnh
hƣơng 3: Sự chuyển đổi từ ngôn ngữ đối thoại trong văn bản truyện
kể văn học sang ngôn ngữ đối thoại trong phim truyện điện ảnh
hƣơng
TỔNG QUAN VỀ Ề T N
ÊN ỨU V
Ơ SỞ LÍ T UYẾT
1.1. TỔN QUAN VỀ Ề T N
ÊN ỨU
Tình hình nghiên cứu về sự chuyển đổi ngôn ngữ trên thế giới
Trên thế giới, có khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đến vấn đề
chuyển đổi ngôn ngữ như Roman Jakobson (1959), Eugne Nida (1964),
Katharina Reiss (1977), Basil Hatim và Ian Mason (1990)v.v… Trong các công
trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu này, các vấn đề đã được đặt ra xem xét
như tính tương đương, biến đổi cũng như những mối liên hệ ở ngôn ngữ nguồn/
văn bản nguồn và ngôn ngữ đích / văn bản đích. Những kết quả nghiên cứu này
góp phần hình thành nên những nền tảng lí luận cơ bản cho hoạt động chuyển
đổi ngôn ngữ, đặc biệt là chuyển đổi ngôn ngữ trong giao tiếp song ngữ (còn
gọi là chuyển dịch hay phiên dịch).
Cùng với đó, cũng có một số nghiên cứu về sự chuyển đổi từ ngôn ngữ
văn học sang ngôn ngữ điện ảnh dưới ánh sáng của lí thuyết phiên dịch hay liên
văn bản… Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của các công trình nghiên cứu này
mới chỉ dừng lại ở một hai trường hợp phim truyện điện ảnh chuyển thể cụ thể.
Tình hình nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về chuyển đổi ngôn ngữ nói chung,
nghiên cứu về sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh nói
riêng còn chưa có nhiều. Thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, mới chỉ có một số
nghiên cứu của Nguyễn Lai (1996), Trương Viên (2003), Đỗ Phương Thảo
(2009)… nhưng cũng không nghiên cứu trực tiếp vấn đề chuyển đổi từ ngôn
ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh mà chỉ nghiên cứu sự chuyển mã hình

tầng của các tín hiệu.
1.2.1.2. Tín hiệu và việc xác định nội hàm các khái niệm ‘ngôn ngữ’,
‘ngôn ngữ nghệ thuật’
Ngôn ngữ được hiểu theo nghĩa rộng là bất cứ một hệ thống tín hiệu nào
phục vụ cho hoạt động giao tiếp, nghĩa là bao gồm cả các ngôn ngữ nghệ thuật
như ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ điện ảnh, ngôn ngữ hội họa….
Ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu hàm biểu được xây chồng lên
từ hệ thống tín hiệu biểu thị, phục vụ cho các hoạt động giao tiếp nghệ thuật.


7
Lí thuyết về ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh
1.2.2.1. Lí thuyết về ngôn ngữ văn học
a. Khái niệm
Xét từ mặt bản chất tín hiệu, ngôn ngữ văn học có thể hiểu là hệ thống tín
hiệu ngôn từ hàm biểu được dùng để tạo lập nên văn bản văn học, truyền tải
thông điệp trong hoạt động giao tiếp văn học.
b. Một số đặc điểm cơ bản
- Ngôn ngữ văn học có tính hình tuyến
- Ngôn ngữ văn học có tính hình tượng phi vật thể
- Ngôn ngữ văn học có tính đa nghĩa
1.2.2.2. Lí thuyết về ngôn ngữ điện ảnh
a. Khái niệm
Ngôn ngữ điện ảnh là phương tiện biểu hiện của văn bản điện ảnh, là sự tổ
chức của các tín hiệu hình ảnh động và âm thanh theo một quy tắc “ngữ pháp” đặc
trưng - được gọi là montage (ghép dựng) nhằm khắc họa hình tượng, truyền tải
thông điệp, thực hiện giao tiếp nghệ thuật giữa chủ thể sáng tạo và người tiếp nhận.
b. Một số đặc điểm cơ bản
- Ngôn ngữ điện ảnh vừa có đặc tính thời gian vừa có đặc tính không gian
- Ngôn ngữ điện ảnh có tính trực quan, sinh động

Biểu tượng có thể là tất cả mọi thứ từ cụ thể (như trang phục, tượng điêu
khắc, công trình kiến trúc…) đến trừu tượng như các giấc mơ, các mô-típ, hành
vi, thế giới thần linh… Ý nghĩa của một biểu tượng không phải là một cấu trúc
khép kín, không phải là sự tương ứng cố định giản đơn 1:1 giữa cái biểu đạt và
cái được biểu đạt mà là một khả năng gợi ra các chiều liên tưởng trong thực tại
tinh thần của con người.
b. Sự chuyển hóa và sự vận động tương tác biến đổi ý nghĩa của biểu
tượng trong văn bản nghệ thuật
Một trong những nguồn hình thành các biểu tượng nghệ thuật trong văn
bản nghệ thuật là sự chuyển hóa, đi vào của các biểu tượng văn hóa. Sự vận
động tương tác biến đổi ý nghĩa của các tín hiệu nói chung và biểu tượng nói
riêng trong văn bản nghệ thuật không nằm ngoài quy luật biến đổi ngữ nghĩa
của ngôn ngữ.
c. Biểu tượng trong VBTKVH và trong PTĐA
Biểu tượng trong VBTKVH hiện diện qua các hình thể từ ngữ còn được
gọi là các từ-biểu tượng (word-symbol) còn biểu tượng trong các PTĐA hiện
diện qua các hình ảnh hoặc âm thanh.
1.2.3.2. Lí thuyết về đối thoại trong VBTKVH và PTĐA
a. Đối thoại là gì?
Đối thoại là thành phần quan trọng trong kết cấu của ngôn ngữ kể chuyện.
Đây là những lời trao đáp của các nhân vật đã được người tạo lập văn bản tái
tạo theo sự mô phỏng hội thoại trong giao tiếp hàng ngày. Và là „phiên bản
nhân tạo‟ của các cuộc hội thoại trong giao tiếp hàng ngày của con người nên
chúng cũng có cấu trúc giống như cấu trúc của các cuộc hội thoại và cũng được
thể hiện theo các quy tắc, phương châm hội thoại.
b. Chức năng của đối thoại trong VBTKVH và PTĐA
- Chức năng cá thể hóa tính cách nhân vật
- Chức năng thông tin, miêu tả
- Chức năng tham gia vào dẫn dắt và tổ chức câu chuyện
- Chức năng liên cá nhân

(NHÀ VĂN)

NGƯỜI NHẬN 1
(NHÀ LÀM PHIM)

TIẾP XÚC 1
MÃ (NGÔN NGỮ VĂN HỌCNGÔN NGỮ ĐÍCH)

NGỮ CẢNH 2
THÔNG ĐIỆP 2
(PTĐA- VB ĐÍCH)
NGƯỜI PHÁT 2
(NHÀ LÀM PHIM)

TIẾP XÚC 2

NGƯỜI NHẬN 2
(KHÁN GIẢ)

MÃ (NGÔN NGỮ ĐIỆN ẢNH –
NGÔN NGỮ ĐÍCH)

ình

6: Lƣợc đồ quá trình chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học

sang ngôn ngữ điện ảnh trong mô hình của hoạt động giao tiếp


10

chuyển thể tương ứng được thực hiện theo hai tiêu chí Ó và K ÔN
Ó.
Sau đó, chúng tôi tổng hợp và đối ứng các kết quả định lượng này để có một kết
quả toàn diện, xác định được biểu tượng nào trong VBTKVH nguồn được
chuyển đổi sang và biểu tượng nào không được chuyển đổi sang PTĐA cũng
như biểu tượng nào được sáng tạo mới trong PTĐA chuyển thể. Từ đó, chúng
tôi xác định được có ba xu hướng chuyển đổi, biến đổi biểu tượng khi
VBTKVH được chuyển thể sang PTĐA:


11
- Cắt giảm biểu tượng ở VBTKVH nguồn
- Sáng tạo thêm biểu tượng ở PTĐA chuyển thể
- Chuyển đổi từ biểu tượng ngôn từ trong VBTKVH sang thành biểu
tượng hình ảnh trong PTĐA.
Những kết quả nghiên cứu định lượng cũng cho thấy xu hướng chuyển
đổi từ biểu tượng trong VBTKVH sang biểu tượng trong PTĐA là xu hướng
phổ biến hơn cả. Có biểu đồ hóa mức độ phổ biến của các xu hướng chuyển
đổi, biến đổi biểu tượng (xét về số lượng) khi VBTKVH được chuyển thể sang
PTĐA như sau:

Số biểu tượng
được chuyển đổi
từ VBTKVH
sang PTĐA

Số biểu
tượng không
được chuyển
đổi từ

Sự không tương ứng giữa cái biểu đạt của biểu tượng trong VBTKVH
nguồn và trong PTĐA chuyển thể lại thể hiện ở một số mức độ:
(i) Cái biểu đạt của biểu tượng trong VBTKVH hoàn toàn không tương
ứng với cái biểu đạt của biểu tượng đó trong PTĐA. Nghĩa là, có những trường
hợp hình ảnh được gợi ra từ các từ ngữ biểu thị biểu tượng trong VBTKVH
không tương ứng với hình ảnh biểu thị biểu tượng đó trong PTĐA (mặc dù ý
nghĩa biểu trưng của biểu tượng này trong VBTKVH và trong PTĐA chuyển
thể vẫn tương đương).
(ii) Cái biểu đạt của biểu tượng trong PTĐA có tần suất xuất hiện ít hơn
hoặc nhiều hơn so với trong VBTKVH nguồn.
2.2.2. Những hƣớng chuyển đổi từ biểu tƣợng trong V TKV sang PT A
xét ở phƣơng diện cái đƣợc biểu đạt (phƣơng diện ý nghĩa)
2.2.2.1. Tương đương về ý nghĩa
Có thể mô tả những trường hợp chuyển đổi từ biểu tượng trong VBTKVH
nguồn sang PTĐA chuyển thể tương đương về ý nghĩa như sau: Biểu tượng (A)
trong VBTKVH có các ý nghĩa biểu trưng n1, n2, n3 và khi được chuyển đổi vào
trong PTĐA chuyển thể, biểu tượng (A) cũng có các ý nghĩa n1, n2, n3.
2.2.2.2. Thu hẹp ý nghĩa
Trong các trường hợp biểu tượng được chuyển đổi từ trong VBTKVH
nguồn sang PTĐA chuyển thể, có những trường hợp ý nghĩa của biểu tượng trong
VBTKVH nguồn rộng hơn (nhiều hướng nghĩa biểu trưng hơn) ý nghĩa của biểu
tượng đó trong PTĐA chuyển thể.
2.2.2.3. Phát triển thêm ý nghĩa
Các trường hợp chuyển đổi biểu tượng từ VBTKVH sang PTĐA được
xác định là chuyển đổi theo hướng phát triển thêm ý nghĩa khi ý nghĩa của biểu
tượng trong PTĐA chuyển thể rộng hơn (nhiều hướng nghĩa biểu trưng hơn) so
với ý nghĩa của biểu tượng trong VBTKVH nguồn.
2.3. M T SỐ KIẾN GIẢI VỀ XU ƢỚNG CHUYỂN ỔI BIỂU TƢỢNG
TỪ VĂN ẢN TRUYỆN KỂ VĂN ỌC SANG PHIM TRUYỆN ỆN ẢNH
2.3.1. Những chi phối từ sự bất tƣơng đồng về m ngôn ngữ

2.3.2. Những chi phối từ sự bất tƣơng đồng về thông điệp ở văn bản truyện
kể văn học nguồn và ở phim truyện điện ảnh chuyển thể
Hệ thống tín hiệu trong VBTKVH cũng như trong PTĐA được sử dụng
để kiến tạo văn bản, truyền tải thông điệp. (Và thông điệp của VBTKVH cũng
như PTĐA chính là nghĩa chủ đề tư tưởng của những loại hình văn bản truyện
kể này). Điều này, tương ứng với hệ quả: nếu từ VBTKVH nguồn đến PTĐA
chuyển thể có sự biến đổi nhất định về chủ đề từ tưởng thì sự biến đổi đó sẽ chi
phối đến phương tiện biểu đạt là hệ thống tín hiệu trong văn bản.
Tìm hiểu cấu trúc nghĩa chủ đề của các VBTKVH nguồn cũng như cấu
trúc nghĩa chủ đề của các PTĐA chuyển thể tương ứng, chúng tôi nhận thấy tất
cả các trường hợp chuyển thể từ VBTKVH sang PTĐA đều có sự biến đổi về
cấu trúc nghĩa chủ đề và biến đổi theo hai hướng:
(i) Cấu trúc lại chủ đề của VBTKVH nguồn ở PTĐA chuyển thể theo
hướng phát triển thêm


14
(ii) Cấu trúc lại chủ đề của VBTKVH nguồn ở PTĐA chuyển thể theo
hướng thu hẹp lại
2.3.3. Sự bất tƣơng đồng về chủ thể sáng tạo
Ở giai đoạn thứ nhất của quá trình chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học /
VBTKVH nguồn sang ngôn ngữ điện ảnh / PTĐA chuyển thể (giai đoạn giải mã,
luận nghĩa ở VBTKVH), việc giải mã phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố người nhận
-„người hiểu‟ (interpreter) - nhà làm phim. Ở giai đoạn này, các đối tượng khách
thể từ ngôn ngữ sẽ được khúc xạ qua tâm trí của người tiếp nhận / nhà làm phim,
hình thành trong nhà làm phim những hình ảnh tâm trí (mental image) về sự vật,
ý niệm mà tín hiệu ngôn từ biểu thị.
Ở giai đoạn thứ hai của quá trình chuyển đổi, dựa vào những hình ảnh tâm
trí được khúc xạ từ những sự vật, ý niệm được gợi ra từ các tín hiệu ngôn từ, nhà
làm phim tái tạo hình ảnh điện ảnh. Có thể mô phỏng quá trình chuyển đổi này

hiệu này là hai mã ngôn ngữ khác nhau (khác nhau về mối quan hệ nội tại giữa
cái biểu đạt và cái được biểu đạt, khác nhau về đơn vị mã và khác nhau về các
quan hệ cú pháp, quan hệ liên tưởng) nên khác nhau trong cơ chế mã hóa để biểu
đạt một ý nghĩa nào đó. Điều này cũng có nghĩa là một nội dung ý nghĩa được
biểu đạt / mã hóa bởi ngôn từ văn học hoàn toàn có thể được chuyển đổi tương
tương sang biểu đạt/ mã hóa bằng hình ảnh điện ảnh. Sự tương đương ở đây
được hiểu là tương đương trong khác biệt (về mã).
Quá trình chuyển đổi từ biểu tượng ngôn từ văn học sang biểu tượng hình
ảnh điện ảnh nói riêng và sự chuyển đổi từ tín hiệu ngôn từ văn học sang tín hiệu
hình ảnh điện ảnh nói chung ngoài chịu sự chi phối từ sự bất tương đồng của mã
kí hiệu ngôn ngữ văn học và mã kí hiệu ngôn ngữ điện ảnh còn chịu sự chi phối
từ sự bất tương đồng về chủ thể giao tiếp và sự bất tương đồng về thông điệp ở
hoạt động giao tiếp văn học và hoạt động giao tiếp điện ảnh.
hƣơng 3
SỰ CHUYỂN ỔI TỪ N ÔN N Ữ ỐI THO TRON VĂN ẢN
TRUYỆN KỂ VĂN ỌC SAN N ÔN N Ữ ỐI THO I TRONG
PHIM TRUYỆN ỆN ẢNH
Dẫn nhập
Nghiên cứu sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh,
ở chương này, chúng tôi chọn tiếp cận sự chuyển đổi từ đối thoại trong
VBTKVH sang PTĐA bởi như đã lí giải trong phần giới hạn phạm vi vấn đề
nghiên cứu của luận án, đây là thành phần ngôn ngữ biểu hiện rõ sự tương giao
giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ điện ảnh.
3.1. N
ÊN ỨU ỊN LƢỢNG VỀ LỜ ỐI THO I TRONG VĂN
BẢN TRUYỆN KỂ VĂN ỌC NGUỒN V P M TRUYỆN ỆN ẢNH
CHUYỂN THỂ
3.1.1. Thống kê-đối ứng tổng số lời đối thoại trong các văn bản truyện kể
văn học nguồn và các phim truyện điện ảnh chuyển thể tƣơng ứng
Chúng tôi đã thực hiện việc khảo sát, thống kê số lượng lời đối thoại

5 Ngôi nhà xưa/ Mùa ổi
34
513
6 Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành/ Người
160
305
đàn bà mộng du
7 Mùa len trâu, Một cuộc biển dâu/ Mùa len trâu
32+36
466
8 Tiếng đàn môi sau bờ rào đá/ Chuyện của Pao
21
217
9 Trăng nơi đáy giếng/ Trăng nơi đáy giếng
48
271
10 Mười ba bến nước/ Mười ba bến nước
58
319
11 Cánh đồng bất tận/ Cánh đồng bất tận
93
313
12 Phiên bản/ Hương Ga
651
328
Tổng
2636
4637
Bảng 3.1: Số lƣợng lời đối thoại
trong các V TKV nguồn và PT A chuyển thể tƣơng ứng

nhớ đồng quê
2
Những người thợ xẻ/ Những người
80
338
138
thợ xẻ
3
Ba người trên sân ga/ Đời cát
12
365
4
4
Bến không chồng/ Bến không
1111
511
67
chồng
5
Ngôi nhà xưa/ Mùa ổi
18
497
16
6
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
129
274
31
hành/ Người đàn bà mộng du
7

44
Tổng
2171
4172
465
Bảng 3.2: Số lƣợng lời đối thoại đƣợc sáng tạo thêm ở PT A chuyển thể,
không đƣợc chuyển sang PT A chuyển thể và đƣợc chuyển sang PT A
chuyển thể


18
Tương ứng với bảng thống kê trên, có ba xu hướng chuyển đổi, biến đổi
lời đối thoại khi VBTKVH được chuyển thể sang PTĐA:
- Cắt giảm lời đối thoại ở VBTKVH nguồn
- Sáng tạo thêm lời đối thoại trong PTĐA chuyển thể
- Chuyển lời đối thoại từ VBTKVH nguồn sang PTĐA chuyển thể
3.2. M ÊU TẢ XU ƢỚNG CHUYỂN ỔI TỪ LỜ ỐI THO I TRONG
VĂN ẢN TRUYỆN KỂ VĂN Ọ SAN
ỐI THO I TRONG PHIM
TRUYỆN ỆN ẢNH
Khảo sát trong 465 lời đối thoại này, chúng tôi thấy có những lời đối thoại
trong VBTKVH nguồn được chuyển nguyên vẹn sang PTĐA chuyển thể nhưng
cũng có những lời đối thoại trong VBTKVH nguồn khi chuyển sang PTĐA
chuyển thể thì được biến đổi ở những mức độ khác nhau. Kết quả cụ thể như sau:
STT
ác xu hƣớng chuyển đổi lời đối
Số trƣờng hợp Tỉ lệ (%)
thoại từ V TKV sang PT A
1 Chuyển nguyên vẹn lời đối thoại
27

hoặc biểu hiện những thông tin-ý nghĩa bổ sung nào đó.
3.2.2.3. Tách một lời đối thoại thành hai, ba
Có những lời đối thoại trong VBTKVH khi được vay mượn vào PTĐA đã
được tách làm hai, ba lời đối thoại (hai, ba lượt lời) của cùng nhân vật đó hoặc
của nhân vật đó và nhân vật khác.
3.2.2.4. Mở rộng lời đối thoại
Mở rộng lời đối thoại là việc bổ sung thêm câu từ cho lời đối thoại, làm cho
lời đối thoại ở PTĐA chuyển thể dài hơn so với lời đối thoại ở VBTKVH nguồn.
3.2.2.5. Rút gọn lời đối thoại
Rút gọn lời đối thoại là làm cho lời đối thoại được vay mượn vào PTĐA
chuyển thể ngắn hơn so với lời đối thoại gốc trong VBTKVH nguồn. Việc rút
gọn đó có thể làm “hao hụt” hoặc biến đổi một phần lượng thông tin, ý nghĩa
của lời đối thoại gốc trong VBTKVH.
3.2.2.6. Thay đổi một số biểu thức ngôn ngữ kéo theo thay đổi một phần
thông tin - ý nghĩa lời đối thoại
Chuyển đổi từ lời đối thoại trong VBTKVH sang PTĐA chuyển thể nhưng
có thay đổi một số từ ngữ (kéo theo thay đổi một phần thông tin-ý nghĩa của lời
đối thoại) là xu hướng khá phổ biến. Theo thống kê của chúng tôi, số lời đối thoại
được chuyển đổi theo xu hướng này là 135 trường hợp.
Tóm lại, từ lời đối thoại trong VBTKVH đến lời đối thoại trong PTĐA
chuyển thể là một quá trình chuyển đổi, biến đổi ở nhiều biểu hiện và mức độ
khác nhau, có khi chỉ là những biến đổi rất nhỏ (chỉ thay đổi một từ) nhưng
cũng có khi là sự sắp xếp, thay đổi lại cả một lời đối thoại dài, làm biến đổi ý
nghĩa của cả lời đối thoại đó.
3.3. M T SỐ KIẾN GIẢI VỀ XU ƢỚNG CHUYỂN ỔI, BIẾN ỔI
LỜ ỐI THO I
3.3.1. Những bất tƣơng đồng ở nhân vật và ngữ cảnh giao tiếp
3.3.2.1. Sự bất tương đồng ở nhân vật giao tiếp trong VBTKVH nguồn
và trong PTĐA chuyển thể tương ứng
a. Những biến đổi về số lượng nhân vật

ngữ điện ảnh
Nếu ngôn từ trong lời đối thoại ở VBTKVH tự mình phải mang tất cả sắc
thái nghĩa thì ngôn từ trong đối thoại ở PTĐA luôn có sự “tương hỗ” biểu đạt
của hình ảnh về các yếu tố phi lời. Các yếu tố phi lời (các tín hiệu phi lời) theo
đó đóng vai trò nhất định trong việc lí giải nghĩa của lời nói. Nhiều khi chính
những yếu tố phi lời mới giúp các nhân vật giao tiếp hiểu đúng lời của nhau.
Thậm chí có những tình huống đối thoại, lời đối thoại sẽ trở nên không cần thiết
bằng những biểu thị của ánh mắt, nét mặt.
Trong PTĐA, chức năng thông tin của một lời đối thoại có khi trở nên
không cần thiết khi nội dung thông tin đó đã có ở hình ảnh đi cùng do đó, lời
đối thoại phải biến đổi.


21
Trong VBTKVH, mức độ quan trọng và tỉ lệ nhiều ít của lời kể đơn thoại
và đối thoại dường như là vấn đề không được đưa ra xem xét, cân nhắc như một
nguyên tắc trong sử dụng. Trong ngôn ngữ tự sự điện ảnh, hình ảnh động được
xác định là phương tiện biểu hiện đặc trưng và quan trọng nhất, còn âm thanh
(âm nhạc, tiếng động và lời đối thoại) chỉ là phương tiện hỗ trợ, là thứ yếu.
Những gì có thể thể hiện được bằng hình ảnh thì nhân vật sẽ không phải (và
không được) lên tiếng.
3.3.2.2. Sự khác biệt về hình thức hiện diện của ngôn ngữ đối thoại
trong VBTKVH và trong PTĐA
Hiện diện trong VBTKVH ở dạng ngôn ngữ viết, lời đối thoại không có
các yếu tố kèm lời như ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài, đỉnh giọng, âm
sắc v.v… Các yếu tố góp phần quan trọng vào sự biểu cảm của lời nói này nếu
nhà văn muốn thông tin đến người đọc thì thường phải dùng các lời kể đơn
thoại miêu tả (thoại dẫn) để chỉ dẫn, định hướng cho người đọc hình dung về
các yếu tố kèm lời trong lời đối thoại của các nhân vật. Đối thoại trong PTĐA
hiện diện ở dạng ngôn ngữ nói và “Không có một yếu tố đoạn tính nào được

Tiểu kết
Các lời đối thoại khi được chuyển từ VBTKVH sang PTĐA, có thể chúng
được giữ nguyên vẹn (số lượng không nhiều) nhưng cũng có thể được biến đổi
(thay đổi chủ thể phát ngôn, gộp hoặc ba lời đối thoại thành một, tách một lời
đối thoại thành hai hoặc ba, mở rộng lời đối thoại, rút gọn lời đối thoại, thay đổi
một số từ ngữ kéo theo thay đổi một phần thông tin – ý nghĩa của lời đối thoại).
Những sự bất tương đồng về mã ngôn ngữ (ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ
điện ảnh), bất tương đồng về mã văn bản (mã văn bản truyện ngắn khác mã văn
bản tiểu thuyết và khác mã văn bản phim truyện điện ảnh), bất tương đồng về
chủ thể giao tiếp - chủ thể sáng tạo (nhà văn, nhà làm phim) đã tác động sâu sắc
đến sự biến đổi về số lượng lời đối thoại, biến đối kết cấu cuộc đối thoại, biến
đổi về từ ngữ, cách diễn đạt trong lời đối thoại… và theo đó chi phối đến sự biến
đổi ý nghĩa của lời đối thoại trong quá trình chuyển đổi từ đối thoại trong
VBTKVH sang PTĐA.
KẾT LUẬN
1. Hiện tượng chuyển thể VBTKVH sang PTĐA diễn ra khá phổ biến,
minh chứng sinh động cho mối quan hệ gần gũi giữa hai loại hình nghệ thuật.
Do vậy, hiện tượng này thu hút sự quan của nhiều nhà nghiên cứu những mong
làm rõ mối quan hệ đặc biệt đó. Nghiên cứu hiện tượng chuyển thể từ
VBTKVH sang PTĐA ở phương diện ngôn ngữ (sự chuyển đổi từ ngôn ngữ
văn học sang ngôn ngữ điện ảnh), chúng tôi đã vận dụng mô hình giao tiếp,
xem xét sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ điện ảnh trong sự
chuyển tiếp của hai hoạt động giao tiếp: giao tiếp văn học và giao tiếp điện ảnh.
Hướng nghiên cứu này giúp xem xét sự chuyển đổi từ ngôn ngữ văn học sang
ngôn ngữ điện ảnh trong sự đối chiếu ở trạng thái hành chức, nhờ đó có thể vừa
làm rõ được những phương diện nội tại của mỗi hệ thống ngôn ngữ vừa làm rõ


23
được những tác động của các yếu tố khác trong hệ thống hoạt động giao tiếp

nguồn. Và cũng chính trong sự xác định, phân tích các cơ sở của những xu
hướng chuyển đổi, biến đổi khi tín hiệu biểu tượng và ngôn ngữ đối thoại, luận
án đã gián tiếp làm rõ được một cách toàn diện cơ cấu thành phần, đặc trưng, cơ
chế lập mã, giải mã và các mối quan hệ tương tác trong trong hệ thống giao tiếp
của (mã) ngôn ngữ văn học và (mã) ngôn ngữ điện ảnh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status